Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đăk Lăk , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 21
Số lượng câu trả lời 1103
Điểm GP 138
Điểm SP 831

Người theo dõi (147)

Đang theo dõi (19)

Lightning Farron
Admin
Doan Minh Cuong
Pham Van Tien

Câu trả lời:

Thuyết minh về một danh nhân

Bài làm

NGUYỄN CÔNG TRỨ (Giới thiệu một danh nhân)

(19.XÍI.1778 - 7.XII.1858). Nhà thơ Việt Nam, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu là Hy Văn; sinh ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tuất. Người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh. Cha là Nguyễn Công Tấn, trung thần thời Lê mạt, trước dạy học, sau thăng Tri huyện, rồi Tri phủ. Khi Tây Sơn nổi lên lật đổ triều đình Lê - Trịnh, Nguyễn Công Tấn mộ quân chông lại. Không thành, ông trở về quê mở trường dạy học. Nguyền Công Trứ lúc nhỏ sống nghèo túng, nhưng vẫn hăm hở đi học, đi thi. Sau nhiều lần trượt lên trượt xuống, 41 tuổi ông mới đậu Giải nguyên kỳ thi hương (1819) và được bố làm quan. Đầu tiên ông làm Hành táu ở Quốc sứ quán, sau đó làm Tri huyện Đường Hào, Hải Dương, làm Tư nghiệp Quốc tử giám, rồi làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên... 1828, được thăng hữu Tham tri Bộ hình, sung chức Dinh điền sứ, chuyên coi việc khai khấn đất hoang. Ông đã hướng dẫn nông dân khai phá được một vùng đất đai rộng lớn ven bờ biển Thái Bình và Ninh Bình, lập nên hai huyện Tiền Hải, Kim Sơn. Ngoài ra, ông còn chi huy việc khai khẩn vùng đất hoang ven biển hai tinh Quảng Yên, Hải Dương. Nhân dân ở các vùng này rất biết ơn ông, có nơi lập sinh từ đế thờ ông ngay lúc ông còn sống. Nói chung, Nguyễn Công Trứ làm việc gì cũng hết sức tận tụy, thế nhưng trong 28 năm làm quan ông vẫn bị giáng chức và cách chức đến năm lần. Lần bị nặng nhất là năm 1843, bị cách tuột, bắt làm lính thú lên trấn ở biên thùy Quảng Ngãi. Nhưng vài năm sau lại được phục chức, làm Chủ sự Bộ hình, rồi làm quyền Án sát Quảng Ngãi, sau đó đổi ra làm Phủ thừa phủ Thừa Thiên, và 1847, được thăng Phủ doãn phủ ấy. 1848, Tự Đức nguyên niên Nguyễn Công Trứ 70 tuổi, được về hưu, sống ở Nghi Xuân, ngót H năm trời. 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, tuy đã 80 tuổi, ông vẫn thi thiết xin được tòng quân đánh giặc. Nhưng tuổi già, sức yếu, ông không di dược, và ngày 14 tháng 11 năm Mậu Ngọ, ông từ trần.

Nguyễn Gông Trứ sáng tác khá nhiều, tương truyền có don trơn dưới một nghìn bài thơ, hầu hết bằng chữ Nôm, nhưng phần lớn bị thất lạc. Hiện còn khoảng trên 150 bài. Thế tài nhiều nhất là hát và nói thơ Đường luật (...). Những sáng tác của ông trong giai đoạn đầu phản ánh tâm trạng tầng lớp trí thức lớp dưới hăm hở đi học, đi thi đế làm quan. Ông đặc biệt ca ngợi con người hành động, con người trung hiếu, đề cao chí nam nhi, đề cao vai trò của kẻ sĩ theo tinh thần Nho giáo, đả kích Phật giáo, Đạo giáo và tràn đầy tinh thần lạc quan, tin tưởng. Nhưng càng về sau, tinh thần lạc quan càng giảm sút. Do quá trình tham gia hoạt động xã hội, Nguyễn Công Trứ nhận thức ra được triều đại mà ông tôn thờ không phải tốt đẹp như ông tưởng và những thiện chí của ông không phải dễ thực hiện. Nguyễn Công Trứ muốn phục vụ nhà Nguyễn thì chính nhà Nguyễn nghi ngờ ông. Nguyễn Công Trứ muốn làm quan thanh liêm thì có lần triều đình đã bắt tội, hạch sách ông. Nguyễn Công Trứ muôn cải cách xã hội thì phần lớn đề nghị của ông bị bác bỏ... Gia đình ông lại luôn sống trong cảnh nghèo túng. Chính bối cảnh ấy đã làm cho Nguyễn Công Trứ dần dần chuyến hướng sáng tác: ông từ bỏ dần những dề tài có tính chất ca ngợi, khẳng định, để viết những đề tài có màu sắc tô" cáo, đả kích xã hội. Hàng loạt bài thơ về thế thái nhân tình của ông ra đời. Nhà thơ vạch trần thói đạo đức giả của bọn giàu có (Thế tình đối với người nghèo)] thông cảm với cảnh ngộ của những người nghèo khổ (Vịnh cảnh nghèo, Than cảnh nghèo...)] tố cáo gay gắt tác dụng tai hại của đồng tiền (Vịnh nhân tình thế thái, Vịnh đồng tiền). Câu thơ tố cáo, đả kích của Nguyễn Công Trứ không có những hình ảnh, những chi tiết cụ thể, sinh động, nhưng do chỗ thấm đượm c. xúc sâu sắc, nên vẫn có sức lay động mạnh. Tuy nhiên, trước sau Nguyễn Công Trứ vẫn không thoát khỏi được ý thức hệ Nho giáo là ý thức hệ thống trị của xã hội, cho nên ông không có quan hệ chặt chẽ với nhân dân. Do đó mà về sau, khi thấy sự phê phán của mình không đem lại kết quả, hoạt động của mình thất bại, ông tỏ ra chán chường, và sáng tác những bài thơ có tính chất hưởng lạc, thoát li. Ông thường hay triết lý cuộc đời là vô nghĩa, tạm bợ, không ai sông trăm tuổi, nên phải ăn chơi đế bù đắp lại:

Nhẫn sinh bất hành lạc,

Thiển tuế diệc vi thương.

(ở đời không hành lạc thì sống nghìn năm cũng như đứa chốt yểu) (Đánh thức người đời). Điều đáng trách ở đây là thái độ thiếu tôn trọng của Nguyễn Công Trứ đối với phụ nữ.

Về nghệ thuật, Nguyễn Công Trứ làmột cây bút thơ Nôm (lạc sắc, nhưng ông thành công nhất là trong những bài thơ viết bằng thể hát nói. Hát nói vốn là thể bài hát, được lưu hành trong các hanh viện, các nhà hát ả đào. Nguyễn Công Trứ là một trong những người đầu tiên nâng lên thành một thể thơ hoàn chỉnh, không phải chi (le nói chuyện ăn chơi, mà nói về sinh hoạt, mọi cảm nghĩ của nhà thơ trước cuộc sống. Thể hát nói trong các bài thơ của Nguyễn Công Trứ khi thì hào hùng, sôi nồi, khi thì du dương, êm ái. Với thế hát nổi, Nguyễn Công Trứ, cũng như Cao Bá Quát, đã chuẩn bị một bước dôi mới về sau cho thi ca tiếng Việt.

Câu trả lời:

Thuyết minh về chiếc áo dài Việt Nam

Bài làm

Cho đến trước ngày giải phóng Thủ đô (1954), phụ nữ vẫn theo phong tục cũ: ra đường là phải mặc áo dài, dù là người giàu hay người nghèo, dù đi lâu hay chóng, gần hay xa.

ở Hà Nội vào những năm 30, từ những tấm áo dài cổ điển dân tộc, có phần nào cổ lỗ, họa sĩ Cát Tường đã cách tân, biến tấm áo dài cũ thành áo dài kiểu mới, gọi là "áo dài tân thời". Thứ có cổ áo cao, thứ không'cổ, còn khoét thêm cho rộng để ngầm khoe cái cổ trắng

nõn, hoặc cố cao ba ngấn. Tà trước không mở ở giữa màkín, chỉ cài cúc phía bên phải. Tấm áo "tân thời" đó, tấm áo ấy vân còn rát ít người mặc, chủ yếu là con nhà giàu sang, sinh viên, "các cô, các mọ-...".

Tấm áo dài cổ, loại từ xưa đế lại có cái khác. Sang trọng ngày hội, ngày lễ, ngày tết... có áo mớ ba mớbảy, là loại áo mặc nhiều cái chồng lên nhau với nhiều màu khác nhau.

Áo dài ngày thường giản dị hơn. Đi chợ, đi làm, đi buôn bán chỉ là tâm áo tứ thân, nghĩa là bốn khố vải dọc. Riêng hai thân trước mở ở giữa, và thắt nút hai vạt lại với nhau, khi chỉ hờ hững thắt trễ tràng một nút, hoặc vội vã, cần chắc chắn hơn, thì thắt con đo lỏng lẻo đế gió không tốc tung lên kẻo bị chê là không đứng đắn.

Vài năm trở lại đây, sau mấy chục năm bị quên lãng, áo dài được xuất hiện trở lại. Thật đẹp và thật vui. Các cô nhân viên tiếp tân, bu'u điện, một số cửa hàng, nhất là ngày lễ, ngày tết... làm đường phô' tươi đẹp, sinh động hẳn lên. Giờ tan trường các nữ sinh với tấm áo dài trắng như bướm bay phấp phới trên đường phố khiến nhiều người bồi hồi trước tuổi trẻ được chăm sóc chu đáo, và nhớ lại dăm chục năm trước, những tấm áo dài nữ sinh như thế đã làm mê mệt bao chàng trai thành phố. Với nữ sinh, có lẽ đẹp nhất vẫn là màu trắng, tinh khiết. Nhưng nghịch mắt nếu một cô nào muốn khoe cái ba-lô quai đen mới mua được, đem quàng qua vai, thay cho chiếc cặp ôm trước ngực. Đây là những nét phá nhau, nó không còn là mốt nữa mà là phản mốt. Áo dài là sự mềm mại, mỏng manh, nó không chấp nhận cái ba-lô mang dáng du lịch ôm đồm tất bật và cứng dơ.

Năm 1993, váy đầm các loại phát triển rầm rộ. Cũng là mốt. Không sao cả. Nhưng xét ra, tấm áo dài, vẫn là nét đẹp Việt Nam, từ áo mó' ba mớ bảy, áo tứ thân, áo đổi vai, áo đồng lầm, áo tân thời, nay chỉ đơn thuần là tấm áo dài, ngắn một chút theo kiểu miền Nam hay dài hơn theo kiểu Hà Nội, tay thụng hay tay lửng, cổ cao hay cổ rộng, để trơn hay vẽ hoa... Mong sao tấm áo dài được có mặt hơn nữa, làm cuộc sống tươi vui lên.

Câu trả lời:

Thuyết minh về một loại hình nghệ thuật dân gian

Bài làm

NGHỆ THUẬT MÚA Rối NƯỚC (Giới thiệu một loại hình nghệ thuật dân giạn)

Múa rối nước Việt Nam, một sinh hoạt dân gian dân tộc, gắn bó với hội làng ngay từ khi mới xuất hiện. Theo các nhà nghiên cứu thì ngay từ thời Lý (thế kỷ XI), múa rối đã rất thịnh hành.

Mục đích của múa rối lúc bấy giờ là để thờ thần thánh, sau phục vụ vui chơi giải trí cho bà con trẩy hội, như các hội đền Mị Ê (ở Lý Nhân, Nam Hà), hội Gióng (ở Đông Anh, Hà Nội). Ở chùa Thầy (Quốc Oai, Hà Tây) còn cấp ruộng cho phường rối nước Phú Đa đế thu hoa lợi, chi phí cho công việc phục vụ trong ngày hội chùa hàng năm...

Múa rối nước cố truyền giống như một hội làng thu nhỏ. Sân khấu múa rối nước với nhà thủy đình mái ngói cong, là một hình ảnh của đình làng, chùa làng.

Sân khấu này là một công trình kiến trúc mang biểu tượng của vũ trụ âm dương hòa hợp.

Ớ sân khấu múa rối nước, người diễn viên đứng trong buồng trò đế điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài và đặt dưới nước.

Các tiết mục của rối nước cố truyền tái hiện lại các sinh hoạt hội làng (trò tứ linh, múa sư tử, múa rồng, chọi trâu, đánh đu v.v...); các hoạt động cầu nguyện: cầu may, cầu phú, cầu lộc, cầu yên; những cảnh vui chơi, sinh hoạt ở làng quê (chăn trâu, thả diều, đấu vật,

quay tơ, (lột cửi, KÌA gạo...).

Múa rối nước thế hiện tục thờ thần của người Việt. Trong các tiết mục rối nước, xuất hiện biết bao con vật linh thiêng được khác chạm ở đình làng, chùa làng là nơi thờ cúng, lễ bái của muôn dân, như con rồng, con phượng, con lân, con rùa... cho đến các con vật bình thường được người dân nuôi dưỡng như con trâu, con cá, con chim V. V... Trò chọi trâu truyền thống cũng mang ý vị thiêng liêng qua lời giáo trò:

Tôi xin dẫn tích con trâu ngày trước Vốn ở bên đông lưu lạc sang tây Vua Thần Nông bắt lấy dạy cày Làng có đám đem ngay ra mà chọi.

Đề tài lịch sử cũng được sân khấu rối nước thế hiện qua các trò diễn về hai Bà Trưng cưỡi quân ra trận diệt quân Nam Hán, hay LA Lợi cưỡi ngựa chém đầu Liễu Thăng, Trần Hưng Đạo chí huy chiến thuyền tấn công Thoát Hoan trên sông Bạch Đằng v.v...

Nói tới nghệ thuật múa rối nước, không thể không nhắc tới mỌI nhân vật quen thuộc với khán giả là chú Tễu. Tễu là người thAng, minh, hóm hỉnh, mang hình bóng của người nông dân vùng châu thô đồng bằng Bắc Bộ.

Các tích trò của múa rối nước khá phong phú, hấp dẫn, theo các nhà nghiên cứu SƯU tầm thì có tới trên 200 tích của trên 30 phường, rối nước cổ truyền ở Thái Bình, Nam Hà, Hải Phòng, Hà Nội, Vĩnh Phú, Hà Bắc v.v...

Múa rối nước cổ truyền là loại hình nghệ thuật sân khấu dộc đáo, bởi sân khấu là mặt nước, nhưng vì thế mà nó có nhiều hạn chó như phải dựng sân khấu ở ao hồ, hoặc xây bể, diễn viên phải lội nước khá vất vả, tạo hình con rối tốn kém, công phu, diễn xuất chưa nAng cao, dộng tác con rối quá đơn giản, đa số tiết mục là các trò lẻ, nhưng vì là rối nước nên nó rất độc đáo, thề’ hiện tài nghệ khéo léo, kĩ thuật tinh xao của diễn viên Việt Nam.

Ngày nay, múa rối nước Việt Nam đã được đi biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới. Từ năm 1984 đến thập kỷ 90 này, múa rối nước da

được biếu diễn ở Hà Lan, úc, Mỹ, Nhật... Nhiều báo chí ở nước ngoài đã có những đánh giá cao về nghệ thuật rối nước, xếp nó vào hàng những hình thức quan trọng nhất của sân khấu múa rối trên thế giới.

Câu trả lời:

Bài văn hay thuyết mình về chùa HươngBài văn hay thuyết mình về chùa Hương

Chùa hương chỉ cách hà nội 60km về phía tây nam nhưng lại hội đủ loại hình du lịch: du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch hang động... Hội chùa hương kéo dài tới 2 tháng từ trước rằm tháng giêng đến rằm tháng ba âm lịch. Du khách có thể đến chùa hương bằng nhiều đường: dượng bộ, đường thủy, mà bến yến là điểm xuất phát của hành trình. Từ bến yến, khách đi bằng đường bộ xuyên qua rừng mơ, là con đường mòn của các tiều phu vào rừng lấy củi, được hòa mình vào nhiều chùa, hang, cảnh đẹp, được có dịp thắp nén nhang bên ngôi mộ tản đà, một thi sĩ danh tiếng của việt nam sống ở nửa đầu thế kỉ xx.

Nhưng thông thường du khách thích đi đường thủy. Mọi người cùng xuống đò do các cô gái làng yến chèo lái, thả lững lờ dọc suối yến, lặng ngắm hai bên bờ, xa xa sau màn sương mỏng nhẹ là trùng điệp núi biếc. Nếu ngồi cạnh bạn lại là một khách ưa chuyện trò, hiểu biết kể cho bạn nghe những huyền thoại đất hương sơn thì không còn gì thú vị hơn. Tên núi được đặt theo hình dáng núi. Nào là núi ngũ nhạc có hình năm trái chuông, núi đụn như đụn thóc, núi voi, núi lân hình con kì lân, núi quy hình con rùa. Ngoài ra, còn các núi thuyền rồng, phượng hoàng ở hai bên suối tuyết - con suối dẫn đường vào chùa tuyết sơn, núi mâm xôi, núi trống, núi chiêng, núi ông sư, núi bà vãi,... Đò dừng lại ở khu đền trình để các bà, các chị... Vào làm lễ trình diện với các vị sơn thần, với một dũng tướng của vua hùng cai quản vùng đất thiêng. Rồi khách lại xuống đò tiếp tục theo dòng suối uốn lượn quanh co qua hàng bà, cầu hội cảnh đẹp như tranh thủy mặc với cỏ, cây, hoa, lá đung đưa theo gió xuân.

Thuyền ghé bến đầu tiên đưa khách thăm chùa thiên trù, ngôi chùa được coi là “bếp nhà trời” còn gọi với các tên dân gian là chùa ngoài, chùa trò. Bên phải chùa thiên trù có động tiên sơn với nhiều nhũ đá trên vách và5 pho tượng đá. Nơi đây còn có hồ bán nguyệt nuôi thả hoa sen, cá, quanh chùa thiên trù là núi cao và hàng trăm ngọn tháp.

Du khách đi tiếp vào chùa trong nơi có động hương tích cổ kính, được chúa trịnh sâm (thế kỉ xviii) tôn vinh là “nam thiên đệ nhất động” với ý nghĩa: hang động đẹp nhất trời nam. Cửa động hương tích có lối lên trời, lôi xuống âm phủ. Nơi đây là điểm hội tụ nhiều cảnh đẹp của chùa giải oan, chùa cửa võng, am phật tích, động tuyết quỳnh với chim ca, vượn hót, tiếng suối róc rách như bản hòa tấu của thiên nhiên. Động hương tích gắn với bao nhân vật lịch sử, thi nhân việt nam như trịnh sâm, chu mạnh trinh, cao bá quát, xuân diệu.... Núi hương sơn có cách đây khoảng 200 triệu năm nhưng theo truyền thuyết và ngọc phả còn lưu giữ thì động hương tích mới ra đời cách đây hơn 200 năm. Trong động nhũ đá hình thù muôn vẻ, được dân gian đặt những tên gọi thân quen như cây gạo, cây vàng.... Và trong chùa hương tích có các tượng phật quan âm, kim đồng, ngọc nữ được phối thờ... Đặc biệt có tòa cửu long hình 9 con rồng bằng nhũ đá.

Tại hương tích sơn còn có các đền, chùa, hang động hấp dẫn, với những cái tên đẹp như núi long vân, động long vân, chùa long vân, động tuyết sơn, động hinh bồng gắn với cảnh đồng ruộng, núi lão, thung lão., hang sũng sàm mới phát hiện năm 1975 là nơi cư trú của

Người cổ bản địa cách đây hàng vạn năm................. hương tích sơn nói chung, chùa hương nói riêng quả là một kì tích mà đất nước việt nam được thiên nhiên ban tặng.

Chùa hương không chỉ hấp dẫn du khách ở vẻ đẹp thiên tạo, nơi đây còn giữ lại dấu tích văn hóa của nhiều giai đoạn lịch sử. Đó là những sản phẩm vô giá kết tinh tài năng trí tuệ, tâm tư tình cảm của nhân dân lao động, phản ánh tư tưởng của các thời đại. Một trong những cổ vật ghi niên đại sớm nhất ở hương sơn là quả chuông đồng có tên “đảo đài hương tích sơn hồng chung”. Chuông cao l,24m, đường kính đáy 0,63m, thân chuông có tám núm lồi chìa ra bốn góc, mỗi góc hai núm. Xung quanh mỗi núm là những chấm tròn nên có sự khác biệt so với chuông cùng thời. Đây là quả chuông khá đẹp hiện treo trong động hương tích có niên đại cảnh hưng 27 tức năm 1766. Một quả chuông khác nhỏ hơn, đúc thời tây sơn (1793) treo ở nhà tổ chùa thiên trù. Chuông chùa như khí cụ tích tụ linh khí núi sông và phát tiếng ngân vang vọng thấm nhuần vào chúng sinh trong thế giới ta bà.

Ở chùa hương, cổ vật bằng đá cũng khá nhiều. Điển hình là bia đá, có loại bia dẹt, bia trụ (tứ trụ, lục trụ), bia mài khắc trên đá. Trong đó bia có niên đại sớm nhất là bia “thiên trù tự bi kí” hiện dựng ở nhà bia trên đường từ bến thiên trù vào chùa. Bia có niên đại chính hòa thứ bảy (1688). Đây là tấm bia đâ lớn, diềm bia được chạm đẽo công phu, các nét chạm bay bướm mà khoẻ khoắn đưa được hơi thở của cuộc sống dân dã lên mặt bia qua hình tượng các con vật như voi, trâu, vịt, cua.. Các bệ đá đặt trước điện thờ phật ở động hương tích mang tính nghệ thuật cao thời lê - trịnh, chạm nổi hình người ở tư thế ngồi đóng khố để trần, đầu và hai tay nâng phần trên của bệ phật. Đó là biến dạng của chim thần garuda mình người mặt chim thường được tạc ở các bệ đá thời lí - trần. Giá trị nhất về nghệ thuật điêu khắc không những trong động hương tích mà kể cả trong hệ thống chùa chiền ở hương sơn là pho tượng phật bà quan âm bằng đá xanh tạc vào thời tây sơn. Tượng có dáng người thon thon, mặt hơi trái xoan, cổ cao ba ngấn. Chân trái để trần đặt lên một đài sen, chân phải hơi co, tay trái cầm một viên ngọc minh châu, lá sen tỏa ra mềm mại như có gió lay động dưới chân tượng.

Về kiến trúc, qua thời gian nghiệt ngã của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cùng những năm tháng chiến tranh, hầu hết những công trình kiến trúc cổ của vùng chùa hương sơn bị phá hủy.

Một kiến trúc cổ nhất còn lại là toà “viên công bảo tháp” gần suối điện trong khu vực chùa ngoài “chùa thiên trù”. Tháp này được xây dựng từ thế kỉ xvii, nơi lưu giữ xá lợi của tổ viên quang có công kiến tạo lại chùa hương sau nhiều năm hoang vắng. Tháp viên công xây bằng gạch tốt, màu đỏ hồng, để lộ thiên, mạch được miết đều chứng tỏ kĩ thuật xây tháp rất tinh xảo. Tháp viên công là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc đặc sắc ỏ' thời hậu lê.

Tòa tam bảo chùa thiên trù là công trình kiến trúc có quy mô lớn, kết hợp hài hòa phong cách kiến trúc hiện đại với phong cách kiến trúc truyền thống. Do vậy, du khách chiêm ngưỡng tòa tam bảo thấy thân quen mà mới lạ, bắt gặp nét dung dị trầm lắng mà sâu xa triết lí của nghệ thuật quá khứ bên cái bộn bề của không gian nhiều chiều, của hình khối, của những mảng màu gây ấn tượng của nghệ thuật hiện đại.

Câu trả lời:

Bài văn hay thuyết minh về quảng trường Ba Đình

Nguyên nơi này vốn là khu vực cửa tây của thành hà nội cổ. Đầu thời pháp thuộc, chúng phá thành làm một vườn hoa nhỏ. Nơi đây gọi là vườn hoa pugininer.

Năm 1945 vườn hoa này được đổi tên là vườn hoa ba đình (chữ ba đình là để gợi nhó' dải đất ba đình ở tỉnh thanh hóa nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa chống pháp kéo dài từ tháng 9/1886). Nửa triệu đồng bào hà nội và phụ cận đã cuồn cuộn đổ về quảng trường này để dự lễ độc lập. Lễ đài dựng giữa quảng trường, bốn mặt hình ngôi ngôi sao vàng năm cánh. Trên thành lễ đài phủ vải vàng.

Đúng 14 giờ, các vị trong chính phủ lâm thời đã có mặt trên lễ đài. Sau lễ chào cờ, bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập. Hàng triệu đồngbào hân hoan, xúc động im lặng đón nghe tiếng nói của lãnh tụ. Bác đọc xong, chính phủ lâm thời tuyên bố. Sau đó, bộ trưởng bộ nội vụ võ nguyên giáp trình bày tình hình trong nước và chính sách của chính phủ. Bộ trưởng bộ tuyên truyền trần huy liệu báo cáo công việc tước ấn, kiếm tại huế, trình với đồng bào quả ấn và cây kiếm tượng trưng cho uy quyền của triều nguyễn mà bảo đại đã nộp cho cách mạng. Đại diện tổng bộ việt minh nguyễn lương bằng nói về cuộc đấu tranh của nhân dân và kêu gọi đoàn kết, đẩy mạnh quá trình cách mạng. Sau cùng, mít tinh biến thành biểu tình tuần hành trên các đường phố.

Ngày 9/9/1969, bảy ngày sau khi chủ tịch hồ chí minh qua đời, cũng tại quảng trường này, lễ truy điệu người đã được cử hành trọng thể. Mười vạn đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ vĩnh biệt người.

Nay mặt chính của quảng trường - mặt tây - là lăng bác. Trước lăng là quảng trường với 320 mét chiều dài, 100 mét chiều rộng, đủ chỗ cho20 vạn người dự mít tinh. Quảng trường gồm 168 ô cỏ, bốn mùa xanh tươi, ở giữa là cột cờ cao 30 mét. Lá quốc kì với năm cánh sao vàng như năm cánh hoa xòe ra trùm lên năm cửa ô hà nội. Quảng trường ba đình đã trở thành không gian thiêng liêng của thủ đô hà nội.