Hà Quang Minh

  • Giáo viên CTVVIP
Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 3774
Số lượng câu trả lời 26754
Điểm GP 2610
Điểm SP 11673

Người theo dõi (86)

damtudio
Trần Bảo Lâm
Phạm Quỳnh Anh
Nguyễn Duy Khang
Võ Huỳnh Lâm

Đang theo dõi (1)

Quoc Tran Anh Le

Câu trả lời:

Để viết được một bài văn hay, em không cần dùng từ quá khó hay viết quá dài. Điều quan trọng nhất là em viết rõ ý, thật cảm xúc, và đúng trọng tâm. Em có thể làm theo những cách sau:

Hiểu thật rõ đề bài
Trước khi viết, em phải xác định:Đề yêu cầu kiểu bài gì: kể chuyện, miêu tả, biểu cảm, nghị luận...Viết về ai, về cái gìCần làm nổi bật điều gì

Nếu hiểu sai đề thì viết hay mấy cũng dễ bị lệch.

Nghĩ ý trước khi viết
Đừng cầm bút lên là viết ngay. Em nên nghĩ:Mở bài sẽ giới thiệu gìThân bài có mấy ý chínhKết bài nêu cảm nghĩ ra sao

Khi có dàn ý, bài văn sẽ mạch lạc hơn, không bị lặp ý hay thiếu ý.

Viết bằng cảm xúc thật
Một bài văn hay là bài văn có cảm xúc. Em hãy quan sát thật kĩ và nghĩ thật thật.
Ví dụ tả mẹ thì không chỉ viết “mẹ em rất yêu em”, mà có thể kể một việc nhỏ như mẹ thức khuya chăm em ốm. Những chi tiết thật như vậy làm bài văn sinh động hơn.Dùng từ đơn giản nhưng đúng
Không cần cố dùng từ quá hoa mĩ. Em nên chọn từ:đúng nghĩaphù hợpdễ hiểu

Viết tự nhiên thường hay hơn viết cầu kì mà gượng ép.

Biết thêm hình ảnh so sánh, nhân hoá
Những biện pháp này giúp câu văn đẹp hơn.
Ví dụ:Mặt trời đỏ rực như một quả cầu lửa.Hàng cây trước sân trường đang thì thầm trong gió.

Nhưng chỉ nên dùng vừa phải, không lạm dụng.

Câu văn phải liên kết với nhau
Mỗi câu cần nối được với câu trước và dẫn sang câu sau.
Em nên tránh viết các ý rời rạc. Hãy luôn tự hỏi:
“Câu này có liên quan đến ý mình đang nói không?”Đọc lại và sửa bài
Nhiều bạn viết xong là nộp ngay. Muốn văn hay hơn, em nên đọc lại để sửa:lỗi chính tảcâu lủng củngchỗ lặp từý nào còn thiếu hoặc chưa rõ

Việc sửa bài rất quan trọng.

Đọc nhiều bài văn hay
Muốn viết hay thì phải đọc nhiều. Khi đọc, em học được:cách mở bàicách dùng từcách tả cảnh, tả ngườicách bộc lộ cảm xúc

Nhưng chỉ học cách viết, không chép nguyên văn.

Quan sát cuộc sống xung quanh
Văn hay thường đến từ những điều rất gần gũi. Em hãy tập quan sát:khuôn mặt, hành động, lời nói của người thâncảnh vật buổi sáng, buổi chiềuâm thanh, màu sắc, mùi hương xung quanh

Quan sát càng kĩ, bài viết càng có hồn.

Chăm luyện viết
Không ai tự nhiên viết hay ngay được. Em cần luyện thường xuyên. Mỗi lần viết xong, em sẽ tiến bộ thêm một chút.

Câu trả lời:

Bài giải

Gọi T' là giao điểm của AC với đường thẳng đi qua K và song song với BC.

Ta sẽ chứng minh BI vuông góc với IT.

Trước hết, vì M là trung điểm của BC và cũng là trung điểm của HK nên hai đường chéo BC và HK của tứ giác BHCK cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường. Do đó BHCK là hình bình hành.

Suy ra:
BK song song CH,
CK song song BH.

Mà CH vuông góc AB và BH vuông góc AC nên
BK vuông góc AB,
CK vuông góc AC.

Vậy
góc ABK = góc ACK = 90 độ.

Suy ra bốn điểm A, B, C, K cùng nằm trên một đường tròn và AK là đường kính của đường tròn đó.
Vì O là trung điểm của AK nên O chính là tâm đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC.

Xét tam giác AKT'.
Ta có O là trung điểm của AK và OT song song KT' (vì OT song song BC, còn KT' cũng song song BC).
Theo định lí đường trung bình, T là trung điểm của AT'.

Mặt khác, I là trung điểm của AH.
Xét tam giác AHT', vì I là trung điểm của AH và T là trung điểm của AT' nên

IT song song HT'. (1)

Vậy chỉ cần chứng minh BI vuông góc HT'.

Bây giờ, gọi E là chân đường vuông góc từ H xuống AB.
Gọi X là chân đường vuông góc từ I xuống AB.

Vì I là trung điểm của AH nên X là trung điểm của AE.
Suy ra
IX = HE/2,
BX = (AB + BE)/2.

Do đó
tan góc ABI = IX/BX = HE/(AB + BE).

Xét tam giác vuông BHE:
góc HBE = góc ABH = 90 độ - A.

Suy ra
HE = BH cos A,
BE = BH sin A.

Vậy
tan góc ABI = BH cos A / (AB + BH sin A). (2)

Mặt khác, do BHCK là hình bình hành nên
CK = BH.

Xét tam giác CKT'.
Ta có CK vuông góc AC, còn CT' nằm trên AC nên tam giác CKT' vuông tại C.
Lại có KT' song song BC nên
góc CT'K = góc ACB = C.

Vì thế
CT' = CK cot C = BH cot C. (3)

Tiếp theo, gọi Z là chân đường vuông góc từ T' xuống CH.

Vì CH vuông góc AB nên góc giữa CH và AC bằng 90 độ - A.
Mà T' nằm trên tia đối của CA, nên
góc HCT' = 90 độ + A.

Từ đó:
T'Z = CT' cos A,
HZ = CH + CT' sin A.

Do đó
tan góc CHT' = T'Z/HZ
= CT' cos A / (CH + CT' sin A).

Thay (3) vào:
tan góc CHT' = BH cot C cos A / (CH + BH cot C sin A)
= BH cos A / (CH tan C + BH sin A).

Gọi R là bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác ABC.
Ta có công thức quen thuộc:
CH = 2R cos C,
AB = 2R sin C.

Suy ra
CH tan C = 2R cos C . tan C = 2R sin C = AB.

Vậy
tan góc CHT' = BH cos A / (AB + BH sin A). (4)

Từ (2) và (4), suy ra
tan góc CHT' = tan góc ABI.

Hai góc này đều là góc nhọn, nên
góc CHT' = góc ABI.

Mà CH vuông góc AB, nên từ đây suy ra
HT' vuông góc BI.

Kết hợp với (1): IT song song HT', suy ra
IT vuông góc BI.

Vậy
góc BIT = 90 độ.

Đpcm.

Câu trả lời:

Bài 5

Cho tam giác DEF có I là trung điểm của EF. Kẻ EH vuông góc DI tại H, kẻ FK vuông góc DI tại K.

a) Chứng minh tam giác EHI bằng tam giác FKI và IH = IK

Vì EH vuông góc DI tại H nên
góc EHI = 90 độ.

Vì FK vuông góc DI tại K nên
góc FKI = 90 độ.

I là trung điểm của EF nên
EI = IF.

Lại có H, I, K cùng thuộc đường thẳng DI và E, I, F cùng thuộc đường thẳng EF nên
góc EIH = góc FIK
(hai góc tạo bởi hai đường thẳng EF và DI).

Xét hai tam giác vuông EHI và FKI, ta có:
EI = IF
góc EIH = góc FIK
góc EHI = góc FKI = 90 độ

Suy ra
tam giác EHI bằng tam giác FKI.

Do đó
IH = IK.

Ngoài ra còn suy ra
EH = FK.

b) Chứng minh HF = EK và HF // EK

Xét hai tam giác IHF và IKE, ta có:
IH = IK
(theo câu a)

IF = IE
(vì I là trung điểm của EF)

góc HIF = góc KIE
(hai góc đối đỉnh, do DI cắt EF tại I)

Suy ra
tam giác IHF bằng tam giác IKE (c.g.c).

Do đó
HF = EK.

Mặt khác, từ hai tam giác bằng nhau, ta có:
góc IFH = góc IEK.

Vì IF và IE cùng nằm trên đường thẳng EF nên hai góc trên là hai góc so le trong tạo bởi EF với hai đường thẳng HF và EK.

Suy ra
HF // EK.

Vậy
HF = EK và HF // EK.

c) Chứng minh DE + DF > 2DI

Vì I là trung điểm của EF nên DI là trung tuyến của tam giác DEF.

Ta chứng minh bất đẳng thức trung tuyến này trực tiếp.

Trên tia đối của tia ID lấy điểm P sao cho
IP = ID.

Khi đó I là trung điểm của DP.
Mà I cũng là trung điểm của EF.

Xét tứ giác DEPF, hai đường chéo DP và EF cắt nhau tại I và chia đôi nhau, nên DEPF là hình bình hành.

Suy ra
EP = DF
và DP = 2DI.

Xét tam giác DEP, theo bất đẳng thức tam giác:
DP < DE + EP

hay
2DI < DE + DF.

Vậy
DE + DF > 2DI.

Kết luận Bài 5:
a) tam giác EHI bằng tam giác FKI, suy ra IH = IK
b) HF = EK và HF // EK
c) DE + DF > 2DI

Câu trả lời:

Bài 4

Cho tam giác ABC cân tại C. D, E lần lượt là trung điểm của AC, BC. AE và BD cắt nhau tại M, đường thẳng CM cắt AB tại I.

a) Chứng minh AE = BD

Vì tam giác ABC cân tại C nên
AC = BC.

Lại có D là trung điểm của AC, E là trung điểm của BC nên
CD = CE.

Xét hai tam giác ACE và BCD, ta có:
AC = BC
CE = CD
góc ACE = góc BCD = góc ACB

Suy ra
tam giác ACE bằng tam giác BCD (c.g.c).

Do đó
AE = BD.

Vậy AE = BD.

b) Chứng minh DE // AB

Trong tam giác ACB, D là trung điểm của AC, E là trung điểm của BC.

Theo định lý đường trung bình trong tam giác, ta có
DE // AB.

c) Chứng minh IM vuông góc AB

Vì D là trung điểm của AC nên BD là trung tuyến của tam giác ABC.
Vì E là trung điểm của BC nên AE là trung tuyến của tam giác ABC.

Hai trung tuyến AE và BD cắt nhau tại M nên M là trọng tâm tam giác ABC.

Do đó M nằm trên trung tuyến thứ ba kẻ từ C, tức là đường thẳng CM đi qua trung điểm của AB.

Mà CM cắt AB tại I nên I chính là trung điểm của AB.

Vì tam giác ABC cân tại C nên đường thẳng nối đỉnh C với trung điểm của đáy AB vuông góc với AB.

Suy ra
CI vuông góc AB.

Mà M thuộc CI nên IM cũng vuông góc AB.

Vậy IM vuông góc AB.

d) Chứng minh AB + 2BC > CI + 2AE

Ta sẽ chứng minh riêng:
2AE < AB + BC

CI < BC

Từ đó suy ra điều phải chứng minh.

Chứng minh 2AE < AB + BC

Trên tia đối của tia EA lấy điểm P sao cho
EP = EA.

Khi đó E là trung điểm của AP.
Mà E cũng là trung điểm của BC.

Xét tứ giác ABPC, hai đường chéo AP và BC cắt nhau tại E và chia đôi nhau, nên ABPC là hình bình hành.

Suy ra
PC = AB
và AP = 2AE.

Xét tam giác APC, theo bất đẳng thức tam giác:
AP < AC + PC

hay
2AE < AC + AB.

Mà AC = BC nên
2AE < AB + BC. (1)

Chứng minh CI < BC

Trên tia đối của tia IC lấy điểm Q sao cho
IQ = IC.

Khi đó I là trung điểm của CQ.
Mà I cũng là trung điểm của AB.

Xét tứ giác ACBQ, hai đường chéo AB và CQ cắt nhau tại I và chia đôi nhau, nên ACBQ là hình bình hành.

Suy ra
BQ = AC = BC
và CQ = 2CI.

Xét tam giác CBQ, theo bất đẳng thức tam giác:
CQ < CB + BQ = BC + BC = 2BC

hay
2CI < 2BC

suy ra
CI < BC. (2)

Từ (1) và (2), cộng hai bất đẳng thức ta được:
CI + 2AE < BC + (AB + BC) = AB + 2BC.

Vậy
AB + 2BC > CI + 2AE.

Kết luận Bài 4:
a) AE = BD
b) DE // AB
c) IM vuông góc AB
d) AB + 2BC > CI + 2AE

Câu trả lời:

Trong kho tàng truyện ngụ ngôn dân gian Việt Nam, văn bản Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là một câu chuyện ngắn gọn nhưng chứa đựng bài học rất sâu sắc về sự đoàn kết, hợp tác và vai trò của mỗi cá nhân trong một tập thể. Thông qua việc nhân hoá các bộ phận cơ thể thành những nhân vật có tính cách, lời nói và hành động riêng, câu chuyện đã giúp người đọc hiểu rằng trong cuộc sống không ai là vô ích, mỗi người đều có một công việc và ý nghĩa riêng. Các nhân vật Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng hiện lên vừa sinh động, gần gũi, vừa góp phần làm nổi bật tư tưởng của truyện.

Trước hết, cô Mắt, cậu Chân, cậu Tay và bác Tai là những nhân vật đại diện cho những người chỉ nhìn thấy cái vất vả của mình mà chưa hiểu hết vai trò của người khác. Mở đầu câu chuyện, cô Mắt là người khơi lên sự bất mãn: thấy mình cùng Chân, Tay, Tai “làm việc mệt nhọc quanh năm”, còn lão Miệng thì “chẳng làm gì cả, chỉ ngồi ăn không”. Cách suy nghĩ ấy thể hiện sự hẹp hòi, phiến diện và nông nổi. Cô Mắt chỉ nhìn bề ngoài mà chưa hiểu bản chất công việc của Miệng. Cậu Chân và cậu Tay cũng nhanh chóng đồng tình, hăng hái hưởng ứng. Điều đó cho thấy họ bộc trực nhưng thiếu suy xét, dễ bị cuốn theo cảm xúc nhất thời. Bác Tai ban đầu cũng “gật đầu lia lịa”, chứng tỏ bác cũng hồ đồ, vội tin theo mà chưa cân nhắc đúng sai.

Những nhân vật này còn được khắc hoạ rất rõ qua thái độ và lời nói. Khi đến gặp lão Miệng, cả bốn người đều tỏ ra gay gắt, thiếu lễ độ, không chào hỏi mà nói thẳng ngay ý định “không làm để nuôi ông nữa”. Cách hành xử ấy cho thấy sự nóng nảy, ích kỉ và tị nạnh. Họ chỉ nghĩ đến công sức của mình mà quên mất rằng tất cả đang cùng tồn tại trong một cơ thể thống nhất. Chính sự thiếu hiểu biết ấy đã dẫn đến quyết định sai lầm: đình công, không làm việc nữa.

Tuy nhiên, điều đáng quý ở các nhân vật Chân, Tay, Tai, Mắt là họ biết nhận ra sai lầm. Sau vài ngày không hoạt động, tất cả đều trở nên “mệt mỏi, rã rời”, “lờ đờ”, “ù như xay lúa ở trong”. Những chi tiết miêu tả ấy cho thấy hậu quả tất yếu của việc chia rẽ: không những Miệng không sống nổi mà chính các bộ phận khác cũng suy yếu. Qua đó, người đọc hiểu rằng trong một tập thể, khi một bộ phận ngừng phối hợp thì cả hệ thống đều bị ảnh hưởng. Đặc biệt, bác Tai là người đầu tiên tỉnh ngộ và nói ra sự thật: “Lão Miệng không đi làm, nhưng lão có công việc là nhai. Như vậy cũng là làm việc chứ không phải ăn không ngồi rồi.” Câu nói ấy rất quan trọng, vì nó thể hiện sự thức tỉnh, sự hiểu ra lẽ phải. Từ chỗ a dua theo đám đông, bác Tai trở thành người nhận lỗi, phân tích đúng sai và kêu gọi mọi người hòa giải. Như vậy, bác Tai là nhân vật có vai trò tháo gỡ mâu thuẫn trong truyện.

Nhân vật lão Miệng hiện lên với một nét tính cách khác hẳn. Ban đầu, khi bị trách móc, lão “rất lấy làm ngạc nhiên” nhưng không nổi giận, không cãi cọ gay gắt. Lão chỉ nhẹ nhàng nói: “Có chuyện gì muốn bàn với nhau thì hãy vào nhà đã. Làm gì mà nóng nảy thế?” Qua lời nói ấy, có thể thấy lão Miệng điềm đạm, bình tĩnh và có phần bao dung. Dù bị hiểu lầm, lão vẫn không chấp nhặt. Đến khi không được cung cấp thức ăn, lão cũng trở nên “nhợt nhạt cả hai môi, hàm răng thì khô như rang”, nghĩa là lão cũng đau yếu như những người khác. Chi tiết này chứng minh rằng Miệng không phải kẻ chỉ biết hưởng thụ, mà là một bộ phận có chức năng thiết yếu. Miệng tiếp nhận thức ăn, nhai và góp phần nuôi sống toàn thân. Nếu không có Miệng, tất cả các bộ phận khác cũng không thể khỏe mạnh. Nhân vật lão Miệng vì thế tiêu biểu cho những con người tuy không làm những việc nhìn thấy ngay, nhưng lại giữ vai trò không thể thiếu trong tập thể.

Điểm đặc sắc của truyện là nghệ thuật nhân hoá. Các bộ phận cơ thể được gọi bằng những cách xưng hô rất đời thường như “cô Mắt”, “cậu Chân”, “cậu Tay”, “bác Tai”, “lão Miệng”. Nhờ đó, các nhân vật trở nên gần gũi, sinh động như con người thật. Tác giả dân gian còn xây dựng tình huống mâu thuẫn rõ ràng: vì hiểu lầm nên dẫn đến chia rẽ, rồi từ hậu quả thực tế mà nhận ra chân lí. Cách kể ngắn gọn, giàu đối thoại giúp bài học rút ra trở nên tự nhiên, dễ nhớ, dễ thấm.

Qua các nhân vật Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng, câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc: trong một tập thể, mỗi người đều có nhiệm vụ và giá trị riêng; không nên so bì, tị nạnh hay chỉ nhìn công việc của người khác một cách phiến diện. Muốn sống tốt đẹp, con người phải biết đoàn kết, nương tựa, phối hợp với nhau. Đây không chỉ là bài học trong gia đình, nhà trường mà còn đúng trong xã hội. Vì vậy, Chân, Tay, Tai, Mắt, Miệng là một truyện ngụ ngôn ngắn mà ý nghĩa rất lớn, nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng người khác và sống hài hòa trong tập thể.