Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đồng Nai , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 76
Số lượng câu trả lời 1592
Điểm GP 486
Điểm SP 1117

Người theo dõi (158)

An Hoàng
FAN ONE PIECE
nguyễn văn nam
Yến Nguyễn

Đang theo dõi (6)

Yến Nguyễn
Nguyễn Khánh Ly
Thu Hồng
Đỗ Quyên

Câu trả lời:

Giấy và nghề in được phát minh như thế nào?

* Giấy:

Vào thời Tây Hán, Trung Quốc đã bắt đầu phát minh ra giấy. Nhưng phương pháp sản xuất còn thô sơ, giấy hồi đó vẫn chưa được dùng để viết. Đến thời Đông Hán, nhà phát minh Sái Luân, vào năm 105, đã cải tiến nghề làm giấy. Ông dùng vỏ cây, vải rách… để làm nguyên liệu sản xuất giấy. Sau khi giấy được phát minh và sử dụng rộng rãi, dần dần thay thế cho các thanh tre, thanh gỗ và các tấm vải để dùng viết sách.

*Nghề in:

Một cuốn sách muốn trở thành nhiều cuốn khác phải tốn rất nhiều công sức, thời gian, ảnh hưởng đến việc phổ cập và truyền bá văn hoá. Tổ tiên ta đã tích cực tìm cách cuối cùng đã hoàn thành công trình truyền bá văn hoá - nghề in đã được phát minh. 

Khởi nguồn của nghề in, phải nói đến là các con dấu và bia khắc. Con dấu là các hình và chữ khắc trên ngọc, gỗ hoặc đá. Chúng xuất hiện sớm nhất vào thời Xuân thu Chiến quốc. Theo “Sử Ký”, sau khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, muốn chiến công của mình được lưu lại muôn đời, ông đã cho khắc vào bia đá ở nhiều nơi. Năm 175, theo đề nghị của nhà học giả Sái Ung, Hoàng đế đã sai khắc “Ngũ kinh” của đạo Nho vào bia đá, để các học sinh viết theo. Hai trăm năm sau, có người đã phát minh ra phương pháp “vỗ” vào bia đá, tạo ra ấn phẩm đầu tiên trên thế giới.

Việc sử dụng con dấu và đá khắc lâu dài đã tạo điều kiện cho nghề in ra đời. Tổ tiên ta khi sử dụng con dấu, vẫn phải bôi lên mặt con dấu một lớp bùn in mỏng.Từ sự gợi ý của con dấu, người ta khắc những trang sách lên tấm gỗ giống như khắc những con dấu, rồi đem in. Trải qua rất nhiều cố gắng của nhiều người, đến đời Tống, Tất Thăng đã phát minh ra lối in chữ rời. Ông đã lấy keo đất làm thành các phôi theo cùng một quy cách. Mỗi đầu khắc chữ ngược, bỏ vào lò nung cho cứng lại, thế là thành các chữ rời (bằng sứ). Chữ rời được xếp thành bảng, dùng một khung ván bằng sắt, trước hết quét lên ván sắt một lớp sáp và nhựa thông, sau đó nhặt một chữ rời xếp vào trong khung. Xếp đầy một khung làm thành một bản. Sau đó hơ lên lửa, sáp và nhựa thông sẽ chảy ra, người ta lại lấy mặt ván phẳng ép lên, sáp và nhựa thông đông cứng lại, chữ rời sẽ bám chặt vào ván sắt, lúc này chúng ta có thể quét mực đặt giấy, lăn ép để in. Phát minh này sau đó đã được cải tiến lên với các chữ rời bằng đồng, bằng chì…

Câu trả lời:

Cảnh dòng sông và hai bên bờ :

* Trước khi vượt thác

-Dòng sông chảy ở đồng bằng hiền hoà, êm đềm thơ mộng yên bình

-Cánh buồm nhỏ căng phồng, thuyền rẽ sóng lướt bon bon.

-Xung quanh những bãi dâu trải bạt ngàn.

-Thuyền nào cũng xuôi chầm chậm.

-Dòng sông khi sắp đến chân thác

+ Cảnh sắc đã có sự thay đổi trở nên hoang sơ, hùng vĩ, bí hiểm

+ Vườn tược cây um tùm.

+ Những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm.

+ Núi cao như đột ngột hiện ra chắn ngay trước mặt.

* Khi vượt thác

-Cảnh thiên nhiên dữ dội, đầy đe doạ, uy hiếp tinh thần con người

-Nước từ trển cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng, chảy đứt đuôi rắn

-Thuyền vùng vằng cứ chực tụt xuống quay đầu chạy về phía Hoà Thước.

-Con người phải vật lộn “Suốt buổi chống liền tay không phút hở”.

* Sau khi vượt thác

-Cảnh sắc dần dần thay đổi

+Từ chỗ gập ghềnh khúc khuỷu của núi rừng

+Dòng nước cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững

+Qua nhiều lớp núi.

- Đến chỗ êm đềm bằng phẳng của đồng ruộng

+ Đồng ruộng lại mở ra.

Nhận xét:

-Vị trí của quan sát là ngồi ở trên thuyền đi dọc theo dòng sông.

-Đây là một vị trí rất thích hợp vì:

+Người quan sát có thể thấy được những cảnh tượng đang thay đổi trên hai bên bờ sông.

+ Vừa quan sát được viễn cảnh - lại vừa nhìn được cận cảnh như những thước phim quay chậm.

-Cảnh vật được tái hiện qua tâm trạng của người trong cuộc từ sự náo nức nôn nao lúc bắt đầu cuộc hành trình: “Thuyền rẽ sóng bon bon như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp” để thả hồn đắm say vào những cảnh vật thiên nhiên thơ mộng kì thú. Với những hàng dâu bạt ngàn đến tận những làng xa tít “Những chân cây cổ thụ” hùng vĩ uy nghi “những thác nước dựng đứng phóng từ trên cao xuống” đến sự cảm phục ngưỡng mộ về sự “oai linh và hùng vĩ” của con người khi vượt qua thác dữ.

Câu trả lời:

Đoạn sông phẳng lặng trước khi đến chân thác:

Những chi tiết  miêu tả cảnh hai bên bờ sông: "Những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến tận những làng xa tít.", " Càng về ngược, vườn tược càng um tùm."," Dọc sông, những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước. Núi cao như đột ngột hiện ra chắn ngang trước mặt." 

Những chi tiết  miêu tả dòng sông: " Mùa nước còn to", "Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn"

Đoạn sông có nhiều thác dữ:

- Những chi tiết miêu tả dòng nước: "Dượng Hương Thư đánh trần đứng sau lái co người phóng chiếc sào xuống lòng sông nghe một tiếng “soạc” ! Thép đã cắm vào sỏi! Dượng Hương ghì chặt trên đầu sào, lấy thế trụ lại, giúp cho chú Hai và thằng Cù Lao phóng sào xuống nước. Chiếc sào của dượng Hương dưới sức chống bị cong lại. ", "Nước bị cản văng bọt tứ tung, thuyền vùng vằng cứ chực trụt xuống, quay đầu chạy về lại Hòa Phước."

Đoạn sông đã qua thác dữ:

- Những chi tiết  miêu tả dòng sông: "Dòng sông cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững"

- Những chi tiết miêu tả cảnh hai bên bờ sông: "Dọc sườn núi, những cây to mọc giữa những bụi lúp xúp nom xa như nhữngcụ già vung tay hô đám con cháu tiến về phía trước. Qua nhiều lớp núi, đồng ruộng lại mở ra."