Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 8
Số lượng câu trả lời 331
Điểm GP 91
Điểm SP 467

Người theo dõi (91)

Nhó
Zy Zy
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (13)


Câu trả lời:

Khi luận giải về mối quan hệ giữa Kim Vân Kiều tân truyện của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, một số người băn khoăn không rõ vì sao Nguyễn Du lại chọn một tác phẩm vô danh tiểu tốt của Trung Quốc để cải biên hoặc chuyển thể và càng khó hiểu hơn ở chỗ tác phẩm cải biên hoặc chuyển thể này lại được công chúng Việt nam chấp nhận và hoan nghênh. Liệu có sự nhầm lẫn gì ở đây không ? […] Hiện tượng “người bỏ, ta lấy; người khinh, ta chuộng” cũng đã từng xảy ra trong giao lưu văn học thế giới […] Nhưng với Kim Vân Kiều tân truyện và Kim Vân Kiều truyện, tình hình không phải như vậy. Bởi lẽ đề tài “Thúy Kiều” trước Thanh Tâm tài nhân đã được rất nhiều cây bút Trung Quốc khai thác, như Dư Hoài với Vương Thúy Kiều truyện, Đới Sĩ Lâm với Lý Thúy Kiều truyện, Mộng Giác Đạo Nhân với Sinh báo Hoa Ngạc ân, tử tạ Từ Hải nghĩa trong Tam khắc phách án kinh kỳ... Và sau Thanh Tâm Tài Nhân, Diệp Trĩ Phỉ đã dựa vào Kim Vân Kiều tân truyện để sáng tác vở kịch Hổ phách thỉ và Hạ Bỉnh Hoành cũng đã theo đó để sáng tác vở kịch Song Thúy viên...

Với thực tế vừa nêu, khó mà nói truyện “Thúy Kiều” ở Trung Quốc không mấy ai để ý và Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm tài nhân chỉ thuộc loại “xoàng”. Nếu quả là “xoàng” thì tại sao Kim Vân Kiều truyện lại được liệt vào loại “Tài tử thư” của Trung Quốc ?”…

Xem lại bản chép tay Kim Vân Kiều truyện thì quả là đầu mỗi quyển đều có ghi: “Quán Hoa Đường bình luận, Kim Vân Kiều quyển chi… Thánh Thán ngoại thư”. Các bản in gần đây cũng theo đó mà in như thế.

Được xếp vào hàng “Quán Hoa Đường bình luận - Thánh Thán ngoại thư” có nghĩa là sách thuộc vào loại có giá trị nên đã được nhà phê bình kiệt xuất Kim Thánh Thán để ý xem xét, bình luận.

Việc Kim Vân Kiều truyện được Kim Thánh Thán liệt vào hàng “Thánh Thán ngoại thư” thì có thể còn xem xét - còn nếu cho là “Kim Vân Kiều truyện” là “Tài tử thư” như Trần Nghĩa đã viết ở trên thì không đúng - bởi Trung Quốc chỉ có 6 tác phẩm được Kim Thánh Thán bình luận, xếp vào danh hiệu “Tài tử thư” (lục Tài tử), gồm có: Nam Hoa kinh của Trang Tử, Ly Tao của Khuất Nguyên, Sử kí của Tư Mã Thiên, Thơ luật của Đỗ Phủ, Thủy Hử của Thi Nại Am và Tây sương kí của Vương Thực Phủ. Một số sách khác tuy được Kim Thánh Thán bình luận lưu vào thư viện riêng “Quán Hoa Đường” song chỉ thuộc hàng “Thánh Thán ngoại thư ”.

Vậy Kim Vân Kiều truyện có phải là Thánh Thán ngoại thư? Trước câu hỏi này, các nhà nghiên cứu nước ta đã không đồng nhất ý kiến: Có người tin nhưng cũng nhiều người tỏ ý nghi ngờ.

Có thể ngờ lắm bởi vì vào thời mà việc lưu truyền, phổ biến tác phẩm chủ yếu chỉ nhờ vào chép tay thì dòng chữ “Quán Hoa đường bình luận - Thánh Thán ngoại thư” ghi ở đầu truyện chưa thể xem là bằng chứng chắc chắn để tin được Kim Vân Kiều truyện được Kim Thánh Thán khen ngợi; nhất là về sau tác phẩm đã bị các học giả coi thường, đặc biệt trong số đó có nhiều học giả Trung Quốc.

Chỉ có một điều chắc chắn là sau khi Truyện Kiều của Nguyễn Du nổi tiếng, được dịch ra nhiều thứ tiếng: Pháp, Anh, Đức, Nhật, Hoa, Tiệp… thì người Trung Quốc mới ra sức tìm kiếm và biết được là nước mình có cuốn Kim Vân Kiều truyện… Từ đó họ bắt đầu chiêu tuyết. Chính GS. Đổng Văn Thành là người đã viết bài ca ngợi Kim Vân Kiều truyện, cho rằng truyện “không chỉ xây dựng một cách thành công những điển hình nghệ thuật mang đặc trưng thời đại mà còn có cống hiến quan trọng về mặt khai thác đề tài phụ nữ, về phương pháp nghệ thuật”… và “không phải đến ngày nay, mà ngay từ khi ra đời, Kim Vân Kiều truyện đã được nhiều người có quan điểm tiến bộ nhiệt liệt tán dương

Câu trả lời:

Đoạn thơ đầu của bài thơ kết thúc bằng hai chữ “Đồng chí” làm sáng tỏ thêm nội dung, ý nghĩa của cả đoạn thơ. Nó giải thích vì sao người lính từ bốn phương trời xa lạ, không hẹn gặp nhau mà bỗng trở thành thân thiết hơn máu thịt. Đó là sự gắn bó giữa những người anh cùng chung một lí tưởng chiến đấu, là sự gắn bó kì diệu, thiêng liêng và mới mẻ của tình đồng chí.

Những người lính, những đồng chí ấy ra đi chiến đấu với tinh thần tự nguyện:

Ruộng nương anh gửi bạn thân cày

Gian nhà không mặc kệ gió lung lay

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.

Họ vốn gắn bó sâu nặng với ruộng nương, với căn nhà thân thiết, nhưng cũng sẵn sàng rời bỏ tất cả để ra đi. Nhà thơ đã dùng những hình anh quen thuộc và tiêu biểu của mọi làng quê Việt Nam như biểu tượng của quê hương những người lính nông dân. Giếng nước, gốc đa không chỉ là cảnh vật mà còn là làng quê, là dân làng. Cảnh vật ở đây được nhân cách hoá, như có tâm hồn hướng theo người lính.

Tác giả tả rất thực về cuộc sống của người lính. Nhà thơ không che giấu mà như còn muốn nhấn mạnh để rồi khắc hoạ rõ nét hơn cuộc sống gian lao thiếu thốn của họ.

Câu trả lời:

Bài thơ là khúc tráng ca ngợi ca lao động tập thể và người lao động trong cảnh bát ngát của biển cả, vũ trụ. Niềm vui tin và tự hào về cuộc sống mới và con người lao động hòa nhập với cảm hứng thiên nhiên, vũ trụ vốn rất quen thuộc trong thơ Huy Cận.
Bố cục theo trình tự một chuyến đi biển của Đoàn thuyền đánh cá đồng thời cũng là sự vận động của tự nhiên theo thời gian của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh, bài thơ tạo nên nhiều bức tranh đẹp, lộng lẫy trong không gian rộng lớn của trời biển và theo trình tự thời gian như trên. (2 khổ đầu là cảnh đoàn thuyền ra khơi, 4 khổ tiếp là cảnh biển và Đoàn thuyền đánh cá , khổ 7 cảnh đoàn thuyền trở về trong bình minh).
Bút pháp vừa tả thực vừa ẩn dụ, tượng trưng với cảm hứng lãng mạn. Cảnh vũ trụ vào đêm gần gũi và yên ả. Vũ trụ như ngôi nhà lớn vào đêm với những động tác cài then, sập cửa cũng như ngôi nhà thân thuộc của mọi người. Những thời khắc vào đêm, lúc tưởng như thiên nhiên và con người lắng lại nghỉ ngơi cũng là lúc khởi đầu chuyến ra khơi, cuộc lao động không ít vất vả của đoàn thuyền. Nhưng những ngư dân ra đi với khí thể hăm hở, hào hứng, cất lên thành khúc hát căng buồm cùng gió khơi.
Phần hai là bức tranh biển đẹp và tư thế con người lao động trước thiên nhiên, vũ trụ, vẻ đẹp lung linh, sống động của biển đêm…
Những hình ảnh được gợi ra từ hình dáng, màu sắc của những loài cá biển nhưng đã được trí tưởng tượng sáng tạo của nhà thơ truyền them vẻ đẹp, tạo thành những hình tượng nghệ thuật vừa thực, vừa kì ảo. Nếu như câu đầu chỉ liệt kê những loài cá để nói sự giàu có của biển, thì ở câu thơ thứ hai: Cá song lấp lánh đuốc đen hồng Đây là hình ảnh rất đẹp tạo nên bằng sự quan sát và liên tưởng tinh nhạy. Con cá song thân dài và dày, trên vảy có những chấm tròn màu đen, màu hồng gợi ra hình ảnh cây đuốc lấp lánh dưới ánh trăng đêm và đàn cá song đang tung tăng bơi lội như hội rước đuốc tưng bừng – một hình ảnh lộng lẫy kì thú. Từ ý thơ này mà Chế Lan Viên viết:
Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về. Câu thơ Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe vừa làm sống động cái quẫy đuôi của con cá vừa ánh lên màu vàng phản chiếu dưới nước hòa hợp với màu đỏ và đen trong câu thơ trên để hoàn thành một hòa sắc lung linh như tranh sơn mài. Câu thơ cuối diễn tả sự cảm nhận về nhịp thở của vũ trụ trong đêm: nhịp thủy triều và những con sóng dập dờn; bầu trời đêm chi chit sao chiếu xuống mặt biển như là sao lùa nước Hạ Long…
Trong bao la của đại dương trời nước, hình ảnh đoàn thuyền – hình ảnh con người lao động, không hề nhỏ nhoi, đơn độc mà lớn lao ngang tầm vũ trụ và hài hòa với thiên nhiên… Cảm hứng lãng mạn và thủ pháp phóng đại, tượng trưng đã tạo những hình ảnh kì vĩ. Về người lao động (công việc đánh cá và người lao động được thi vị hóa, kì vĩ hóa). Không nên tìm ở đây sự miêu tả chính xác, cụ thể công việc và những nỗi vất vả, khó khăn nặng nhọc của người dân chài, mặc dù điều đó là có thực, rất thực.
Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên còn được thể hiện ở sự nhịp nhàng giữa sự vận động tuần hoàn của vũ trụ với trình tự công việc lao động của con người. Khi Đoàn thuyền đánh cá ra đi thì thuyền ta lái gió với buồm trăng, tức là trăng mới lên ngang cột buồm với con thuyền. Khi đoàn thuyền thả lưới, nhịp với công việc lao động của con người là những chuyển vận của thiên nhiên: biển, trăng, sao như cùng hợp lực với con người. Tác giả đã chọn thời điểm rất đẹp để kết thúc công việc đánh cá. Đó là lúc rạng đông và rạng đông cũng trở nên rạng rỡ hơn với những khoang thuyền đầy ắp cá.
Qua những bức tranh đẹp và khỏe khoắn về thiên nhiên và lao động trong Đoàn thuyền đánh cá , tác giả đã thể hiện niềm vui tin vào con người lao động và cuộc sống mới của đất nước trong thời kì mới bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc nước ta, cuối những năm 50 thế kỉ XX. Sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên và xã hội mà Huy Cận khao khát kiếm tìm thì đến thời kì này mới tìm thấy trong cuộc sống mới và đó chính là nguồn mạch mới được khơi dậy trong thơ Huy Cận.

Câu trả lời:

uyện Kiều là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại của Nguyễn Du. Tác giả đã làm nổi bật sự đối lập giữa quyền sống của con người, nhất là người phụ nữ Việt Nam, với sự áp bức của chế độ phong kiến suy tàn. Có thể nói, chủ nghĩa nhân đạo là nền tảng vững chắc cho tác phẩm này. Chủ nghĩa nhân đạo thấm nhuần trong mọi tình tiết của tác phẩm, thấm nhuần trong mọi bức tranh về con người cũng như thiên nhiên tạo vật. Nhưng tất cả bút pháp tập trung nhất ở Thúy Kiều, nhân vật trung tâm mà vận mệnh và tính cách có màu sắc bi kịch, quán xuyến toàn bộ nội dung tác phẩm. Có thể nói, màn đoàn viên là một bi kịch đau đớn nhất trong đời Kiều.

Sau 15 năm lưu lạc, chịu nhiều khổ cực và lựa chọn nhảy sông Tiền Đường để mong giải thoát khỏi kiếp khổ đau của đời người, của trần thế, thế nhưng cái chết không dành cho Kiều. Và rồi, Kiều được Kim Trọng và cả nhà tìm về từ thảo đường của Giác Duyên, sau quãng thời gian 15 năm lưu lạc. Cả nhà mừng vui mở tiệc đoàn viên. Giờ phút được trở lại cố hương chung sống với cha mẹ và hai em là một sự bất ngờ và hạnh phúc khôn xiết của Thúy Kiều. Nhưng đây cũng chính là một màn tái hợp thể hiện nghịch lý của cuộc đời, tâm trạng bi kịch và tình huống bi kịch mới lại tiếp tục xuất hiện với nàng Kiều. Từ hai sự kiện “tiệc đoàn viên’ và “đêm tái hợp” bi kịch của Kiều lại càng thêm đau đớn, với tình huống đầy kịch tính, “mối quan hệ tay ba” hết sức đặc biệt và chua xót giữa ba con người: Thúy Kiều - Kim Trọng - Thúy Vân. Với “Tiệc đoàn viên”, bên cạnh hạnh phúc đoàn tụ với gia đình, tưởng như Thúy Kiều còn có thể tìm lại hạnh phúc tình yêu. Thế nhưng, qua “Đêm tái hợp”, hạnh phúc lứa đôi đã vĩnh viễn trôi đi.

Trong mối quan hệ tay ba ấy, hình ảnh Thúy Vân xuất hiện, sự xuất hiện ấy rất đúng lúc để tạo ra một bối cảnh thích hợp cho tình huống phức tạp đang được đặt ra đối với cả gia đình, đặc biệt là đối với Thúy Kiều và Kim Trọng.

Tàng tàng chén cúc giở say

Đứng lên Vân mới giãi bày một hai

Trong tiệc hoa vui vầy, Thúy Vân đã lựa chọn thời điểm giữa chừng tiệc rượu, khi mà mọi người đã chia sẻ nỗi xúc động ban đầu và niềm vui đoàn tụ để đề cập tới chuyện tình duyên năm xưa. Với cử chỉ “Đứng lên Vân mới giãi bàymột hai”, nàng rất từ tốn khoan thai để đặt vấn đề với Thúy Kiều, một sự việc rất khó nói: thành hôn với Kim Trọng. Vì đây là câu chuyện khó nói nên Thúy Vân đã nói dài đến 14 câu thơ với nhiều liên từ và điệp ngữ:

Vậy đem duyên chị buộc vào cho em

Cũng là phận cải duyên kim

Cũng là máu chảy ruột mềm chớ sao?

Những là rày ước mai ao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

Bây giờ gương vỡ lại lành

Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi

Còn duyên may lại còn người

Còn vầng trăng cũ còn lời nguyền xưa

Những lời nói của Thúy Vân rõ ràng, mạch lạc và với Vân thì quan hệ tình cảm Thúy Kiều- Kim Trọng là một mối quan hệ thiêng liêng được tác hợp bởi Trời và thề nguyền bởi con người :

Rằng : Trong tác hợp cơ trời

Đôi bên gặp gỡ một lời kết giao

Còn mối quan hệ giữa Thúy Vân và Kim Trọng xuất phát từ biến động của cảnh ngộ gia đình, của hoàn cảnh khách quan: “Gặp cơn binh địa ba đào”. Đặc biệt, Thúy Vân nói đến tình chị em giữa Thúy Vân và Thúy Kiều như là cơ sở sâu xa của việc nàng chấp nhận lấy Kim Trọng: “Vậy đem duyên chị buộc vào cho em”. Tình cảm chị em ruột thịt chân thành tha thiết giữa hai người. Và tiếp đó như để giãi bày cùng chị và thêm thuyết phục chị để nói tình cảm của Kim Trọng lâu nay vẫn dành cho người thương năm xưa:

Nhũng là mày ước mai ao

Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình

Biết chồng “vẫn mải mê đi tìm người yêu cũ”, nhưng Thúy Vân không chỉ cảm thông mà còn đồng cảm với tình yêu sâu sắc, say đắm của Kim Trọng dành cho Thúy Kiều. Câu thơ “Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”càng khẳng định tình yêu bất diệt trước mọi thử thách của thời gian. Thúy Vân biết rằng, chị mình khó lòng chấp nhận việc tái hợp với người tình xưa. Vì vậy, Vân đã rất khéo léo nói đến mối ràng buộc thiêng liêng giữa Kim - Kiều: khuôn trời uy nghi đã tạo dựng nên mối nhân duyên này và hai người đã có lời ước nguyện thiêng liêng. Đó là những điều không thể và khó để dứt bỏ. Thế rồi, ngoài tình yêu tha thiết và những ràng buộc thiêng liêng, người em gái này còn đưa ra lý lẽ về tuổi xuân không phôi pha của người chị gái đã xa nhà từ mấy năm trước:

Quả mai ba bảy đường vừa

Đào non sớm liệu xe tơ kịp thì

Còn đối với Kiều, khi được trở về từ nơi tu hành, Kiều cứ ngỡ là yên ổn, là an toàn. Nhưng thật không ngờ cuộc đời lại đầy bi kịch, cuộc đời đau khổ lại vẫn tiếp diễn. Thúy Vân đã khơi vào vết thương, nỗi đau tưởng như đã lành của Kiều. Trong tâm trí Kiều, mối tình đẹp đẽ năm xưa đã được chôn vùi vào quá khứ dĩ vãng:

Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ

Một lời tuy có ước xưa

Xót mình dãi gió dầm mưa đã nhiều

Nói càng hổ thẹn trăm chiều

Thà cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi

Trong lúc này đây, Kiều nhớ lại 15 năm lưu lạc. Hiện lên trên tất cả là một con người - với cảm xúc về một hoàn cảnh trong quá khứ:

Thiếp từ ngộ biến đến giờ

Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa

Bấy giờ gió táp mưa sa

Một quá khứ đau khổ, phũ phàng như đang hiện diện. Mười lăm năm qua là những năm tháng ô nhục, đớn đau. Bấy giờ, Kiều đã thoát khỏi cảnh “dãi gió dầm mưa”, “ong qua bướm lại” nhưng quá khứ đó đã để lại biết bao dư vị đắng cay trong tâm hồn nàng. Và rồi nỗi ê chề, tủi nhục vẫn cứ tuôn trào, để rồi chính hoàn cảnh bi kịch trong quá khứ đã đem đến tâm trạng bi kịch trong hiện tại: “Nghĩ mình chẳng hổ mình sao…Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru”.

Tiềm ẩn phía sau tấm thảm ngôn từ trực tiếp miêu tả “vườn xuân muôn đời” của “màn tái hợp”trong Truyện Kiều là một giải kết bi kịch. Nguyễn Du đã dựng lên màn “tái thế tương phùng” để đẩy nhân vật vào sự đày đọa đau đớn nhất: 15 năm quằn quại đấu tranh và tìm kiếm để dẫn đến đoạn đời tái hợp còn đứt ruột hơn cả những nỗi đau trước đó. Hai con người với một tình yêu đẹp, giờ đây cùng sống dưới một mái nhà nhưng không được hưởng hạnh phúc lứa đôi. Còn có nỗi đày đọa nào hơn đối với trái tim những con người yêu nhau mà không được sống với nhau. Có lẽ, thà để cho Thúy Kiều chết đi còn đỡ đau đớn hơn là ban cho nàng sự tồn tại như là một án tù chung thân mãn kiếp. Nhưng đó mới là sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du khi phản ánh bi kịch của con người: khắc sâu bi kịch tinh thần của kiếp người hơn là cực tả nỗi đau vật chất.

Trong màn đoàn viên, Thúy Kiều đã thực hiện hai sự từ bỏ. Đó là từ bỏ mối tình cầm sắt với Kim Trọng và từ bỏ khúc đàn định mệnh bên trong của nàng: “Một phen tri kỷ cùng nhau/ Cuốn dây từ đây về sau xin chừa”... Có lẽ, đó là một ảo tưởng bằng an, đắp đổi sau mười lăm năm tan nát. Có lẽ, nhạc khúc cuối cùng của hồ cầm là nhạc cuối cùng của đời Kiều. Về với đoạn kết trong màn đoàn viên là tìm về với một nỗi trái ngang không dứt… Hình như, có một sự bế tắc không vượt qua ở đây? Đại thi hào băn khoăn đi tìm cách giải đáp cho câu hỏi đớn đau của con người- người phụ nữ tài sắc. Nhà thơ đã đi vào con đường mới mẻ của nghệ thuật trên cơ sở một cảm xúc đúng đắn về cuộc sống. Tình yêu và hạnh phúc của Kim - Kiều đã bị tan vỡ trong 15 năm tai biến và ngay cả trong buổi đoàn tụ, rốt cuộc là họ không thể và không bao giờ “tái hợp” như những đôi trai gái khác. Bi kịch tình yêu, hạnh phúc vẫn là một “nỗi đoạn trường” không thể nào giải quyết.

Kết thúc Truyện Kiều, phải chăng đó là một khúc đoạn trường trong cung đàn bạc mệnh, một kết thúc đầy bi kịch? Như thế, sau 15 năm lưu lạc, Kiều trở về đoàn tụ cùng gia đình. Nhưng sự đời lần nữa lại trêu đùa Thúy Kiều, nàng phải sống "lưu đày" ngay giữa nhà mình, bên cạnh người yêu mình. Tất cả được thể hiện bằng bút pháp nhân đạo sâu sắc của nhà thơ đối với nhân vật, “Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thăm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột” (Mộng Liên Đường chủ nhân).