Bài 1 : Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nguyễn Việt Hoàng
6 tháng 5 lúc 22:00

undefined

Bình luận (1)

Tăng trưởng kinh tế nhanh ở Việt Nam diễn ra trong suốt thập niên 90 và những năm đầu thập niên 2000 đã đem đến những kết quả ngoạn mục về giảm nghèo. Tuy nhiên trong giai đoạn này, sự giảm nghèo của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số diễn ra với tốc độ chậm hơn. Nghèo, tuổi thọ, tình trạng dinh dưỡng và những chỉ số đo mức sống khác của nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số vẫn còn ở mức thấp dù có rất nhiều chính sách đã được đưa vào thực hiện nhằm hỗ trợ các nhóm dân tộc này. Ở Việt Nam có 54 nhóm dân tộc sinh sống, trong đó người Kinh chiếm tới gần 87%. Trừ người Hoa, người Khơ-me và người Chăm, 50 nhóm dân tộc còn lại chủ yếu sinh sống ở vùng nông thôn hoặc miền núi xa xôi và chịu những bất lợi về xã hội và kinh tế ở những mức độ khác nhau. Tỉ lệ nghèo của nhóm đồng bào các dân tộc thiểu số cao hơn 4,5 lần so với đồng bào người Kinh và Hoa. Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số cũng có tỉ lệ suy dinh dưỡng, mù chữ và bệnh tật cao hơn. Tuy chỉ chiếm 1/8 số dân cả nước, song các dân tộc thiểu số chiếm đến 40% tổng số người nghèo năm 2004. Một số cơ quan chính phủ dự báo rằng đến năm 2010, đồng bào dân tộc thiểu số sẽ chiếm hơn một nửa số người nghèo của Việt Nam.

Bình luận (0)
Phương Dung
17 tháng 12 2020 lúc 22:43
Có nhiều dân tộc là do sự lai tạo giữa 4 đại chủng loài người ,họ di cư đến vùng Đông Dương sinh sống ,Việt Nam nằm trong vùng này và là nơi rất lí tưởng bởi có điều kiện sinh sống rất tốt nên có nhiều dân tộc chọn sinh sống.    
Bình luận (0)
hoàng minh trọng
17 tháng 11 2020 lúc 21:16

cs đáp án r

Bình luận (0)
Trịnh Long
1 tháng 10 2020 lúc 20:31

Công thức tính tỉ lệ dân số phụ thuộc

% Nhóm tuổi dưới lao động + % Nhóm tuổi trên lao động = Tỉ lệ dân số phụ thuộc.

Nhóm tuổi dưới lao động 0 - 14 tuổi

Nhóm trên tuổi lao động > 59 tuổi

Bình luận (0)
Trịnh Long
14 tháng 9 2020 lúc 22:27

Tham khảo

1. Phong tục tập quán

Phong tục tập quán là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự đặc sắc cũng như độc đáo cho văn hóa dân tộc Tày. Đã từ bao đời, đồng bào dân tộc Tày đã cư trú tập trung thành bản, thường ở ven các thung lũng, triền núi thấp trên một miền thượng du, mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà.

Ngôi nhà truyền thống của người Tày là nhà sàn, họ thường chọn những loại gỗ quý để dựng nhà, nhà có 2 hoặc 4 mái lợp ngói, tranh hoặc lá cọ. Điểm khác biệt và độc nhất của dân tộc tày đó chính là tục kết hôn trong cùng dòng họ. Các cặp nữ sẽ được quyền tự do tìm hiểu trước khi tiến tới hôn nhân nhưng có được phép kết hôn hay không là tùy theo theo quyết định của hai gia đình.

Theo phong tục truyền thống, hôn lễ sẽ được tiến hành qua các nghi thức như lễ dạm, lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ báo ngày cưới, lễ cưới, lễ đón dâu, đưa dâu. Bên cạnh đó, dân tộc Tày còn có những phong tục tập quán khác như lễ tảo mộ, tang lễ.

2. Ẩm thực

Theo văn hóa dân tộc Tày, truyền thống làm ruộng nước, thâm canh, áp dụng các biện pháp thủy lợi như đào mương, bắc máng, đắp phai, làm cọn lấy nước tưới ruộng đã trở nên quen thuộc và là một phần không thể thiếu trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người Tày.

Nhờ sự gắn bó với cuộc sống thiên nhiên, vì vậy nguồn lương thực, thực phẩm chủ yếu của người Tày thường là những sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh như lúa, ngô, khoai, sắn, các loại rau và quả lê, táo, mận, quýt, hồng. Bên cạnh đó, các món ăn trong bữa cơm gia đình của đồng Tày rất phong phú và đa dạng.

Người Tày ưa chuộng những món ăn có vị chua như món thịt trâu xào măng chua, thịt lợn chua, cá ruộng ướp chua, canh cá lá chua và các loại quả có vị chua như khế, sấu, trám, tai chua đều được họ sử dụng trong các món ăn.

3. Trang phục

Khi nhắc đến những nét đặc sắc và ấn tượng của văn hóa dân tộc Tày thì không thể nào bỏ qua yếu tố về trang phục. Nếu như những bộ trang phục của người Mường được thiết kế cầu kỳ với nhiều họa tiết được thêu dệt tỉ mỉ thì trang phục của người Tày lại có vẻ giản đơn hơn.

Tuy vậy nhưng những bộ y phục của đồng bào dân tộc này luôn tạo ra nét riêng biệt và mang lại cho người mặc vẻ đẹp thuần khiết, giản dị. Nhìn chung trang phục cổ truyền của người Tày thường được làm từ vải sợi bông tự dệt, được nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí cầu kỳ. Người dân tộc sẽ đeo phụ kiện để trang trí là các đồ trang sức làm từ bạc và đồng như khuyên tai, kiềng, lắc tay, xà tích.

Ngoài ra còn có thắt lưng, giày vải có quai, khăn vấn và khăn mỏ quạ màu chàm đồng nhất. Trang phục của người dân tộc Tày có thể được coi là đơn nhất trong những bộ trang phục của 54 thành phần dân tộc khác nhau của Việt Nam, tuy thế nó lại chứa đựng những ý nghĩa tốt đẹp và có giá trị văn hóa.

Người Tày luôn có một sự tự hào to lớn về những nét văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, kết tinh nên những giá trị nhân văn cao đẹp. Ngoài ra, dân tộc Tày còn gây ấn tượng với nền ẩm thực vô cùng đặc sắc và hấp dẫn. Hy vọng bài viết trên sẽ giúp bạn hiểu thêm về văn hóa dân tộc Tày nhé.

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN