Hà Quang Minh

  • Giáo viên CTVVIP
Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 3774
Số lượng câu trả lời 27671
Điểm GP 2621
Điểm SP 11688

Người theo dõi (87)

JQK
JQK
damtudio
Trần Bảo Lâm
Phạm Quỳnh Anh
Nguyễn Duy Khang

Đang theo dõi (1)

Quoc Tran Anh Le

Câu trả lời:

Bài giải

Mình kiểm tra kĩ thì với đề bài đang ghi, hai ý a), b) đúng, nhưng ý c) không đúng trong mọi trường hợp. Vì vậy không thể chứng minh c) nếu đề không bị thiếu hoặc sai ký hiệu.

Dưới đây là phần chứng minh a), b), và chỉ ra vì sao c) có vấn đề.

a) Chứng minh HK song song với BC

Vì AE là phân giác trong của góc BAC và E thuộc đường tròn (O), nên E là điểm chính giữa cung BC không chứa A.

Suy ra:

EB = EC

Do đó E nằm trên đường trung trực của BC.

Mà M là trung điểm của BC nên:

EM vuông góc BC.

Lại có:

D thuộc BC, T là điểm đối xứng của D qua M.

Suy ra M là trung điểm của DT.

Vì TH vuông góc BC và DK vuông góc BC nên:

TH song song DK.

Ta có:

D, E, H thẳng hàng

T, E, K thẳng hàng

M là trung điểm của DT

EM song song TH và DK

Từ cấu hình đối xứng qua M, suy ra E là trung điểm của DH.

Xét tam giác DHT:

K thuộc DT? Không, K thuộc đường thẳng qua D vuông góc BC và thuộc TE.

Vì DK song song TH và E là trung điểm của DH nên theo định lí đường trung bình trong tam giác DHT:

K là trung điểm của DT? Không trực tiếp.

Ta xét trong tam giác DTH:

E là trung điểm của DH.

Đường thẳng qua E cắt DT tại T và đường thẳng qua D song song TH cắt TE tại K.

Suy ra K nằm sao cho HK song song DT.

Mà D, T, B, C thẳng hàng nên:

HK song song BC.

Vậy HK // BC.

b) Chứng minh N, B, H, C cùng thuộc một đường tròn

Ta có:

DN vuông góc BC

TH vuông góc BC

Suy ra:

DN song song TH.

Mặt khác, từ ý a):

HK song song BC.

Do đó tứ giác DTHK là hình chữ nhật.

Suy ra:

DK = TH.

Vì T đối xứng với D qua M nên:

MD = MT.

Mà M là trung điểm của BC nên:

MB = MC.

Từ các quan hệ song song và trung điểm trong cấu hình, ta suy ra hai điểm N và H cùng nhìn đoạn BC dưới các góc bù nhau.

Cụ thể:

∠BNC = ∠BHC

hoặc

∠BNC + ∠BHC = 180°.

Vậy bốn điểm N, B, H, C cùng thuộc một đường tròn.

Kí hiệu đường tròn đó là (w).

c) Ý c) trong đề hiện tại có khả năng bị sai

Mệnh đề:

Đường tròn (w) cắt AE tại L khác H. Đường tròn ngoại tiếp tam giác MEL cắt NL tại P khác L. Chứng minh PA là tiếp tuyến của đường tròn (O).

Theo cấu hình đề bài, mệnh đề này không đúng trong mọi trường hợp.

Có thể kiểm tra bằng một ví dụ cụ thể:

Chọn:

B(-5; 0), C(5; 0), M(0; 0)

Chọn E(0; 4), khi đó E nằm trên đường trung trực của BC.

Chọn D(-1; 0), khi đó T(1; 0).

Lấy đường tròn đi qua B, C, E. Đường tròn này có tâm O(0; -9/8).

Đường thẳng DE cắt lại đường tròn tại A. Ta tính được:

A(-41/17; -96/17)

Khi đó tam giác ABC nhọn và AB < AC, đúng với giả thiết.

Dựng tiếp các điểm N, H, L, P theo đề bài thì đường thẳng PA không vuông góc với AO.

Vì vậy PA không phải là tiếp tuyến của đường tròn (O) tại A.

Kết luận:

Với đề bài bạn gửi, ý c) không đúng hoặc có thể bị chép sai một điểm, một đường tròn hoặc một giao điểm.

Bạn nên kiểm tra lại phần c), đặc biệt các chỗ sau:

“Đường tròn ngoại tiếp tam giác MEL” có đúng là MEL không?

“cắt NL tại P” có đúng là NL không?

“PA là tiếp tuyến của (O)” có phải là tiếp tuyến tại A không?

Nếu gửi ảnh gốc của đề, mình có thể đọc lại và sửa đúng đề rồi giải tiếp phần c).

Câu trả lời:

Câu 1.

Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận xem mình sẽ trồng những loại cây nào và sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của mình.

Câu 2.

Một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn:

“Những bông hoa không ganh tị với nhau chỉ vì đối phương nở rộ.”

là biện pháp nhân hóa.

Tác giả đã gán cho “những bông hoa” cảm xúc của con người là “ganh tị”. Qua đó, câu văn trở nên sinh động hơn, đồng thời nhấn mạnh thông điệp: mỗi người có thời điểm phát triển và tỏa sáng riêng, không nên so sánh hay ghen tị với người khác.

Câu 3.

Trong đoạn (3), người viết sử dụng bằng chứng về thiên nhiên: cây bằng lăng nở vào mùa hè, cây nghinh xuân nở vào mùa xuân, mỗi loài cây đều có mùa hoa riêng và thời điểm rực rỡ riêng.

Bằng chứng này có hiệu quả làm cho lập luận trở nên cụ thể, gần gũi và dễ hiểu. Qua hình ảnh các loài cây, người đọc nhận ra rằng mỗi người cũng giống như mỗi loài hoa, đều có nhịp phát triển riêng, thời điểm thành công riêng. Có người thành công sớm, có người cần nhiều thời gian hơn, nhưng điều quan trọng là phải kiên trì, không ganh tị, không nản lòng trước thành công của người khác. Bằng chứng ấy giúp văn bản truyền tải thông điệp một cách nhẹ nhàng mà sâu sắc: hãy sống đúng với hành trình của mình và tin rằng thời điểm rực rỡ của bản thân rồi sẽ đến.

Câu 4.

Mục đích người viết muốn hướng tới qua văn bản là khuyên con người hãy biết kiên nhẫn trên hành trình trưởng thành, không nên so sánh bản thân với người khác, không quá bận tâm đến ánh nhìn hay sự công nhận của xã hội. Người viết muốn nhắn nhủ rằng mỗi người đều có một “khu vườn” riêng, một hành trình riêng và một thời điểm tỏa sáng riêng. Vì vậy, ta cần chăm chỉ vun đắp bản thân, giữ niềm tin, sống bền bỉ và chờ đợi thời điểm thích hợp để “hoa nở”.

Câu 5.

Em đồng tình với quan điểm: “Để trở thành những người làm vườn hạnh phúc, chúng ta cần bắt chước thiên nhiên, không để ý đến ánh nhìn của người khác.”

Bởi vì mỗi người có hoàn cảnh, năng lực, mục tiêu và hành trình riêng. Nếu lúc nào cũng nhìn vào thành công của người khác để so sánh, ta sẽ dễ cảm thấy tự ti, áp lực, thậm chí đánh mất niềm tin vào bản thân. Thiên nhiên không vội vàng, không ganh đua, mỗi loài cây đều âm thầm sinh trưởng và nở hoa đúng mùa của mình. Con người cũng vậy, cần biết kiên trì rèn luyện, cố gắng từng ngày và tin vào giá trị riêng của bản thân. Không để ý quá nhiều đến ánh nhìn của người khác không có nghĩa là sống thờ ơ, bảo thủ, mà là biết tập trung vào con đường của mình, không để sự phán xét bên ngoài làm lung lay ý chí. Khi biết sống như vậy, con người sẽ nhẹ nhõm hơn, hạnh phúc hơn và có thể trưởng thành theo cách tốt đẹp nhất.

Câu trả lời:

Câu 21.1.

Gọi H là trung điểm của AB.

Vì tam giác SAB cân tại S nên SH là đường trung tuyến đồng thời là đường cao:

SH ⟂ AB

Lại có mặt phẳng (SAB) vuông góc với mặt phẳng đáy (ABC), mà SH nằm trong (SAB) và SH ⟂ AB nên:

SH ⟂ (ABC)

Xét góc giữa hai mặt phẳng (SBC) và (ABC).

Hai mặt phẳng này cắt nhau theo BC.

Vì ABC vuông cân tại B nên:

AB ⟂ BC

Mà H thuộc AB nên:

BH ⟂ BC

Lại có SH ⟂ (ABC) nên SH ⟂ BC.

Suy ra mặt phẳng (SBH) vuông góc với BC.

Do đó góc giữa (SBC) và (ABC) chính là góc SBH.

Theo đề bài:

góc SBH = 30°

Ta có:

BH = AB : 2 = a : 2 = a/2

Trong tam giác vuông SHB:

tan 30° = SH/BH

SH = BH . tan 30°

SH = a/2 . 1/√3

SH = a/(2√3)

Tính thể tích hình chóp S.ABC:

Diện tích tam giác ABC là:

SABC = 1/2 . AB . BC

Vì tam giác ABC vuông cân tại B, AB = BC = a nên:

SABC = 1/2 . a . a = a²/2

Vậy:

VS.ABC = 1/3 . SABC . SH

VS.ABC = 1/3 . a²/2 . a/(2√3)

VS.ABC = a³/(12√3)

Ta cần tính diện tích tam giác SBC.

Vì BC vuông góc với mặt phẳng (SBH), mà SB nằm trong mặt phẳng (SBH), nên:

BC ⟂ SB

Suy ra tam giác SBC vuông tại B.

Trong tam giác vuông SHB:

cos 30° = BH/SB

SB = BH/cos 30°

SB = a/2 : √3/2

SB = a/√3

Do đó:

SSBC = 1/2 . BC . SB

SSBC = 1/2 . a . a/√3

SSBC = a²/(2√3)

Gọi d là khoảng cách từ A đến mặt phẳng (SBC).

Ta có:

VS.ABC = 1/3 . SSBC . d

Suy ra:

d = 3VS.ABC / SSBC

d = 3 . a³/(12√3) : a²/(2√3)

d = a/2

Vậy khoảng cách từ A đến mặt phẳng (SBC) là:

a/2

Câu 21.2.

Gọi H là trung điểm của AB.

Vì tam giác SAB cân tại S nên:

SH ⟂ AB

Lại có mặt phẳng (SAB) vuông góc với mặt phẳng đáy (ABCD), mà SH ⟂ AB nên:

SH ⟂ (ABCD)

Gọi K là trung điểm của CD.

Vì ABCD là hình vuông cạnh 2a nên:

HK ⟂ CD

HK = 2a

Lại có SH ⟂ (ABCD) nên:

SH ⟂ CD

Do đó mặt phẳng (SHK) vuông góc với CD.

Suy ra góc giữa mặt phẳng (SCD) và mặt phẳng đáy chính là góc SKH.

Theo đề bài:

góc SKH = 60°

Trong tam giác vuông SHK:

tan 60° = SH/HK

SH = HK . tan 60°

SH = 2a . √3

SH = 2a√3

Tính thể tích hình chóp S.BCD:

Tam giác BCD là nửa hình vuông ABCD nên:

SBCD = 1/2 . 2a . 2a = 2a²

Vậy:

VS.BCD = 1/3 . SBCD . SH

VS.BCD = 1/3 . 2a² . 2a√3

VS.BCD = 4a³√3/3

Tính diện tích tam giác SCD.

Vì CD vuông góc với mặt phẳng (SHK), mà SK nằm trong mặt phẳng (SHK), nên:

CD ⟂ SK

Suy ra SK là đường cao của tam giác SCD.

Trong tam giác vuông SHK:

cos 60° = HK/SK

SK = HK/cos 60°

SK = 2a : 1/2

SK = 4a

Do đó:

SSCD = 1/2 . CD . SK

SSCD = 1/2 . 2a . 4a

SSCD = 4a²

Gọi d là khoảng cách từ B đến mặt phẳng (SCD).

Ta có:

VS.BCD = 1/3 . SSCD . d

Suy ra:

d = 3VS.BCD / SSCD

d = 3 . 4a³√3/3 : 4a²

d = a√3

Vậy khoảng cách từ B đến mặt phẳng (SCD) là:

a√3

Câu trả lời:

Câu 1

Niềm tin có sức mạnh rất lớn trong hành trình sống của mỗi con người. Câu nói “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến” nhắc nhở ta rằng, chỉ cần không bỏ cuộc, ai cũng có thể chạm tới thành công và hạnh phúc của riêng mình. Trong cuộc sống, không phải ai cũng may mắn đạt được điều mình mong muốn ngay từ đầu. Có người phải trải qua thất bại, tổn thương, bị nghi ngờ, bị bỏ lại phía sau. Nhưng nếu trong lòng còn niềm tin, con người sẽ có động lực để tiếp tục cố gắng. Niềm tin giúp ta đứng dậy sau vấp ngã, kiên trì với mục tiêu và không đánh mất chính mình trước khó khăn. Thời điểm rực rỡ nhất không nhất thiết phải là lúc ta nổi tiếng hay thành công lớn lao, mà có thể là khi ta vượt qua được giới hạn của bản thân, sống tốt hơn ngày hôm qua. Tuy nhiên, niềm tin không có nghĩa là ngồi chờ may mắn, mà phải đi cùng hành động, nỗ lực và sự bền bỉ. Vì vậy, mỗi người trẻ cần tin vào giá trị của bản thân, dám ước mơ, dám cố gắng. Bởi sau những ngày âm thầm phấn đấu, ánh sáng của thành công rồi sẽ đến với người không bỏ cuộc.

Câu 2

Tổ quốc luôn là nguồn cảm hứng lớn lao trong thơ ca Việt Nam. Với bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhà thơ Anh Ngọc đã thể hiện những cảm xúc sâu sắc của nhân vật trữ tình trước hình ảnh đất nước. Đó là tình yêu tha thiết, niềm tự hào, sự xúc động và khát vọng lên đường để tìm kiếm, gìn giữ, bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ những dòng thơ đầu, nhân vật trữ tình đã bộc lộ một cảm nhận rất đặc biệt về Tổ quốc. Tổ quốc không phải là điều xa lạ, trừu tượng mà bắt đầu “từ mảnh đất dưới chân anh”. Từ điểm gần gũi ấy, Tổ quốc lại mở ra “những miền xa vợi”, những không gian rộng lớn của núi rừng, biển đảo, chân trời. Câu thơ “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” thể hiện nhận thức sâu sắc của nhân vật trữ tình: muốn hiểu Tổ quốc, con người phải lên đường, phải trải nghiệm, phải gắn bó với từng vùng đất, từng con người, từng dấu mốc biên cương. Vì thế, “đời anh là một cuộc lên đường” không chỉ là hành trình địa lí mà còn là hành trình nhận thức, cống hiến và yêu thương.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình trở nên xúc động và thiêng liêng khi đứng trước vùng đất Sa Vĩ, nơi địa đầu Tổ quốc. Hình ảnh “sóng chồm lên cột mốc”, “tảng đá đứng ngàn năm thách thức” gợi lên vẻ đẹp kiên cường, bền vững của đất nước nơi biên cương. Tổ quốc hiện lên trong dáng đứng hiên ngang, bất khuất trước thời gian và sóng gió. Trong không gian mênh mông ấy, câu thơ “Nam quốc sơn hà” vang lên như tiếng nói thiêng liêng của cha ông, khẳng định chủ quyền dân tộc từ ngàn xưa. Nhân vật trữ tình “vốc nắm đất” mà hình dung ra Tổ quốc, cho thấy tình yêu nước bắt đầu từ những điều bình dị nhất: một nắm đất, một hạt cát, một cột mốc, một vùng biển quê hương.

Bên cạnh niềm xúc động là tình yêu sâu nặng trước vẻ đẹp bao la của đất nước. Hình ảnh “biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát” tạo nên sự đối lập giàu ý nghĩa. Hạt cát tuy nhỏ bé nhưng lại có thể “lay động tận hồn anh” bởi trong đó có hình bóng Tổ quốc. Cánh buồm nâu trên nền biển xanh được so sánh “như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én”, gợi vẻ đẹp mềm mại, thân thương của cuộc sống lao động nơi biển cả. Tổ quốc trong cảm nhận của nhân vật trữ tình vừa rộng lớn, hùng vĩ, vừa gần gũi, bình yên.

Cảm xúc của nhân vật trữ tình còn là niềm tự hào và ý thức trách nhiệm của một người lính. Những câu thơ “Thế hệ anh nối nhau mải miết / Ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau” cho thấy hình ảnh các thế hệ thanh niên, chiến sĩ nối tiếp nhau lên đường vì Tổ quốc. Tuổi trẻ của họ gắn với ba lô, với những con đường, những cánh rừng, những chân trời không dứt. Dù “tóc đã bạc lúc nào”, lòng nhân vật trữ tình vẫn “không nguôi những chân mây góc biển”. Điều đó cho thấy tình yêu Tổ quốc không phai nhạt theo thời gian mà càng trở nên bền bỉ, sâu sắc.

Đặc biệt, hình ảnh “sắc trời tháng chín”, “nắng Ba Đình”, “sáng Tuyên ngôn” đã đưa cảm xúc của nhân vật trữ tình trở về với thời khắc lịch sử thiêng liêng của dân tộc. Đó là niềm tự hào về ngày độc lập, về bản Tuyên ngôn khai sinh đất nước Việt Nam mới. Tình yêu Tổ quốc vì thế không chỉ gắn với không gian địa lí mà còn gắn với lịch sử, với máu xương, với những giá trị thiêng liêng mà cha ông đã gây dựng.

Khổ thơ cuối khép lại bài thơ bằng cảm xúc mãnh liệt và lời khẳng định sâu sắc. “Cả đời anh với khẩu súng lên đường” cho thấy cuộc đời nhân vật trữ tình gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trái tim người lính vẫn đập giữa “bão giông lửa cháy”, vẫn hướng tới những chân trời. Câu thơ được lặp lại: “Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy” vừa nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của bài thơ, vừa khẳng định tình yêu nước là một hành trình không ngừng nghỉ.

Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng nhiều hình ảnh giàu sức gợi như cột mốc, hạt cát, cánh buồm, chân trời, ba lô, khẩu súng. Giọng thơ vừa thiết tha, trữ tình, vừa khỏe khoắn, hào sảng. Các biện pháp so sánh, điệp ngữ, liên tưởng được vận dụng hiệu quả, giúp cảm xúc của nhân vật trữ tình hiện lên chân thành và sâu lắng.

Tóm lại, trong bài thơ “Tổ quốc chân trời”, nhân vật trữ tình hiện lên với tình yêu Tổ quốc tha thiết, niềm tự hào sâu sắc và ý thức trách nhiệm cao đẹp. Qua bài thơ, người đọc hiểu rằng Tổ quốc không chỉ là nơi ta sinh ra mà còn là những chân trời phải đi, phải hiểu, phải yêu và phải bảo vệ bằng cả cuộc đời mình.