Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Xem chi tiết

Đây là lưu ý tối quan trọng cho các bạn học sinh 12 nhé! Các bạn chú ý hí!

Ẩn danh
Xem chi tiết

Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

“Bước đến đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan: chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.

Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.

Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút.

Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện: chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa.

Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.

Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả.

Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.

Qua bài thơ “Qua Đèo Ngang” ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.

Bạn tham khảo nhé!

Ẩn danh
Xem chi tiết

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Câu 2. Đặc trưng thể loại là số câu ít, mỗi câu 7 chữ, kết cấu chặt chẽ, hàm súc, giàu hình ảnh, sử dụng ẩn dụ để biểu đạt nội dung sâu sắc về con người và xã hội

Câu 3. Thành ngữ bảy nổi ba chìm, tác dụng là diễn tả số phận lênh đênh, vất vả, nhiều biến động của người phụ nữ, làm tăng sức gợi hình và cảm xúc cho bài thơ

Câu 4. Qua bài thơ em thấy người phụ nữ trong xã hội cũ có thân phận nhỏ bé, phụ thuộc, bị chi phối bởi người khác, cuộc đời nhiều bất hạnh nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp và lòng thủy chung

Câu 5. Em đồng tình vì bài thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ mà còn phản ánh sự bất công của xã hội phong kiến khi khiến họ không được làm chủ cuộc đời, qua đó thể hiện thái độ phê phán xã hội và sự cảm thông sâu sắc của tác giả

Lan Hương Dương
Xem chi tiết

Nhan đề Bố tôi rất ngắn gọn, mộc mạc, bình dị nhưng lại gợi nhiều cảm xúc và hàm chứa ý nghĩa sâu sắc.

Trước hết, nhan đề gọi trực tiếp nhân vật trung tâm của tác phẩm: “bố”. Đây không chỉ là cách xưng hô thân thuộc trong gia đình mà còn gợi lên hình ảnh người cha gần gũi, thân yêu, gắn bó sâu nặng với đứa con. Từ “bố” khiến câu chuyện ngay từ đầu đã mang sắc thái ấm áp, đời thường, chân thành chứ không hề xa cách hay trang trọng.

Đặc biệt, từ “tôi” trong nhan đề cho thấy câu chuyện được nhìn từ điểm nhìn của người con. Nhờ vậy, hình ảnh người bố hiện lên không phải qua sự miêu tả khách quan bên ngoài mà qua cảm nhận, ký ức, tình yêu thương và sự quan sát rất riêng của con dành cho cha. Chính điều đó tạo nên chất trữ tình, sự chân thực và sức lay động cho tác phẩm. Người đọc không chỉ thấy “một người bố” nói chung mà là “bố tôi” – một con người rất riêng, rất cụ thể, rất thân thiết trong thế giới tuổi thơ của người kể chuyện.

Nhan đề còn thể hiện rõ chủ đề của truyện: ca ngợi tình phụ tử, sự hi sinh thầm lặng, vẻ đẹp bình dị mà lớn lao của người cha trong đời sống hằng ngày. Không dùng những từ ngữ cầu kì, nhan đề chỉ gồm hai tiếng đơn sơ nhưng lại mở ra cả một thế giới tình cảm gia đình sâu đậm. Sự giản dị ấy phù hợp với phong cách viết nhẹ nhàng, trong trẻo và giàu cảm xúc của Nguyễn Ngọc Thuần.

Ngoài ra, nhan đề Bố tôi còn có sức gợi rộng. Khi đọc nhan đề, người đọc dễ liên tưởng đến chính người cha của mình, từ đó tạo nên sự đồng cảm tự nhiên. Vì vậy, câu chuyện tuy viết về một người bố cụ thể nhưng ý nghĩa lại vượt ra ngoài phạm vi cá nhân, chạm đến tình cảm chung của nhiều người về cha, về gia đình, về tuổi thơ.

Tóm lại, nhan đề Bố tôi ngắn gọn mà giàu ý nghĩa. Nó vừa xác định nhân vật trung tâm, điểm nhìn trần thuật, vừa thể hiện chủ đề tình cha con thiêng liêng, đồng thời tạo giọng điệu gần gũi, xúc động cho toàn bộ tác phẩm.

Lê Vũ Thịnh
Xem chi tiết
Lê Vũ Thịnh
12 tháng 3 lúc 10:46

1) Thị Vải

2) Nho Quế

3) Cửu Long

4) Thu Bồn

5) Vàm Cỏ

Ẩn danh
Xem chi tiết
Gia Hân :)
10 tháng 3 lúc 18:29

:))

Xem chi tiết
Kết Bạn Nha
Xem chi tiết
Ẩn danh
Xem chi tiết
Minh Phương
1 tháng 3 lúc 21:50

Không cần lùi đầu dòng nhé, chỉ lùi đầu dòng khi bắt đầu đoạn mới, nếu xuống dòng vì hết hàng thì viết sát lề như bình thường.