Đề ôn tập chương

Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Nya arigatou~
Xem chi tiết
Lâm Hiến Chương
20 tháng 10 2017 lúc 10:12

-Nguyên nhân gãy xương:

+Tai nạn giao thông do vi phạm an toàn giao thông.

+Tai nạn lao động do hoạt động mạnh, va chạm như: Mang vác vật quá sức chịu đựng của xương.

+Té, ngã do các hoạt động thể thao như chạy, nhảy,...

+Chơi đùa quá mức.

-Vì mỗi lứa tuổi khác nhau, xương có cấu tạo về thành phần khác nhau:
+Ở người lớn, lượng cốt giao giảm trong khi muối canxi lại nhiều, nên xương giòn, dễ gẫy.
+Lứa tuổi thanh thiếu niên, lượng cốt giao nhiều nên xương đàn hồi, dẻo dai, chắc khỏe hơn.

-Để bảo vệ xương khi tham gia giao thông em cần lưu ý:

+Đội mủ bảo hiểm.

+Thực hiện đúng luật an toàn giao thông.

+Chú ý nhìn kĩ đường, quan sát khi qua đường.

Erza Scarlet
Xem chi tiết
Nguyễn Hoàng Long
20 tháng 10 2017 lúc 20:22

- Cơ chế truyền máu : các nhóm máu cùng loại có thể truyền trực tiếp cho nhau, nhóm máu trong máu có kháng nguyên A không được truyền cho nhóm máu trong huyết tương có alpha, tương tự nhóm trong máu có kháng nguyên B không được truyền cho nhóm trong huyết tương có beta; bởi vì nếu A trong máu người cho và alpha trong máu người nhận gặp nhau cũng như B trong máu của người cho với beta trong máu của người nhận gặp nhau sẽ gây ra sự kết dính hồng cầu do alpha và beta trong máu của người nhận dính với A và B của người cho, dấn đến tai biến chết người.

- Nhóm O truyền được cho nhóm A do trong O có cả alpha và beta , nhóm A có kháng nguyên A nhưng không gây kết dính hồng cầu bời alpha và beta là trong máu của người cho nên sẽ không kết dính với A trong máu người nhận.

- Nhóm A không truyền được cho nhóm B do trong A có kháng nguyên A, trong nhóm B có alpha nên khi được truyền thì alpha trong nhóm B sẽ kết dính với A trong nhóm A dẫn đến sự kết dính hồng cầu...

Ngô An
Xem chi tiết
Vũ Kiều Trang
21 tháng 10 2017 lúc 11:26

Câu1:Hoạt động thể lực là bất kể một hoạt động nào có sử dụng hệ cơ.

Khi các tơ cơ mảnh xâm nhập vào vùng phân bố của các tơ cơ dày sẽ khiến tơ cơ rút ngắn về chiều dài và phình to tạo nên sự co cơ.

Cơ bắp là một mô mềm của động vật. Tế bào cơ bắp có chứa protein sợi có thể trượt qua nhau, nó tạo ra một lực co thay đổi cả chiều dài và hình dáng của tế bào, hoạt động này sản xuất ra lực gây chuyển động. Nó chịu trách nhiệm duy trì và thay đổi vận động hoặc duy trì tư thế cơ thể.

Câu2:

Là hiện tượng mức độ co cơ giảm dần hoặc ngừng hẳn do làm việc quá sức

Lượng O2 trong cơ thể sẽ bị 'yếm khí' khi không được cung cấp đủ lúc đó lượng Axit lactic sẽ tăng dẫn đến sự mỏi cơ

Biện pháp phòng tránh

-Lao động vừa sức

-Thường xuyên tập luyện thể dục thể thao

-Để lao động có năng suất cao cần làm việc nhịp nhàng, vừa sức đảm bảo khối lượng và nhịp co cơ thích hợp.

-Cần có tinh thần thoải mái vui vẻ.


-Việc rèn luyện thân thể thường xuyên thông qua lao động, thể dục thể thao sẽ làm tăng dần khả năng co cơ và sức chịu đựng của cơ, đây cũng là biện pháp nâng cao năng suất lao động


- Sau hoạt động chạy (khi tham gia thể thao) nên đi bộ từ từ đến khi hô hấp trở lại bình thường mới nghỉ ngơi và xoa bóp.

Câu 3:

Một cơ thể khỏe mạnh đồng nghĩa với các bộ phận cơ thể cũng khỏe mạnh.

Trả lời:
BMI (Body Mass Index) chính là chỉ số cơ thể được các bác sĩ và các chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị béo phì, thừa cân hay quá gầy hay không. Thông thường, người ta dùng để tính toán mức độ béo phì .

Nhược điểm duy nhất của chỉ số BMI là nó không thể tính được lượng chất béo trong cơ thể - yếu tố tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai.

Người lớn và BMI

Chỉ số BMI của bạn được tính như sau:

BMI = (trọng lượng cơ thể)/ (chiều cao x chiều cao).

- trọng lượng cơ thể: tính bằng kg;
- chiều cao x chiều cao: tính bằng m

Hoặc có thể dựa trên 1 số dấu hiệu cho thấy cơ thể khỏe mạnh

1.Mát tóc mềm và mượt

2. Móng tay, móng chân khỏe

3. Răng và lợi khỏe mạnh

4. Vòng eo thon5. "Sản phẩm đầu ra" bình thường

5.Nhịp tim đạt 60-80 nhịp một phút

(vân vân và vân vân)

Câu 4:

Hành vi sức khỏe là những hành vi của con người có ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến sức khỏe của chính bản thân họ, của những người xung quanh và của cộng đồng. Theo ảnh hưởng của hành vi đến sức khỏe.Ta có:

Những hành vi có lợi cho sức khỏe: Đó là các hành vi lành mạnh được người dân thực hành để phòng chống bệnh tật, tai nạn, bảo vệ và nâng cao sức khỏe hay các hành động mà một người thực hiện để làm cho họ và những người khác khỏe mạnh và phòng các bệnh tật, ví dụ như khám thai định kỳ, tiêm chủng cho trẻ, tập thể dục, dinh dưỡng hợp lý, nuôi con bằng sữa mẹ, sử dụng hố xí hợp vệ sinh, thực hành vệ sinh môi trường, giảm các hành vi làm tổn hại sức khỏe như: hút thuốc lá, nuôi con bằng sữa chai, uống rượu quá nhiều....

Những hành vi có hại cho sức khỏe: Là các hành vi có nguy cơ hoặc có tác động xấu đến sức khỏe do một cá nhân, một nhóm người hay có thể cả một cộng đồng thực hành. Một số hành vi có hại cho sức khỏe do cá nhân và cộng đồng thực hành đã lâu và có thể trở thành những thói quen, phong tục tập quán gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của nhiều người. Ví dụ như sử dụng phân tươi bón ruộng, không ăn chín uống chín, hút thuốc lá, lạm dụng và nghiện rượu, quan hệ tình dục bừa bãi thiếu bảo vệ,…

Câu 5

Viễn thị là một tật liên quan đến khúc xạ ở mắt. Người bị viễn thị có thể nhìn bình thường đối với những mục tiêu ở cự ly xa, song không nhìn rõ những mục tiêu ở cự ly gần.

Nguyên nhân của viễn thị là giác mạc dẹt quá hoặc trục trước - sau của cầu mắt ngắn quá khiến cho hình ảnh không hội tụ ở đúng võng mạc như mắt bình thường mà lại hội tụ ở phía sau võng mạc.

HOẶC

Viễn thị có thể do:
 Mắt ngắn hơn bình thường (gọi là viễn thị do trục)
 Giác mạc và/hoặc thể thủy tinh dẹt quá (không đủ cong) do đó công suất quá thấp (gọi là viễn thị do khúc xạ)

Một thấu kính lồi phù hợp có thể giúp điều chỉnh điểm hội tụ về đúng võng mạc.

Cận thị là một tật khúc xạ ở mắt. Người bị cận thị sẽ gặp khó khăn trong việc nhìn và ghi nhận các chi tiết hình ảnh ở xa, phải cố gắng điều tiết để thấy rõ (bộc lộ qua động tác nheo mắt). Đây là một tật khúc xạ thường gặp nhất, đặc biệt là ở lứa tuổi đi học, thanh thiếu niên.

Nguyên nhân của tật cận thị là do: Mất cân bằng giữa chiều dài trục nhãn cầu và công suất khúc xạ của mắt:

Thường nhất là do trục nhãn cầu dài (làm khoảng cách đến võng mạc dài ra, ảnh không rơi được vào võng mạc) Thay đổi cấu trúc, độ cong của nhãn cầu như trong bệnh giác mạc hình chóp, thể thủy tinh cong trong thể thủy tinh chóp trước và chóp sau.

Nguyên nhân được cho rằng dẫn đến tật cận thị là:

Đọc sách, xem ti vi, sử dụng vi tính và các thiết bị điện tử quá nhiều, sử dụng nơi thiếu ánh sáng, làm mắt phải luôn điều tiết. Tư thế học tập, ngồi đọc ngồi viết không đúng, bàn ghế không đúng chuẩn học đường.

Điều trị:Tật cận thị thường không cần phẫu thuật hay can thiệp nhiều, điều chỉnh kính là phương pháp an toàn và hiệu quả nhất cho trường hợp này. Kính đeo cho người cận thị là thấu kính phân kì, chọn kính có độ (diop) thấp nhất cho thị lực tối đa. Không nên đeo quá liên tục và kiểm tra định kỳ mỗi 3 - 6 tháng để tránh lên độ cận.

Có thể phẫu thuật điều chỉnh như trong phẫu thuật LASIK, trên 25 tuổi, tiến triển của tật cận thị sẽ dừng lại nên có thể cân nhắc các phương pháp tác động nhất là khi việc đeo kính có ảnh hương tới công việc cá nhân.

Loạn thị là một tật về mắt liên quan đến khúc xạ. Ở mắt bình thường, các tia hình ảnh sau khi đi qua giác mạc thì được hội tụ ở một điểm trên võng mạc. Nhưng ở mắt loạn thị, các tia hình ảnh lại được hội tụ ở nhiều điểm trên võng mạc khiến cho người loạn thị thấy hình ảnh nhòe, không rõ. Nguyên nhân của loạn thị là giác mạc có hình dạng bất thường khiến khả năng tập trung ánh sáng của giác mạc bị giảm đi. Loạn thị có thể đi kèm với cận thị thành tật cận loạn, hoặc đi kèm với viễn thị thành tật viễn loạn

ĐIỀU TRỊ:Loạn thị không thể chỉnh bằng kính cầu lồi hoặc kính cầu lõm. Bởi vì khúc xạ của loạn thị không bằng nhau ở tất cả các hướng. Để chỉnh loạn thị, cần phải dùng kính loạn thị. Có 2 loại kính loạn thị – đó là kính trụ và kính cầu-trụ

Nguyên nhân:Mắt có hai phần tập trung hình ảnh - giác mạc và ống kính. Trong một hình mắt hoàn hảo, tập trung vào những yếu tố này có một đường cong như bề mặt của một quả bóng mịn. Giác mạc hoặc ống kính với một bề mặt cong cong (khúc xạ) tất cả ánh sáng đến cùng một cách và tạo ra một hình ảnh rõ ràng vì sự trở lại của võng mạc mắt.

Tuy nhiên, nếu giác mạc hoặc ống kính không đồng đều và uốn cong nhẹ, các tia sáng khúc xạ không đúng, gây ra một lỗi khúc xạ. Loạn thị là một loại lỗi khúc xạ. Trong loạn thị, giác mạc hoặc ống kính cong dốc hơn theo một hướng khác. Khi giác mạc có hình dạng méo mó sẽ có loạn thị giác. Khi ống kính bị bóp méo, có loạn thị thể thủy tinh. Loạn thị có thể gây mờ mắt. Mờ mắt có thể xảy ra nhiều hơn trong một hướng hoặc là theo chiều ngang, chiều dọc hoặc theo đường chéo.

Loạn thị có thể xảy ra kết hợp với các lỗi khác khúc xạ, trong đó bao gồm:

- Cận thị. Điều này xảy ra khi giác mạc cong quá nhiều hoặc mắt dài hơn bình thường. Thay vì tập trung chính xác vào võng mạc, ánh sáng tập trung ở phía trước của võng mạc, kết quả là xuất hiện nhìn mờ cho các đối tượng ở xa.

- Viễn thị. Điều này xảy ra khi giác mạc là cong quá ít hoặc mắt ngắn hơn bình thường. Hiệu ứng này là đối diện của cận thị. Khi mắt đang ở trong một trạng thái thoải mái, ánh sáng tập trung phía sau mắt, làm cho các đối tượng ở gần đó mờ

Trong hầu hết trường hợp, loạn thị là lúc mới sinh. Đôi khi, loạn thị phát triển sau khi một chấn thương mắt, bệnh tật hoặc phẫu thuật. Loạn thị không gây ra hoặc làm nặng hơn bằng cách đọc trong ánh sáng kém, ngồi quá gần với truyền hình hoặc nheo mắt.

Các phòng chống bảo vệ măt và dựa trên thông tin mà mình cung cấp cho bạn nha!!!

Câu6;

Chứng cong vẹo cột sống là tình trạng cột sống bị cong hẳn sang một bên. Mức độ cong của cột sống được đo bằng góc. Góc càng rộng thì nguy cơ chứng cong vẹo cột sống nặng hơn càng cao. Nếu trẻ ở cuối giai đoạn phát triển có cột sống bị cong dưới 30 độ thường không cần phải theo dõi nghiêm ngặt và hiếm khi bị nặng hơn. Nếu cột sống cong trên 50 đến 75 độ, bác sĩ có thể áp dụng liệu pháp mạnh để điều trị.

Cong vẹo cột sống thường bắt đầu khi còn nhỏ và tệ dần khi trưởng thành.

Dấu hiệu:Hầu hết trẻ bị cong vẹo cột sống không có triệu chứng đau nhưng có thể bị gù một bên lưng hoặc có một bên vai cao hơn bên kia khi cúi người về trước. Ngoài ra, hông của trẻ sẽ phát triển không đều và hay dựa vào một bên.

Ở người lớn, đau cột sống là dấu hiệu phổ biến nhất của chứng cong vẹo cột sống nặng. Những dấu hiệu và triệu chứng khác bao gồm: giảm chiều cao, tăng độ nhô lên của xương sườn hoặc thay đổi vòng eo không phải do tăng cân. Vòng eo bụng thay đổi càng nhiều nghĩa là bị cong càng nặng.

Câu 7:

Nguyên nhân gây ra cong vẹo cột sống thường là không xác định được, nhưng có lẽ yếu tố di truyền cũng có tác động ít nhiều. Chứng cong vẹo ở người lớn đa phần do có tật bẩm sinh hiếm gặp như:

Chiều dài của chân không đều nhau; Rối loạn xương sống bẩm sinh; Rối loạn thần kinh

Vũ Kiều Trang
23 tháng 10 2017 lúc 9:51

mình bổ sung thêm câu số 7 nha bạn tại bữa hôm trước mình bận nên chưa giúp được hết cho bạn.Sorry nha....

Câu 7:

Điều trị bệnh cong vẹo cột sống

1.Can thiệp sớm khi phát hiện bệnh cong vẹo cột sống

2.Nẹp cột sống

3.Phẫu thuật chỉnh hình

Hậu quả của bệnh:

Bệnh có thể dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng. Ngoại hình người bệnh mất cân đối, gây mặc cảm, hạn chế hoạt động xã hội. Trường hợp nặng, lồng ngực sẽ bị lép do xương sườn xẹp, chèn ép như tim, phổi. Phổi bị xẹp, giảm dung tích phổi, hạn chế sức thở gây suy hô hấp, dẫn đến suy tim, phù, khó thở. Ở giai đoạn muộn, các cơ quan trong ổ bụng cũng bị chèn ép và có cả các dấu hiệu chèn ép thần kinh. Các trẻ phát hiện vẹo càng sớm thì những biến dạng cột sống và các cơ quan trong cơ thể càng nặng. Trẻ cong vẹo cột sống phát hiện sớm trước 10 tuổi thường tiên lượng nặng, bệnh nhân khó sống qua tuổi 30. Do vậy, cần phải phát hiện và điều trị bệnh càng sớm càng tốt.

Cách phòng chống:

Đảm bảo đúng tư thế ngồi học; khi ngồi, hai bàn chân được đặt ngay ngắn, vững chắc trên sàn, giữa cẳng chân và đùi tạo thành 1 góc là 90o dao động trong khoảng 75-105o, thân thẳng, đầu và cổ hơi ngả về phía trước, hai tay để ngay ngắn trên mặt bàn. Nếu ngồi học sai tư thế không chỉ gây ra cong vẹo cột sống mà có thể dẫn đến những rối loạn cơ xương khác và nguy cơ mắc tật cận thị cao.

Nơi học tập ở trường phải đảm bảo chiếu sáng tự nhiên và chiếu sáng nhân tạo. Ở nhà, ngoài hệ thống chiếu sáng chung, gia đình cũng cần trang bị đèn ở góc học tập cho các em học sinh để đảm bảo ánh sáng tốt hơn; chú trọng thực hiện việc nghỉ giải lao giữa các tiết học.

Học sinh không mang cặp quá nặng, trọng lượng cặp sách không nên vượt quá 15% trọng lượng cơ thể. Cặp phải có 2 quai, khi sử dụng học sinh đeo đều hai vai, tránh đeo lệch về 1 phía.

Đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý, tính đa dạng về giá trị dinh dưỡng của mỗi bữa ăn nhất là các bữa chính. Đặc biệt cần quan tâm đến các thực phẩm có nhiều can xi và vitamin D, đây là các yếu tố giúp cho sự phát triển của xương trong giai đoạn phát triển.

Đảm bảo thời gian ngủ cần thiết theo từng lứa tuổi. Tuổi càng nhỏ, nhu cầu ngủ càng nhiều, cụ thể học sinh từ 7-10 tuổi cần ngủ 11 - 10 giờ; từ 11-14 tuổi thời gian ngủ là 10 - 9 giờ; từ 15-17 tuổi thời gian ngủ là 9 - 8 giờ.

Khám định kỳ phát hiện sớm các trường hợp cong vẹo cột sống để có cách xử trí và phòng bệnh kịp thời. Việc khám phát hiện cong vẹo cột sống định kỳ có tác dụng giúp cho nhà trường, gia đình và bản thân học sinh quan tâm hơn tới sức khỏe và phòng chống cong vẹo cột sống học đường hiệu quả nhất.

Ai thấy hay thì tick cho mình nhé.Cảm ơn nhiều ạ......thanghoaok

thanh
22 tháng 10 2019 lúc 20:02

cơ thể khỏe mạnh là

- thể hiện ổ sư minh mẫn khỏe mạnh từ chính bên trong cơ thể

Khách vãng lai đã xóa
양효민
Xem chi tiết
Vũ Kiều Trang
23 tháng 10 2017 lúc 10:52

Bạch cầu có 3 cơ chế bảo vệ:

+thực bào là hiện tượng các bạch cầu hình thành chân giả bắt và nuốt các vi khuẩn vào trong tế bào rồi tiêu hoá chúng đi. Có 2 loại bạch cầu chủ yếu tham gia thực bào là bạch cầu trung tính và đại thực bào (được phát triển từ bạch cầu mônô). Các đại thực bào có kích thước lớn hơn bạch cầu trung tính nên khả năng thực bào cũng lớn hơn, có khả năng nuốt vào trong tế bào cùng lúc rất nhiều tế bào vi khuẩn và tiêu hoá chúng đi. Các loại bạch cầu ưa axit, bạch cầu ưa kiểm, bạch cầu trung tính dược đặt tên theo tính chất của loại thuốc nhuộm được dùng để nhận biết chúng

- Tế bào limphô B (B là chữ dầu của từ bursa có nghĩa là túi, nơi biệt ỉ oá các tế bào của các tế bào limphô này. Túi này được Fabricius phát hiện ỏ các loài chim, ở động vật có vú. Mặc dù, ở người túi này đã tiêu giảm nhiều các tế bào limphô này vẫn được gắn thêm chữ B). Tế bào B đã chống lại các kháng nguyên bằng cách tiết ra các kháng thể, rồi các kháng thể sẽ gây kết dính các kháng nguyên.

- Tế bào limphô T (T là chữ đầu của từ thymus có nghĩa là tuyến ức, nơi biệt hoá các tế bào này). Tế bào T đã phá huỷ các tế bào cơ thể bị nhiễm vi khuẩn, viruts bằng cách nhận diện và tiếp xúc với chúng (nhờ cơ chế chìa khoá và ổ khoá giữa kháng thể và kháng nguyên), tiết ra các prôtêin đặc hiệu làm tan màng tế bào nhiễm và tế bào bị phá huỷ.

Câu 2:Theo mình nghĩ là do cơ thể con người như các bạn đã học tế bào limphô B có khả năng tiết ra kháng thể để vô hiệu hóa kháng nguyên.Vậy khi vi khuẩn của bệnh thủy đậu hay trái rạ vào trong cơ thể của con người để gây bệnh thì tế bào limpho B này đang tìm loại kháng thể phù hợp để vô hiệu hóa kháng nguyên trên vỏ của con vi khuẩn nên lần đầu bị bệnh cơ thể chúng ta vẫn chưa thể tiết ra đúng loại kháng thể để điều trị được nhưng sau đó,khi tế bào limpho B này tìm ra được loại kháng thể phù hợp để vô hiệu hóa kháng nguyên này rồi nó sẽ ghi nhớ loại kháng thể này có thể điều trị được cho loại kháng nguyên kia.Nên sau này nếu vi khuẩn của bệnh thủy đậu có quay trở lại thì cơ thể hay cụ thể ở đây là tế bào limpho B sẽ tiết ra được đúng loại kháng thể để điều trị bệnh này (mình viết hơi dài) (nhưng câu trả lời thì mình nhớ mang máng cô mình đã nói như thể nên mình trình bày lại như vậy nha)

Câu 3:

SGK Sinh 8 hinh 17.3.jpg

Tim co dãn theo chu kì. Mỗi chu kì gồm ba pha: pha nhĩ co, pha thất co, pha dãn chung. Sự phối hợp hoạt động của các thành phần cấu tạo của tim qua 3 pha làm cho máu được bơm theo một chiều từ tâm nhĩ vào tâm thất và từ tâm thất vào động mạch. - Mỗi chu kì co dãn của tim kéo dài trung bình khoảng 0,8 giây. - Trong mỗi chu kì: + Tâm nhĩ làm việc 0,1s, nghỉ 0,7s. + Tâm thất làm việc 0,3s, nghỉ 0,5s. + Tim nghỉ ngơi hoàn toàn là 0,4s - Trung bình trong mỗi phút diễn ra 75 chu kì co dãn của tim (nhịp tim). Câu 4: Máu từ phổi về tim đến tế bào có màu đỏ thẫm,máu giàu cacbonic.Còn máu từ tế bào về tim đến phổi có màu đỏ tươi,máu giàu oxi Câu 5:

Cơ, còn được gọi là bắp thịt, là một phần của hệ vận động.

Cấu tạo bắp cơ:

-Gồm nhiều bó cơ,mỗi bó cơ gồm nhiều sợi cơ(tế bào cơ )bọc trong màng liên kết

-Hai đầu bắp cơ có gân bám vào xương,giữa phình to là bụng cơ

Cấu tạo tế bào cơ:

-Gồm nhiều đoạn mỗi đoạn là 1 đơn vị cấu trúc giới hạn bởi 2 tấm hình chữ Z

-Sự sắp xếp cơ tơ mảnh và cơ tơ dày ở tế bào cơ tạo nên đĩa sáng và đĩa tối

Mô cơ là một loại mô liên kết trong cơ thể động vật. Mô cơ gồm ba loại: mô cơ vân, mô cơ tim, mô cơ trơn.

Cơ vân, hay còn gọi là cơ vận động có ý thức, thường gắn với xương, tế bào có nhiều nhân, có vân ngang.

Cơ trơn, hay còn gọi là cơ vận động vô thức, tạo nên thành nội quan như dạ dày, ruột, mạch máu, bóng đái... Tế bào cơ trơn có hình thoi đầu nhọn và chỉ có 1 nhân.

Cơ tim, tức là cơ vận động vô thức, tạo nên thành tim. Tế bào cơ tim phân nhánh, có nhiều nhân.

- Hoạt động co cơ chỉ xảy ra khi có kích thích của môi trường và chịu sự điều khiển của hệ thần kinh. Khi đó các tơ cơ mảnh xuyên sâu vào vùng phân bố của các tơ cơ dày sẽ làm tế bào cơ co ngắn lại và tạo ra sự co cơ. Khi cơ hoạt động sẽ sinh công và tạo ra lực làm di chuyển vật. Năng lượng cung cấp cho hoạt động của cơ là từ phản ứng ôxi hoá các chất dinh dưỡng trong tế bào cơ tạo ra. Nếu cơ khoẻ mạnh thì khả năng sinh công sẽ lớn, khả năng hoạt động sẽ dẻo dai và lâu mỏi.

Câu 6:Chức năng của xương

Các xương dài nối với cơ bắp bằng gân. Các xương nối với nhau ở khớp bởi dây chằng. Tác động qua lại của xương với cơ được nghiên cứu trong cơ sinh học.

Sản xuất máu

Ngoài việc nâng đỡ cơ thể, xương còn là nơi sản xuất ra hồng cầu cho máu. Chính xác hơn là tuỷ xương - thứ chất giống như thạch ở bên trong ống xương làm ra. Có hai loại tuỷ xương, loại tuỷ vàng béo ngậy(ở người già) không sinh ra hồng cầu, chỉ có loại tuỷ đỏ (ở trẻ em)ở trong xương bả vai, xương hông, xương sườn, xương ức và xương chậu mới sản xuất hồng cầu. Những dây chuyền chế tạo năng suất cao này luôn sản xuất ra 1 lượng hồng cầu bù với số lượng hồng cầu mất đi

Các thành phần chính của bộ xương

Bộ xương người chia làm ba phần là xương đầu (gồm các xương mặt và khối xương sọ), xương thân (gồm xương ức, xương sườn và xương sống) và xương chi (xương chi trên – tay và xương chi dưới – chân). Tất cả gồm 300 chiếc xương ở trẻ em và 206 xương ở người trưởng thành, dài, ngắn, dẹt khác nhau hợp lại ở các khớp xương. Trong bộ xương còn có nhiều phần sụn. Khối xương sọ ở người gồm 8 xương ghép lại tạo ra hộp sọ lớn chứa não. Xương mặt nhỏ, có xương hàm bớt thô so với động vật vì nhai thức ăn chín và không phải là vũ khí tự vệ. Sự hình thành lồi cằm liên quan đến các cơ vận động ngôn ngữ. Cột sống gồm 33 – 34 đốt sống khớp với nhau và cong ở 4 chỗ, thành 2 chữ S tiếp nhau giúp cơ thể đứng thẳng. Các xương sườn gắn với cột sống và gắn với xương ức tạo thành lồng ngực, bảo vệ tim và phổi. Xương tay và xương chân có các phần tương ứng với nhau nhưng phân hóa khác nhau phù hợp với chức năng đứng thẳng và lao động.

Ai thấy hay thì tick cho mình nha.Cảm ơn các bạn nhiều....banhhihivuithanghoa

Cầm Đức Anh
23 tháng 10 2017 lúc 17:20

Câu 4:

- Máu từ phổi về tim là máu đỏ tươi vì lúc này máu chứa nhiều O2.khi máu từ tim đến các cơ quan,tế bào thì máu đã cung cấp lượng O2 đó cho hoạt động hô hấp của tế bào,và máu nhận lại CO2 nên máu có màu đỏ thẫm.

Câu 5:

Cấu trúc của enzim: Thành phần của enzim là prôtêin hoặc prôtêin kết hợp với các chất khác không phải là prôtêin. Trong phân tử enzim có vùng cấu trúc không gian đặc biệt chuyên liên kết với cơ chất (cơ chất là chất chịu sự tác động của enzim) được gọi là trung tâm hoạt động. Thực chất đây là một chỗ lõm hoặc khe nhỏ trên bề mặt enzim. Cấu hình không gian này tương thích với cấu hình không gian của cơ chất. Tại đây, các cơ chất sẽ được liên kết tạm thời với enzim và nhờ đó phản ứng được xúc tác.
Cơ chế hoạt động của enzim: Enzim thoạt đầu liên kết với cơ chất tại trung tâm hoạt động tạo nên phức hợp enzim - cơ chất. Sau đó bằng nhiều cách khác nhau enzim tương tác với cơ chất để tạo ra sản phẩm. Việc liên kết enzim - cơ chất mang tính đặc thù. Vì thế mỗi enzim thường chỉ xúc tác cho một vài phản ứng.

Lâm Hiến Chương
29 tháng 10 2017 lúc 16:58

1.-Các bạch cầu tham gia bảo vệ cơ thể bằng các cơ chế:
+Thực bào: Bạch cầu trung tính và bạch cầu mônô hình thành chân giả, bắt và nuốt vi khuẩn rồi tiêu hóa chúng.
+Tạo kháng thể để vô hiệu hóa kháng nguyên: Bạch cầu limphô B tiết ra kháng thể gây kết dính vi khuẩn.
+Phá hủy các tế bào đã bị nhiễm bệnh: Bạch cầu limphô T nhận diện và tiếp xúc với tế bào nhiễm vi khuẩn, rồi tiết ra phân tử prôtêin đặc hiệu làm thủng màng tế bào nhiễm vi khuẩn và phá hủy.

2.-Người mắc bệnh thủy đậu một lần, cả đời không mắc lại là do các bạch cầu đã có khả năng tiêu diệt được vi khuẩn của bệnh đó, nên khi vi khuẩn của bệnh đó lại xâm nhập thì sẽ bị bạch cầu tiêu diệt ngay=>Miễn dịch tập nhiễm.

3.-Mỗi chu kỳ co giãn của tim là 0,8s, gồm 3 pha:
+Pha dãn chung: Mất 0,4s, máu từ tĩnh mạch đổ về tâm nhĩ, một lượng máu xuống tâm thất, lúc đầu van nhĩ - thất mở sau đó đóng lại.
+Pha nhĩ co: Mất 0,1s, áp lực máu tâm nhĩ tăng làm van nhĩ - thất mở và tống máu xuống tâm thất.
+Pha thất co: Mất 0,3s, áp lực trong tâm thất tăng, đóng van nhĩ - thất, máu được tống vào động mạch.

4.-Máu từ phổi về tim được mang nhiều O2 nên có màu đỏ tươi do hồng cầu có Hb (huyết sắc tố) có đặc tính khi kết hợp với O2 sẽ có màu đỏ tươi. Máu từ các tế bào về tim mang nhiều CO2 nên có màu đỏ thẫm do hồng cầu có Hb (huyết sắc tố) có đặc tính khi kết hợp với CO2 có màu đỏ thẫm.

5.-Cấu tạo của cơ:
+Bắp cơ bao gồm nhiều bó cơ. Bó cơ gồm rất nhiều sợi cơ bọc trong màng liên kết, hai đầu bắp cơ có gân bám với xương qua khớp, phần giữa phình to là bụng cơ.
+Sợi cơ gồm nhiều tơ cơ. Tơ cơ có 2 loại là tơ cơ dày có mấu sinh chất và tơ cơ mảnh trơn xen kẽ nhau.
+Phần tơ cơ giữa 2 tấm Z là đơn vị cấu trúc của tế bào cơ.

-Cơ chế co cơ: Khi cơ co, tơ cơ mảnh xuyên sâu vào vùng phân bố của tơ cơ dày làm cho tế bào cơ ngắn lại.

6.-Bộ xương người gồm 3 phần:
+Xương đầu.
+Xương thân.
+Xương chi.

-Chức năng của bộ xương:
+Bộ phận nâng đở cho cơ thể có hình dạng nhất định.
+Bảo vệ các nội quan.
+Là chỗ bám cho các cơ vận động.

Trần Quang Hiếu
Xem chi tiết
Cầm Đức Anh
28 tháng 10 2017 lúc 20:05

* Ví dụ : Khi chân ta dẫm phải hòn than, chân vội nhấc lên là một phản xạ. Con chuột đang đi. bỗng nhìn thấy con mèo, liền chạy trốn cũng là một phản xạ...
Phân tích đường đi của xung thần kinh trong phản xạ : Nếu ta dẫm phải hòn chân thì cơ quan thụ cảm ở đó nhận được một cảm giác rất nóng, liền xuất hiện một xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm về trung ương thần kinh. Rồi từ trung ương phát đi xung thần kinh theo dây li tâm tới chân (cơ quan phản ứng).
Kết quả của sự phản ứng được thông báo ngược về trung ương theo
hướng làm nếu phản ứng chưa chính xác thì phát lệnh điều chỉnh, nhờ dây li tâm truyền tới cơ quan phản ứng. Nhờ vậy mà cơ thể có thể phản ứng chính xác đối với kích thích.

Hải Đăng
28 tháng 10 2017 lúc 21:02

+)Nếu tình cờ chạm vào một thứ gì nóng, ngay lập tức bạn sẽ rút tay ngược trở lại. Đây được gọi là phản xạ tự nhiên, vì nó xảy ra nhanh hơn nhiều so với những hành động khác mà bạn làm.

+) * Ví dụ : Khi chân ta dẫm phải hòn than, chân vội nhấc lên là một phản xạ. Con chuột đang đi. bỗng nhìn thấy con mèo, liền chạy trốn cũng là một phản xạ...

Phân tích đường đi của xung thần kinh trong phản xạ : Nếu ta dẫm phải hòn chân thì cơ quan thụ cảm ở đó nhận được một cảm giác rất nóng, liền xuất hiện một xung thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm về trung ương thần kinh. Rồi từ trung ương phát đi xung thần kinh theo dây li tâm tới chân (cơ quan phản ứng).
Kết quả của sự phản ứng được thông báo ngược về trung ương theo
hướng làm nếu phản ứng chưa chính xác thì phát lệnh điều chỉnh, nhờ dây li tâm truyền tới cơ quan. Nhờ vậy mà cơ thể có thể phản ứng chính xác đối với kích thích.

nguyen thi thao
31 tháng 12 2017 lúc 20:30

​phản xạ là phản ứng có thể trả lời kích thích môi trường dưới sự điều khiển của hệ thần kinh

vd;dùng búa cao su gõ vào gân xương chân bánh chế tức là kich thich vào gân cơ đùi làm phát sinh một xung thần kinh theo dây hướng hướng tâm chạy về tủy sống sang dây li tâm và về có mặt trước đùi .làm cơ đùi cô lại kéo cẳng chân về phía trước

Nguyễn Ngọc Huyền
Xem chi tiết
Lâm Hiến Chương
30 tháng 10 2017 lúc 18:23

*Cơ sở khoa học:
-Vắc xin được sản xuất từ chính mầm bệnh của bệnh mà ta muốn ngừa, nhưng đã bị yếu đi không còn khả năng gây bệnh.
​-Khi tiêm vào cơ thể khích thích cơ thể tiết ra kháng thể chống lại bệnh đó.

*Ý nghĩa phòng bệnh:
-Ta phải tiêm vắc xin để có khả năng chống bệnh đó, đừng ngại chi phí khi tiêm vì khi ta mắc bệnh đó rất khó và có thể không trị được (chi phí trị cũng rất cao).

Bảo Long Đinh
Xem chi tiết
Vanhuy Dinh
Xem chi tiết
♥๖ۣۜPhan ๖ۣۜTú ๖ۣۜAnh♥
20 tháng 12 2017 lúc 20:46

Nguyên nhân mỏi cơ:

-Sự ôxi hoá các chất dinh dưỡng do máu mang tới, tạo ra năng lượng cung cấp cho sự co cơ, đồng thời sản sinh ra nhiệt và chất thải là khí cacbônic.

-Nếu lượng ôxi cung cấp thiếu thì sản phẩm tạo ra trong điều kiện thiếu ôxi là axit lactic. Axit lactic bị tích tụ sẽ đầu độc làm cơ mỏi.

Biện pháp tăng trưởng khả năng làm việc của cơ:

Để lao động có năng suất cao cần làm việc nhịp nhàng, vừa sức đảm bảo khối lượng và nhịp co cơ thích hợp. Ngoài ra, cũng cần có tinh thần thoải mái vui vẻ. Việc rèn luyện thân thể thường xuyên thông qua lao động, thể dục thể thao sẽ làm tăng dần khả năng co cơ và sức chịu đựng của cơ, đây cũng là biện pháp nâng cao năng suất lao động. -Khi mỏi cơ cần được nghỉ ngơi, thở sâu kết hợp với xoa bóp cho máu lưu thông nhanh. Sau hoạt động chạy (khi tham gia thể thao) nên đi bộ từ từ đến khi hô hấp trở lại bình thường mới nghỉ ngơi và xoa bóp.

Biện pháp chống mỏi cơ:cần nghỉ ngơi, không để cơ tiếp tục làm việc, thả lỏng cơ kết hợp với xoa bóp để máu cung cấp nhiều khí oxi và thải nhanh những chất độc cho cơ ra ngoài.Mỏi cơ còn có thể là do cơ hoạt động quá giới hạn cho phép của sự co cơ. Vì thế, cần rèn luyện để tăng khả năng chịu đựng và làm việc của cơ.

Lâm Hiến Chương
1 tháng 11 2017 lúc 20:39

-Để lao động có năng suất cao cần:
+Làm việc nhịp nhàng, vừa sức.
+Đảm bảo khối lượng và nhịp co cơ thích hợp.
+Tinh thần thoải mái vui vẻ.

-Việc rèn luyện thân thể thường xuyên thông qua lao động, thể dục thể thao sẽ làm tăng dần khả năng co cơ và sức chịu đựng của cơ, đây cũng là biện pháp nâng cao năng suất lao động.

-Biện pháp chống mỏi cơ:
+Nghỉ ngơi.
+Hít thở sâu.
+Uống nước đường.
+Xoa bóp vùng cơ bị mỏi.
+Đi bộ từ từ đến khi hô hấp trở lại bình thường mới nghỉ ngơi và xoa bóp.

Lâm Hiến Chương
1 tháng 11 2017 lúc 20:42

-Nguyên nhân sự mỏi cơ do làm việc quá sức và kéo dài, lượng oxi cung cấp thiếu=>Tích tụ axit latic đầu độc và làm mỏi cơ.

Nguyễn Thị Phương Thảo
Xem chi tiết
nguyen thi thao
13 tháng 11 2017 lúc 20:19

​vì mỗi khẩu phần đó sẽ cung cấp môi chất cho cơ thể giúp cơ thể phát triển khỏe mạnh vva mỗi cơ quan,không bị yếu chỗ nào.sức khỏe tốt có sức đề kháng chống mọi bệnh

Ni Ni
1 tháng 4 2018 lúc 19:47

Để đảm bảo cho cơ thể sinh trưởng , phát triển và hoạt động bình thường

Lâm Đan
Xem chi tiết
Nguyễn Hoàng Lộc
15 tháng 11 2017 lúc 18:43

thì lúc đó các pha cx tăng lên lần lượt là 0,1 s; 0,3 s ; 0,4 s sau đó bạn cộng vs bt là đc