Hà Quang Minh

  • Giáo viên CTVVIP
Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 3774
Số lượng câu trả lời 26754
Điểm GP 2610
Điểm SP 11673

Người theo dõi (86)

damtudio
Trần Bảo Lâm
Phạm Quỳnh Anh
Nguyễn Duy Khang
Võ Huỳnh Lâm

Đang theo dõi (1)

Quoc Tran Anh Le

Câu trả lời:

A. Đọc hiểu

Câu 1:
Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ.

Câu 2:
Tính tình của giọt sương trong khổ thơ (1) được thể hiện qua các từ ngữ:
“kiều diễm”, “đỏng đảnh”, “kiêu kì”, “chẳng coi ai ra gì”, “luôn nghĩ mình đẹp nhất”.

Câu 3:
Các từ láy ở khổ thơ (5) là:
“lộng lẫy”, “bẽ bàng”.

Câu 4:
Biện pháp tu từ trong khổ thơ (3) là nhân hóa.
Ví dụ: “chị Nấm”, “tôi không đánh đu”, “duyên dáng”.
Tác dụng: làm cho giọt sương và cây nấm hiện lên như con người, khiến lời thơ trở nên sinh động, gần gũi; đồng thời làm nổi bật sự kiêu căng, khoe khoang của giọt sương.

Câu 5:
Em đồng ý với tác giả khi cho rằng giọt sương “đáng giận mà đáng thương”.
Vì giọt sương đáng giận ở chỗ quá kiêu kì, tự cao, luôn cho mình là đẹp nhất và coi thường người khác. Nhưng giọt sương cũng đáng thương vì không hiểu rằng vẻ đẹp của mình chỉ là một phần nhỏ trong vẻ đẹp của thiên nhiên. Khi nắng lên, giọt sương tan biến, để lại cảm giác bẽ bàng và tội nghiệp.

Câu 6:
Qua bài thơ, em rút ra bài học là trong cuộc sống phải biết khiêm tốn, không nên kiêu ngạo hay xem thường người khác. Mỗi người đều có giá trị riêng, vì vậy cần biết tôn trọng mọi người, sống hòa đồng và hiểu rằng vẻ đẹp thật sự không chỉ ở bản thân mà còn ở sự gắn bó với tập thể, với cuộc sống xung quanh.

Câu trả lời:

Gọi
A là giao điểm khác I của hai đường tròn (O2) và (O3),
B là giao điểm khác I của hai đường tròn (O3) và (O1),
C là giao điểm khác I của hai đường tròn (O1) và (O2).

Ta có:
O1I = O2I = O3I = R.

Vì A thuộc (O2) và (O3) nên
O2A = O3A = R.
Suy ra O2A = O2I và O3A = O3I.
Do đó tứ giác O2AO3I là hình thoi.
Vì thế O2O3 là đường trung trực của AI, hay A là ảnh của I qua đường thẳng O2O3.

Tương tự:
B là ảnh của I qua O3O1,
C là ảnh của I qua O1O2.

a) Chứng minh tam giác ABC bằng tam giác O1O2O3

Xét đoạn AB.

Vì A là ảnh của I qua O2O3 nên tia O3A đối xứng với tia O3I qua O3O2.
Vì B là ảnh của I qua O3O1 nên tia O3B đối xứng với tia O3I qua O3O1.

Suy ra
góc AO3B = 2 góc O2O3O1.

Mặt khác, ba điểm O1, O2, O3 cùng thuộc đường tròn tâm I bán kính R, nên góc O1IO2 là góc ở tâm chắn dây O1O2, còn góc O1O3O2 là góc nội tiếp cùng chắn dây ấy.
Do đó
góc O1IO2 = 2 góc O1O3O2 = 2 góc O2O3O1.

Vậy
góc AO3B = góc O1IO2.

Hai đường tròn tâm O3 và tâm I có cùng bán kính R, mà hai dây AB và O1O2 chắn hai góc ở tâm bằng nhau, nên
AB = O1O2.

Làm tương tự, ta được
BC = O2O3,
CA = O3O1.

Vậy ba cạnh tương ứng bằng nhau:
AB = O1O2,
BC = O2O3,
CA = O3O1.

Suy ra tam giác ABC bằng tam giác O1O2O3.

b) Chứng minh I là trực tâm tam giác ABC

Ta sẽ chứng minh AI vuông góc BC.

Ở trên ta đã có:
O2O3 là đường trung trực của AI
nên AI vuông góc O2O3.

Bây giờ chỉ cần chứng minh BC song song O2O3.

Vì B là ảnh của I qua O3O1 nên O1B = O1I.
Vì C là ảnh của I qua O1O2 nên O1C = O1I.
Suy ra
O1B = O1I = O1C,
nên B, I, C cùng thuộc đường tròn tâm O1.

Lại có:
góc BO1C = 2 góc O3O1O2.

Do tam giác BO1C cân tại O1, nên
góc BCO1 = (180 độ - góc BO1C) : 2
= 90 độ - góc O3O1O2.

Mặt khác, vì C là ảnh của I qua O1O2 nên
góc CO1O2 = góc IO1O2.

Trong tam giác cân O1IO2, ta có
góc O1IO2 = 2 góc O1O3O2
nên
góc IO1O2 = 90 độ - góc O1O3O2.

Do đó
góc giữa BC và O1O2
= góc BCO1 + góc CO1O2
= (90 độ - góc O3O1O2) + (90 độ - góc O1O3O2)
= góc O1O2O3.

Vì góc giữa BC và O1O2 bằng góc giữa O2O3 và O1O2 nên
BC song song O2O3.

Mà AI vuông góc O2O3, nên AI vuông góc BC.

Tương tự, ta chứng minh được
BI vuông góc AC,
CI vuông góc AB.

Vậy I là giao điểm ba đường cao của tam giác ABC, tức là trực tâm của tam giác ABC.

Kết luận:
a) Tam giác ABC bằng tam giác O1O2O3.
b) I là trực tâm của tam giác ABC.

Câu trả lời:

Nếu hỏi “OLM có gì ưu việt hơn”, thì câu trả lời hợp lý nhất là: OLM mạnh ở chỗ gộp khá nhiều khâu dạy học vào cùng một nền tảng thay vì chỉ hỗ trợ một chức năng riêng lẻ. Theo giới thiệu chính thức, OLM bám sát chương trình từ mẫu giáo đến lớp 12, có bài học được cá nhân hoá và phân tích thời gian thực theo nhu cầu người học.

Những điểm nổi bật của OLM so với nhiều phần mềm hỗ trợ dạy học khác:

Bám sát chương trình học phổ thông ở Việt Nam: OLM công bố kho học liệu số gồm video bài giảng bám sát chương trình GDPT, bài luyện tập từ cơ bản đến nâng cao, lý thuyết trọng tâm, phiếu bài tập và cả PowerPoint hỗ trợ tổ chức hoạt động trên lớp. Đây là lợi thế lớn nếu mục tiêu là dạy đúng chương trình phổ thông Việt Nam, không phải chỉ quản lý lớp học chung chung.Hỗ trợ trọn quy trình giao bài – kiểm tra – chấm – báo cáo: giáo viên có thể giao bài, tạo đề từ ma trận/ngân hàng câu hỏi, tổ chức kiểm tra trực tuyến, chấm tự động và xuất báo cáo để theo dõi tiến trình học tập của từng học sinh. Điểm này khiến OLM thuận tiện hơn các công cụ chỉ mạnh ở giao tiếp hoặc giao bài mà không có lớp đánh giá sâu đi kèm.Kho học liệu và bài kiểm tra sẵn có khá lớn: trang học liệu mở của OLM cho thấy có nhiều bài học, bài kiểm tra, đề giữa kì/cuối kì và học liệu theo từng môn, từng lớp. Điều này giúp giáo viên triển khai nhanh hơn, nhất là khi cần dùng ngay tài nguyên sẵn thay vì tự xây từ đầu.Có hệ sinh thái phục vụ cả giáo viên và nhà trường, không chỉ học sinh: ngoài dạy học trực tuyến, tài liệu hướng dẫn của OLM còn liệt kê các chức năng như quản lý kiểm tra đánh giá, thống kê báo cáo, quản lý giáo viên và lớp học, duyệt giáo án/hồ sơ, tùy chỉnh website trường. Nghĩa là OLM hướng tới bài toán chuyển đổi số trường học khá toàn diện.Có công cụ chấm trắc nghiệm trên giấy bằng xử lý ảnh: OLM Marker được giới thiệu là hỗ trợ chấm tự động bài thi trắc nghiệm trên giấy, giảm công sức chấm, tăng độ chính xác và dễ quản lý kết quả bằng file thống kê. Đây là điểm mà không phải nền tảng dạy học nào cũng có sẵn trong cùng hệ sinh thái.

Nói ngắn gọn, OLM thường nổi bật hơn khi trường hoặc giáo viên cần:
học liệu bám chương trình Việt Nam + giao bài + kiểm tra đánh giá + chấm tự động + báo cáo tiến độ + quản trị lớp/trường trên cùng một hệ thống.

Tuy nhiên, “ưu việt hơn” còn phụ thuộc mục đích dùng. Nếu chỉ cần họp trực tuyến, chia sẻ file, hoặc quản lý lớp rất cơ bản, thì một số công cụ chuyên biệt khác có thể đơn giản hơn. Còn nếu trọng tâm là dạy học phổ thông Việt Nam và đánh giá học tập có cấu trúc, OLM có lợi thế khá rõ.

Câu trả lời:

Bài giải

Gọi X là giao điểm thứ hai của đường thẳng BH với đường tròn tâm A bán kính AB.

Ta sẽ chứng minh X là ảnh đối xứng của K qua đường thẳng AH. Từ đó suy ra K thuộc CH.

Vì tam giác ABC cân tại A và H thuộc AM nên AM là đường trung trực của BC. Do đó
HB = HC.

Lại có
AB = AC, AH chung
nên tam giác ABH bằng tam giác ACH (c.g.c hoặc s.s.s).

Suy ra
∠ABH = ∠ACH.

Mặt khác, X thuộc đường tròn tâm A bán kính AB nên
AX = AB.
Vì thế tam giác ABX cân tại A, suy ra
∠AXB = ∠ABX.

Do B, H, X thẳng hàng nên
∠AXH = ∠AXB

∠ABX = ∠ABH.

Vậy
∠AXH = ∠ABH = ∠ACH.

Suy ra bốn điểm A, C, H, X cùng nằm trên một đường tròn.

Bây giờ xét phép đối xứng trục AH.

Vì AH là đường trung trực của BC nên phép đối xứng qua AH biến
C thành B,
đường thẳng HC thành đường thẳng HB.

Đồng thời, vì A nằm trên trục đối xứng nên đường tròn tâm A bán kính AB vẫn giữ nguyên.

Do A, C, H, X cùng thuộc một đường tròn nên ảnh của đường tròn đó qua đối xứng trục AH là đường tròn đi qua A, B, H và ảnh của X. Gọi ảnh của X là X'.

Khi ấy X' thuộc:

đường tròn ngoại tiếp tam giác ABH,đường tròn tâm A bán kính AB.

Mà B đã là một giao điểm chung của hai đường tròn ấy, nên giao điểm chung còn lại chính là K.
Vì vậy
X' = K.

Nhưng X nằm trên BH nên ảnh đối xứng của X qua AH nằm trên HC.
Suy ra
K thuộc HC.

Vậy C, H, K thẳng hàng.

Đpcm.