Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 8
Số lượng câu trả lời 331
Điểm GP 91
Điểm SP 467

Người theo dõi (91)

Nhó
Zy Zy
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (13)


Câu trả lời:

3)

Trong cuộc sống có rất nhiều những chuẩn mực đạo đức đáng quý mà con người chúng ta luôn luôn theo đuổi lấy nó, bởi đó chính là mục tiêu sống của mỗi người, trong đó lòng vị tha luôn tha thứ cho người khác, nhân hậu luôn thấu hiểu và quan tâm chia sẻ cùng người khác là muốn quà vô giá và giá trị dành cho mỗi con người.Tha thứ là một phẩm chất vô cùng đáng quý của mỗi con người đó là sự vị tha, sự tha thứ và lòng nhiệt tình giúp đỡ người khác, tình cảm của con người dành cho nhau đã mang lại những tình cảm thiêng liêng và có giá trị nhất, những tình cảm đó chân thành và da diết, tha thứ là luôn biết bỏ qua cho người khác những sai lầm mà họ đã gây ra, cần phải có trái tim nhân hậu, sự cảm thông sâu sắc dành cho con người xung quanh mình đó mới là một con người biết sống đúng với giá trị và niềm tin trong cuộc sống mà mọi người ban tặng cho mỗi chúng ta. Giá trị to lớn để lại cho mỗi chúng ta là biết giữ gìn trân trọng những giá trị và niềm tin của mỗi người, những tình cảm đó thật sâu sắc và mang lại những ý nghĩa giá trị và niềm tin yêu mạnh mẽ nhất đối với con người.Tha thứ là món quà quý giá mà con người dành tặng cho con người nó không chỉ đem lại những điều tuyệt vời nhất cho họ, mà còn giúp cho tâm hồn của họ được mở rộng nhiều hơn, trái tim nhân hậu nồng cháy sẽ luôn luôn xuất hiện. Trong những tình cảm chân thành và trái tim biết yêu thương con người sẽ làm được những điều giá trị và tuyệt vời nhất, có được sự ngọt ngào, tình yêu thương vô bờ bến và những trái tim biết chứa chan những lời yêu thương sâu lắng. Ai ai cũng luôn luôn mong muốn mình có trái tim bao dung và vị tha hơn, nhưng để làm được điều đó họ cần phải rèn luyện nó mỗi ngày trao tặng những ý nghĩa to lớn và thực sự có ý nghĩa mà cuộc sống đã đem tặng cho mỗi người.Tình yêu thương đó rất bao dung và nó thể hiện được những tình cảm ngọt ngào, chân thành và da diết nhất mà con người đem lại cho nhau, giá trị của nó không chỉ dừng lại ở việc con người sẽ ngày càng rèn luyện bản thân mình nhiều hơn, mà còn có ý nghĩa giáo dục lòng người sâu sắc, trong trái tim của mỗi người tình yêu thương đó luôn luôn được cải thiện và nó sẽ trở nên hoàn hảo, lòng tha thứ bao dung cho người khác đây là một cử chỉ cao đẹp và nó bồi dưỡng tấm lòng biết bao dung độ lượng, người nào biết tha thứ cho người khác và luôn luôn biết lắng nghe thì họ sẽ là những con người có trái tim nhân hậu và được nhiều người yêu quý và đặt niềm tin vào nhất, trong cuộc đời của mỗi người giá trị của nó không chỉ để lại những điều tuyệt vời mà còn để lại những niềm tin yêu sâu sắc cho con người xung quanh chúng ta.

Mỗi ngày chúng ta học hỏi và rèn luyện đạo đức, luôn luôn biết cải tạo bản thân mình ngày càng nhiều hơn, điều đó có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó không chỉ đem lại những giá trị to lớn mà còn làm cho chúng ta có tấm lòng yêu yêu thương và vị th, biết tha thứ cho con người. Những hành động tuy nhỏ nhưng nó lại mang ý nghĩa to lớn, để mỗi cn người luôn luôn biết cải tạo lại bản thân mình nhiều hơn, làm những điều có ý nghĩa thì cuộc đời của họ sẽ được mở rộng ra nhiều khía cạnh và nó có ý nghĩa vô cùng to lớn để lại cho mỗi người.Những điều mà chúng ta làm luôn luôn để lại những giá trị to lớn nhất, bởi lẽ cuộc sống của chúng ta luôn chứa đựng những điều giá trị và ý nghĩa và giá trị nhất, bản thân mỗi con người chúng ta cần phải luôn luôn cố gắng và rèn luyện kiên trì những điều đó trong bản thân mình, có như vậy cuộc sống của chúng ta mới có nhiều ý nghĩa và giá trị hơn. Khi chúng ta làm những điều có giá trị và ban tặng cho người khác nhiều niềm tin về mình thì là lúc chúng ta làm nên được những điều mang lại những giá trị to lớn và vô cùng có ý nghĩa, mỗi người chúng ta hôm nay phải làm được những điều đó và có như vậy cuộc đời của chúng ta mới cảm thấy được yêu thương và có chứa chan tình người bao la chứa đựng trong đó.Mỗi ngày chúng ta nên học cách tha thứ cho người khác bởi giá trị mà cuộc sống đem lại cho chúng ta vô cùng lớn và nó có thể ảnh hưởng rất sâu sắc đến niềm tin yêu mà con người dành cho mình, chúng ta nên biết trân trọng và quý giá với tình cảm đó, có như vậy là chúng ta đã làm được rất nhiều những điều tốt đẹp và trao tặng cho người khác rất nhiều món quà có ý nghĩa hơn cả những thứ về mặt giá trị vật chất.

Câu trả lời:

Trong bài thơ Đồng chí, tôi muốn nhấn mạnh đến tình đồng đội. Suốt cả cuộc chiến đấu, chỉ có một chỗ dựa dường như là duy nhất để tồn tại, để chiến đấu là tình đồng chí, tình đồng đội Đồng Chí ở đây là tình đồng đội. Không có đồng đội, như không thể nào hoàn thành được trách nhiệm. Bài Đồng chí là lời tâm sự viết ra để tặng người lính, tặng đồng đội của mình.”.thật vậy, không gian trữ tình trong Đồng chí giá buốt mà không lạnh lẽo. Hơi ấm tỏa ra từ tình người,tình tri kỉ, kề vai sát cánh bên nhau của những con người chung lí tưởng, chung chí hướng. Họ sống trong tình đồng đội, nhờ đồng đội, vì đồng đội. Điểm giống nhau về cảnh ngộ xuất thân giúp họ có thể dễ dàng gần gũi, đồng cảm với nhau: ''Quê hương anh.....quen nhau'' .Anh và tôi" chỉ giống nhau cái nghèo khó của đất đai, đồng ruộng. Anh từ miền quê ven biển: “nước mặn đồng chua”. Tôi từ vùng đất cao “cày lên sỏi đá”. Hai người xa lạ,hai phương trời xa lạ trở thành tri kỉ :'' Súng bên súng ......tri kỉ ''.Những người ấy gặp nhau trong cuộc chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc đã xóa bỏ mọi khoảng cách xa lạ về không gian nơi sinh sống của mỗi người. “Súng bên súng” là chung chiến đấu, “đầu sát bên đầu” thì chung rất nhiều: không chỉ là gần nhau về không gian mà còn chung nhau ý nghĩ, lí tưởng” . Đến khi đắp chung chăn trong đêm giá rét thì họ đã thực sự là anh em một nhà trở thành những anh em thân thiết , có khi còn hơn những anh em ruột thịt .( hì...mình nghĩ đươc có vậy thôi à...nếu bạn nghĩ đc câu nào hay hơn thì cứ cho vào nha ...giúp câu thơ mượt hơn đó ).Nhà thơ Tố Hữu từng viết: “Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng” để thể hiện tình kháng chiến gắn bó, bền chặt. Để nói về sự gần gũi, sẻ chia về cái thân tình ấm áp không gì hơn là hình ảnh đắp chăn chung. Như thế, tình đồng chí đặt bắt nguồn từ cơ sở một tình tri kỉ sâu sắc, từ những cái chung giữa “anh” và “tôi”.Câu thơ thứ bảy chỉ gồm hai tiếng : Đồng chí .Nếu không kể nhan đề thì đây là lần duy nhất hai tiếng Đồng chí xuất hiện trong bài thơ, làm thành riêng một câu thơ.(nếu bạn muốn hay hơn nưã thì trước tiên hãy nói hai từ Đồng Chí ngân vang lên ở câu thơ thứ bảy thật đặc biệt nha ) . Câu này có ý nghĩa quan trọng trong bố cục của toàn bài. Nó đánh dấu một mốctrong mạch cảm xúc và những ý nghĩa sâu xa. Sáu câu thơ đầu là tình đồng đội, tri kỉ, đến đây được nâng lên thành tỉnh đồng chí thiêng liêng . Đồng chí là không chỉ có sự gắn bó thân tình mà còn là cùng chung chí hướng , chung mực đích. Gọi nhau là đồng chí thì nghĩa là đồng thời với tư cách họ là những con người cụ thể, những cá thể, nghĩa là từng người không chỉ là riêng mình. Hai tiếng đồng chỉ vừa giản dị, lại vừa cao quý, lớn lao là vì thế. Phần tiếp theo của bài thơ, với những chi tiết, hình ảnh cụ thể tác giả đã thể hiện tình cảm sâu sắc của những người Đồng chí. Trước hết, họ cùng chung một nỗi nhớ quê hương:''Ruộng nương anh .....ra lính '' .Trong nỗi nhớ quê hương đó, còn xen lẫn nỗi có nỗi nhớ ruộng nương, nhớ nhà, nhớ giếng nước, gốc đa .Nỗi nhớ ở đây là nỗi nhớ hai chiều. Nói. “giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính" cũng là nói lên nỗi nhớ quê , nhớ giếng nước, gốc đa. Tình quê hương luôn đậm sâu trong những người đồng chí, là sự đồng cảm của những người đồng đội.Người lính hiện lên thật cứng cỏi, dứt khoát lên đường theo tiếng gọi non sông song tình quê hương trong mỗi người không khi ”nào phai mờ. Và bên cạnh hình bóng quê hương, điểm tựa vững chắc cho người lính, là đồng đội:'' Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh ......tay lắm lấy bàn tay '' .Bài thơ kết bằng hình tượng những người đồng chí trong thời điểm thực tại, khi họ đang làm nhiệm vụ chiến đấu:'' Đêm rừng hoang sương muối .......đầu súng trăng treo '' . Có thể xem đây là một trong những hình ảnh thơ đẹp nhất về người lính trong thơ ca kháng chiến. Ba câu thơ phác ra một bức tranh vừa mang chất chân thực của bút pháp hiện thực, vừa thấm đẫm cái bay bổng của bút pháp lãng mạn.Hình ảnh người lính hiện lên : khẩu súng - vầng trăng. Dưới cái nhìn của người trong cuộc, người trực tiếp đang cầm súng, trong một sự kết hợp bất ngờ, đấu súng và vầng trăng như không còn khoảng cách xa về không gian, để thành: “Đầu súng trăng treo”.Sự quan sát là hiện thực, còn sự liên tưởng trong miêu tả là lãng mạn. Hình ảnh súng tượng trưng cho hành động chiến đấu, tinh thần quyết chiến vì đất nước. Trăng tượng trưng cho cái đẹp yên bình, thơ mộng. Hình ảnh “đầu súng trăng treo” mang ý nghĩa khái. quát về tư thế chủ động, tự tin trong chiến đấu. Nói rộng ra, hai hình ảnh tương phản sóng đôi với nhau tạo nên biểu tượng về tình thân, ý chí sắt đá mà bay bổng, trữ tình của dân tộc Việt Nam, chung nhau cảnh ngộ, chung nhau lí tưởng, chung nhau cái rét, cái khổ,... những người lính - những người đồng chí sống, chiến đấu vì sự nghiệp chung của dân tộc, Bài thơ Đồng Chí đã thể hiện rất rõ vẻ đẹp của những con người sống và chiến đấu cho hạnh phúc và tự do. Mình nghĩ vậy nha...nếu như có sai sót thì cho mình xin lỗi

Câu trả lời:

1) Sau bao tháng ngày đau đớn, ê chề, tủi nhục chốn lầu xanh. Tôi may mắn gặp được Từ Hải, chàng đã giúp tôi thoát khỏi cuộc sống chốn nhơ bẩn, còn giúp tôi trả ơn nghĩa và trả mọi oán giận. Ngày diễn ra cảnh trả mọi ân oán đó khiến tôi không thể nào quên.
Người đầu tiên mà tôi cho mời đến để báo ân lại chính là chàng Thúc Sinh. Tôi nói với chàng Thúc rằng: "Khi tôi gặp hoạn nạn ở lầu xanh, chàng là người có tấm lòng hào hiệp đã ra tay cứu giúp, nghĩa ấy làm sao tôi quên được. Dù chúng ta đã chẳng nên vợ nên chồng như chàng đã từng mong ước, nhưng mà suốt đời tôi vẫn nhớ ơn chàng, nay có món quà nhỏ gửi chàng để tỏ chút lòng thành. Còn vợ chàng thì tai quái quá phen này phải trả giá thôi.
Khi Hoạn Thư vừa được đưa ra, tôi đã chào cô ta bằng giọng điệu như trước đây khi tôi bị ép làm hoa nô phục dịch trong nhà của cô ta: Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây. Ngày xưa bà ăn ở ác độc như thế, thì nay phải gánh chịu tất cả, gieo gió thì gặp bão, càng cay nghiệt lắm thì càng oan trái nhiều. Đàn bà hạng như bà ở thế gian thật hiếm. Nghe tôi nói như vậy Hoạn Thư rụng rời phách lạc hồn xiêu. Thế nhưng vốn bản tính mưu mô và thuộc lại đàn bà lắm mồm lắm miệng ngay lập tức mụ đã lên tiếng kêu ca: “Tôi cũng chỉ là phận đàn bà thôi, mà đàn bà thì vốn dĩ hay ghen tuông, chẳng ai chịu nhường chồng mình cho người khác cả. Với lại tôi cũng rất yêu quý nàng, kính yêu nàng khi nàng trốn khỏi Quan Âm Các tôi đã không cho người đuổi theo. Nhưng dẫu sao tôi cũng là người có tội chỉ mong nàng rộng lượng bao dung mà tha thứ cho tôi”. Trước những lời lẽ khôn ngoan, chặt chẽ như vậy, tôi nghĩ rằng “thôi tha cho mụ ta cũng là điều làm phúc”, cho nên truyền quân lệnh tha bổng Hoạn Thư.

Câu trả lời:

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ của dân tộc, đã có rất nhiều nhà văn, nhà thơ đã sáng tạo ra những áng thơ văn thấm đượm tinh thần dân tộc, đó là tình yêu quê hương đất nước, đó là tinh thần đấu tranh quật cường, là tình đồng đội đồng chí trong chiến tranh. Viết về mảng đề tài chiến tranh, các nhà văn, nhà thơ thường có khuynh hướng khắc họa lên những hình tượng người lính, cũng như tình cảm gắn bó, đoàn kết giữa họ như một cách lí giải đến sức mạnh phi thường của quân dân Việt Nam, cũng như những cơ sở, tiền đề cho thắng lợi sau này của Cách mạng Việt Nam, cùng viết về những người lính, cả Chính Hữu và Phạm Tiến Duật đã khắc họa lên hình tượng những người lính thật đẹp, thật đáng trân trọng.

Bài thơ “Đồng chí” của nhà thơ Chính Hữu và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ Phạm Tiến Duật là những bài thơ tiêu biểu trong phong trào thơ ca kháng chiến, đều hướng tới khắc họa hình tượng của những người lính trong chiến tranh. Trong những bức chân dung ấy, những người lính đều hiện lên với bao vẻ đẹp của phẩm chất, của lí tưởng. Họ đều là những người hùng của thời đại, là những con người vô danh nhưng lại là những người mang lại cuộc sống “hữu danh” cho chúng ta ngày hôm nay, họ đều là những người sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời cho nền độc lập, tự do cho dân tộc, đất nước Việt Nam.

Viết một bài văn trình bày cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Viết một bài văn trình bày cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong hai bài thơ Đồng chí và Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Tuy có những điểm tương đồng trong lí tưởng, trong phẩm chất nhưng hình ảnh của những người lính trong thơ của Chính Hữu và trong thơ của Phạm Tiến Duật lại mang những vẻ đẹp tiêu biểu riêng cho từng thời đại, thể hiện được tài năng cũng như tư tưởng sâu sắc riêng của mỗi nhà thơ. Trước hết ta đi tìm hiểu về hình tượng người lính trong bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu. Bài thơ này được viết trong thời kì kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu không chỉ khắc họa hình tượng người lính mà còn từ những hình tượng độc lập ấy để làm nổi bật hơn tình cảm đồng đội, đồng chí của những người lính.

“Quê hương anh nước mặn đồng chua
Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
Tôi với anh đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Những người lính vốn không hề có quan hệ gì trước đó, họ là những người nông dân nghèo đến từ khắp các miền quê nghèo cả nước, hoàn cảnh sống khó khăn lại nghe tiếng gọi của Tổ quốc, họ đã lên đường ra chiến trận cầm súng đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của đất nước, của xóm làng, bảo vệ cho cuộc sống cho những người mà họ yêu thương.Vì vậy, từ những người xa lạ, chẳng hề quen biết, vì có cùng lí tưởng cứu nước mà họ gặp nhau, cùng nhau chiến đấu và trở thành những người đồng đội. Trong cuộc sống ác liệt, thiếu thốn, khắc nghiệt của chiến tranh, chiến trường những người lính đã cùng nhau xẻ chia những ngọt bùi, những gian khó trong cuộc sống. Từ đó, họ từ những người đồng đội dần trở nên gắn kết, trở thành những người đồng chí:“Súng bên súng, đầu sát bên đầu

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ
Đồng chí!”

Không chỉ nhấn mạnh ở tình đồng chí khăng khít, gắn bó mà nhà thơ Chính Hữu còn làm nổi bật lên những phẩm chất đáng quý ở những người lính, đó là lí tưởng xả thân vì tổ quốc, sẵn sàng dâng hiến tất cả, không chỉ là cuộc đời, tuổi trẻ mà cả sự sống của chính mình, họ coi cái chết nhẹ tựa hồng mao, đi không hẹn ngày về, chính những lí tưởng cao đẹp đó càng làm cho hình tượng những người lính trở nên lộng lẫy, đáng quý hơn:

“Ruộng nương tôi gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính
Đầu súng trăng treo”

Nếu như bài thơ “Đồng chí” được sáng tác vào cuộc kháng chiến chống Pháp thì bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” lại được Phạm Tiến Duật sáng tác trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, nói đến thời gian sáng tác bởi yếu tố thời đại có sự chi phối rất lớn đến ngòi bút của nhà văn. Ở trong tác phẩm của mìn, nhà thơ Phạm Tiến Duật xây dựng lên hình ảnh của những người lính lái xe trên tuyến đường Trường Sơn với tất cả những vẻ quyết tâm, lí tưởng dâng hiến hào hùng mà không kém phần đáng yêu bởi chính những nét trẻ trung, tinh thần lạc quan của họ trước những khó khăn, họ hồn nhiên kể về những chiếc xe không kính bởi bom đạn của chiến tranh:

“Không có kính không phải xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”

Những chiếc xe cùng đồng hành với những người lính lái xe vượt qua không khí hủy diệt đầy dữ dội của bom đạn, những chiếc xe bị tàn phá nặng nề, những tấm kính vỡ đi khiến cho diện mạo của chúng cũng thật lạ lùng. Nhưng những hủy hoại về vật chất ấy có đáng kể chi, những người lính vẫn ung dung lái xe, thực hiện nhiệm vụ chi viện của mình. Ngồi giữa buồng lái trống trải, những người lính vẫn mang những khát vọng đấu tranh, khát vọng hòa bình cho dân tộc, những khát vọng đó không được hoa mĩ miêu tả mà đơn thuần chỉ thể hiện qua ánh mắt “nhìn thẳng” của họ. Những người lính lái xe còn hiện lên với vẻ lạc quan, yêu đời lại có những nét hồn nhiên, đáng yêu:

“Không có kính, ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”

Vậy là những người lính không những không bị những khó khăn, không bị mưa bom bão đạn làm nhụt ý chí mà ngược lại họ còn chủ động chung sống với những khó khăn, thậm chí lấy đó làm niềm vui cho cuộc sống, hình ảnh những người lính hiện lên mới thật chân thực làm sao, bởi họ không chỉ có những phẩm chất kiêu bạc, ngạo nghễ của những người anh hùng mà còn tồn tại cả những nét đáng yêu, lạc quan, ung dung của những con người luôn tin tưởng vào sự tất thắng trong tương lai, tồn tại những phẩm chất rất con người. Lí tưởng của những người lính lái xe cũng làm ta cảm phục, ngưỡng mộ “Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim”

Cả “đồng chí” của Chính Hữu và bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật đều xây dựng lên những bước tượng đài về những người lính, họ đều là những con người sống tình nghĩa cùng lòng yêu nước mãnh liệt, tinh thần đấu tranh quật cường mạnh mẽ.

Câu trả lời:

+ Vũ Nương trong 'Chuyện người con gái Nam Xương' được tác giả Nguyễn Dữ gợi lên cho người đọc là một người con gái nết na, công dung ngôn hạnh. Nàng hết mực chung thủy với chồng và hiếu thảo với mẹ già nhưng lại gặp phải bi kịch oan trái. Và một trong những chi tiết tạo nên tình hướng truyện này cho nàng xuất phát từ 'cái bóng'.

+ Vì thương con, mỗi đêm Vũ Nương trỏ bóng mình nói với con là cha – bé đản tin thật rồi đêm kể với Trương Sinh “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông biết nói, chứ không như cha tôi trước khi chỉ nín thin thít…”. Chàng vốn tính hay ghen nên làm cái cớ nghi ngờ vợ thất tiết và đuổi vợ đi. Vũ nương không thể tự minh oan nên đã tìm đến cái chết để tự vẫn.

+ Như vậy, chi tiết cái bóng 1 này đã giúp xây dựng tình huống truyện, nó điểm thắt nút tạo nên bi kịch cho Vũ Nương, đồng thời tạo nên sự mâu thuẫn cho người đọc cảm thấy phẫn nộ và uất ức thay cho nàng. Do đó, chi tiết cái bóng đồng thời cũng góp phần tạo nên sự kịch tính và cao trào cho câu chuyện.

- Mở nút (giải quyết vấn đề): Chi tiết cái bóng thứ 2 là cái bóng của Trương Sinh

Nếu như chi tiết 'cái bóng 1' đẩy Vũ Nương vào chỗ chết thì cái bóng hai lại có ý nghĩa giải oan cho Vũ Nương.

Sau khi thấy bóng Trương Sinh, bé Đản liền gọi cha “trong một đếm phòng không vắng vẻ” chỉ có hai cha con, bé Đản chỉ chiếc bóng trên tường và nói: “Cha Đản lại đến kìa!” => từ đây Trương Sinh mới vỡ lẽ ra mọi chuyện và hiểu cho nỗi oan ức của vợ mình.

b, Giá trị nhân đạo của Chuyện người con gái Nam Xương qua chi tiết cái bóng

- Chi tiết cái bóng không chỉ có vai trò thắt nút và mở nút cho tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương mà nó góp phần tô đậm thêm vẻ đẹp của Vũ Nương trong vai trò làm vợ, làm mẹ. Nàng dùng cái bóng của mình để thể hiện thỏa nỗi nhớ chồng đang đi lính xa. Đây còn là phép ẩn dụ tình cảm vợ chồng gắn bó mà nàng dành cho chàng "như hình với bóng".

>>Xem thêm: Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

- Đồng thời, Vũ Nương dùng cái bóng cũng để bù đắp tình cảm cho con, xuất phát từ tình yêu vô bờ bến, dỗ dành con khi không có cha bên cạnh và nàng sẽ là người bù đắp cho những thiếu thốn ấy.

c, Giá trị tố cáo; cái bóng – mờ ảo + lời con trẻ = bi kịch oan khuất

- Chi tiết cái bóng được xem như ẩn dụ cho số phận của phụ nữ như bóng mờ ảo. Họ không có quyền được sống, không có quyền lên tiếng hay phản kháng để bảo vệ mình. => Qua đó, ta thật thương xót thay cho người phụ nữ dưới xã hội phong kiến xưa.

- Đồng thời, chi tiết cái bóng còn có giá trị phê phán, tố cáo xã hội phong kiến nam quyền bất công, lên án nạn nam quyền với những lễ giáo phong kiến hà khắcđẩy phụ nữ vào những bi kịch. Chỉ là một cái bóng - chi tiết mờ ảo hư vô nhưng lại có sức mạnh to lớn: đẩy Vũ Nương đến cái chết.

Câu trả lời:

+ Vũ Nương trong 'Chuyện người con gái Nam Xương' được tác giả Nguyễn Dữ gợi lên cho người đọc là một người con gái nết na, công dung ngôn hạnh. Nàng hết mực chung thủy với chồng và hiếu thảo với mẹ già nhưng lại gặp phải bi kịch oan trái. Và một trong những chi tiết tạo nên tình hướng truyện này cho nàng xuất phát từ 'cái bóng'.

+ Vì thương con, mỗi đêm Vũ Nương trỏ bóng mình nói với con là cha – bé đản tin thật rồi đêm kể với Trương Sinh “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông biết nói, chứ không như cha tôi trước khi chỉ nín thin thít…”. Chàng vốn tính hay ghen nên làm cái cớ nghi ngờ vợ thất tiết và đuổi vợ đi. Vũ nương không thể tự minh oan nên đã tìm đến cái chết để tự vẫn.

+ Như vậy, chi tiết cái bóng 1 này đã giúp xây dựng tình huống truyện, nó điểm thắt nút tạo nên bi kịch cho Vũ Nương, đồng thời tạo nên sự mâu thuẫn cho người đọc cảm thấy phẫn nộ và uất ức thay cho nàng. Do đó, chi tiết cái bóng đồng thời cũng góp phần tạo nên sự kịch tính và cao trào cho câu chuyện.

- Mở nút (giải quyết vấn đề): Chi tiết cái bóng thứ 2 là cái bóng của Trương Sinh

Nếu như chi tiết 'cái bóng 1' đẩy Vũ Nương vào chỗ chết thì cái bóng hai lại có ý nghĩa giải oan cho Vũ Nương.

Sau khi thấy bóng Trương Sinh, bé Đản liền gọi cha “trong một đếm phòng không vắng vẻ” chỉ có hai cha con, bé Đản chỉ chiếc bóng trên tường và nói: “Cha Đản lại đến kìa!” => từ đây Trương Sinh mới vỡ lẽ ra mọi chuyện và hiểu cho nỗi oan ức của vợ mình.

b, Giá trị nhân đạo của Chuyện người con gái Nam Xương qua chi tiết cái bóng

- Chi tiết cái bóng không chỉ có vai trò thắt nút và mở nút cho tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương mà nó góp phần tô đậm thêm vẻ đẹp của Vũ Nương trong vai trò làm vợ, làm mẹ. Nàng dùng cái bóng của mình để thể hiện thỏa nỗi nhớ chồng đang đi lính xa. Đây còn là phép ẩn dụ tình cảm vợ chồng gắn bó mà nàng dành cho chàng "như hình với bóng".

>>Xem thêm: Cảm nhận vẻ đẹp của nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương

- Đồng thời, Vũ Nương dùng cái bóng cũng để bù đắp tình cảm cho con, xuất phát từ tình yêu vô bờ bến, dỗ dành con khi không có cha bên cạnh và nàng sẽ là người bù đắp cho những thiếu thốn ấy.

c, Giá trị tố cáo; cái bóng – mờ ảo + lời con trẻ = bi kịch oan khuất

- Chi tiết cái bóng được xem như ẩn dụ cho số phận của phụ nữ như bóng mờ ảo. Họ không có quyền được sống, không có quyền lên tiếng hay phản kháng để bảo vệ mình. => Qua đó, ta thật thương xót thay cho người phụ nữ dưới xã hội phong kiến xưa.

- Đồng thời, chi tiết cái bóng còn có giá trị phê phán, tố cáo xã hội phong kiến nam quyền bất công, lên án nạn nam quyền với những lễ giáo phong kiến hà khắcđẩy phụ nữ vào những bi kịch. Chỉ là một cái bóng - chi tiết mờ ảo hư vô nhưng lại có sức mạnh to lớn: đẩy Vũ Nương đến cái chết.