a: \(4x^2-20x+25=49\)
=>\(4x^2-20x+25-49=0\)
=>\(4x^2-20x-24=0\)
=>\(x^2-5x-6=0\)
=>(x-6)(x+1)=0
=>\(\left[\begin{array}{l}x-6=0\\ x+1=0\end{array}\right.=>\left[\begin{array}{l}x=6\\ x=-1\end{array}\right.\)
b: \(x^2\left(x-3\right)+3-x=0\)
=>\(x^2\left(x-3\right)-\left(x-3\right)=0\)
=>\(\left(x-3\right)\left(x^2-1\right)=0\)
=>(x-3)(x+1)(x-1)=0
=>\(\left[\begin{array}{l}x-3=0\\ x+1=0\\ x-1=0\end{array}\right.\Rightarrow\left[\begin{array}{l}x=3\\ x=-1\\ x=1\end{array}\right.\)
c: \(\left(x+2\right)\left(x^2-2x+4\right)-x\left(x-1\right)^2=2x^2\)
=>\(x^3+8-x\left(x^2-2x+1\right)=2x^2\)
=>\(x^3+8-x^3+2x^2-x=2x^2\)
=>8-x=0
=>x=8
Ta nhận thấy vế trái là một bình phương hoàn hảo:
Phương thức return to:
Do đó, có hai trường hợp lệ:
Chuyển 49 sang về trái:
Chia cả hai vế cho 4:
Sử dụng công thức hoặc phân tích thành phần tử:
Viết lại phương thức:
Đặt nhân tử chung
Phân tích
Do đó, có ba trường hợp lý: