Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Xem chi tiết

Đây là lưu ý tối quan trọng cho các bạn học sinh 12 nhé! Các bạn chú ý hí!

LVnHAnh2012
Xem chi tiết

Câu 1.
a) Vì tam giác ABC vuông tại A nên ∠A = 90°, AH ⟂ BC nên ∠AHB = 90°
Xét ΔABC và ΔHBA có
∠ABC chung
∠A = ∠AHB = 90°
⇒ ΔABC ~ ΔHBA

Từ đồng dạng
AB/BC = BH/AB
⇒ AB^2 = BC.BH

b) AD là phân giác nên D ∈ AC, E ∈ AH
Gọi I là trung điểm ED

Xét đường tròn đường kính AB thì ∠AEB = 90° ⇒ E thuộc đường tròn đường kính AB
Suy ra EA.EH = EB.EI (hệ thức về lực của điểm E đối với đường tròn qua A, B, H)

Vậy EI.EB = EH.EA

a) 4x - 20 = 0

<=> 4x = 20

=> x = 5

b) \(\frac{x+1}{3}=\frac{2x+5}{5}\)

=> \(5\left(x+1\right)=3\left(2x+5\right)\)

<=> 5x + 5 = 6x + 15

=> x = -10

Ẩn danh
Xem chi tiết

Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

“Bước đến đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan: chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.

Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người:

“Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”

Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.

Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút.

Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện: chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa.

Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.

Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả.

Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.

Qua bài thơ “Qua Đèo Ngang” ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.

Bạn tham khảo nhé!

Ẩn danh
Xem chi tiết

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt

Câu 2. Đặc trưng thể loại là số câu ít, mỗi câu 7 chữ, kết cấu chặt chẽ, hàm súc, giàu hình ảnh, sử dụng ẩn dụ để biểu đạt nội dung sâu sắc về con người và xã hội

Câu 3. Thành ngữ bảy nổi ba chìm, tác dụng là diễn tả số phận lênh đênh, vất vả, nhiều biến động của người phụ nữ, làm tăng sức gợi hình và cảm xúc cho bài thơ

Câu 4. Qua bài thơ em thấy người phụ nữ trong xã hội cũ có thân phận nhỏ bé, phụ thuộc, bị chi phối bởi người khác, cuộc đời nhiều bất hạnh nhưng vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp và lòng thủy chung

Câu 5. Em đồng tình vì bài thơ không chỉ ca ngợi vẻ đẹp và phẩm chất của người phụ nữ mà còn phản ánh sự bất công của xã hội phong kiến khi khiến họ không được làm chủ cuộc đời, qua đó thể hiện thái độ phê phán xã hội và sự cảm thông sâu sắc của tác giả

MUN PHẠM
Xem chi tiết

Câu 38. Đất feralit, thích hợp trồng cây công nghiệp lâu năm như cà phê, cao su, chè, cây ăn quả nhiệt đới
Câu 39. Đất phù sa, màu mỡ, thích hợp trồng lúa, hoa màu, cây ngắn ngày
Câu 40. Đúng
Câu 41. Sai
Câu 42. Sai
Câu 43. Đúng

Ẩn danh
Xem chi tiết

Đặt t = √x, t ≥ 0, x = t^2

Khi đó
B = ( t/(2 + t) + (t^2 + 4)/(4 − t^2) ) : ( t^2/(t^2 − 2t) )

Ta có
4 − t^2 = (2 − t)(2 + t)

⇒ (t^2 + 4)/(4 − t^2) = (t^2 + 4)/[(2 − t)(2 + t)]

Quy đồng
t/(2 + t) = t(2 − t)/[(2 + t)(2 − t)]

⇒ tổng
= [t(2 − t) + (t^2 + 4)] /[(2 + t)(2 − t)]
= (2t − t^2 + t^2 + 4)/[(2 + t)(2 − t)]
= (2t + 4)/[(2 + t)(2 − t)]
= 2(t + 2)/[(2 + t)(2 − t)]

⇒ B = [2(t + 2)/((2 + t)(2 − t))] : [t^2/(t(t − 2))]

= [2(t + 2)/((2 + t)(2 − t))] × [(t(t − 2))/t^2]

Rút gọn
(t + 2) = (2 + t), (t − 2) = −(2 − t)

⇒ B = 2 × [t(t − 2)] / [t^2(2 − t)]
= 2 × [t(−(2 − t))]/[t^2(2 − t)]
= −2t / t^2 = −2/t

⇒ B = −2/√x

Điều kiện x > 0, x ≠ 4


Ẩn danh
Xem chi tiết

Văn bản trên trang chiếu thường ngắn gọn, cô đọng, chỉ nêu ý chính và thường được trình bày nổi bật hơn bằng cỡ chữ lớn, màu sắc rõ, dễ nhìn. Nó không dài và chi tiết như văn bản trong trang tài liệu thông thường. Lý do là vì trang chiếu dùng để trình bày trước người xem trong thời gian ngắn, người xem cần nhìn nhanh và hiểu ngay nội dung chính. Nếu viết quá dài như tài liệu thông thường thì chữ sẽ nhỏ, khó đọc và người nghe cũng khó theo dõi. Còn văn bản trong tài liệu thông thường dùng để đọc kĩ nên có thể trình bày đầy đủ, chi tiết hơn.

Ẩn danh
Xem chi tiết

Chương trình là tập hợp các câu lệnh được viết theo một ngôn ngữ lập trình để điều khiển máy tính thực hiện một công việc nào đó. Mô tả công việc dưới dạng thuật toán là trình bày công việc đó thành một dãy các bước rõ ràng, theo thứ tự xác định, để từ dữ liệu ban đầu có thể thu được kết quả mong muốn.

Lan Hương Dương
Xem chi tiết

Hệ thống vòi nước tự động trong nhà vệ sinh công cộng thường sử dụng mô đun cảm biến hồng ngoại, cảm biến này phát ra tia hồng ngoại và nhận tín hiệu phản xạ khi có tay đưa vào gần vòi, khi tay xuất hiện tín hiệu phản xạ thay đổi thì bộ điều khiển mở van cho nước chảy, khi rút tay ra tín hiệu phản xạ mất đi thì hệ thống tự động đóng van và ngắt nước.

Ẩn danh
Xem chi tiết

Bắt đầu
Đặt bước đi = a
Đặt số lần lặp = 4
i = 1
Nếu i ≤ 4 thì thực hiện
Đi thẳng a
Quay phải 90 độ
i = i + 1
Quay lại kiểm tra i ≤ 4
Nếu i > 4 thì kết thúc
Kết thúc