Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hưng Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 8
Số lượng câu trả lời 331
Điểm GP 91
Điểm SP 467

Người theo dõi (91)

Nhó
Zy Zy
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (13)


Câu trả lời:

Chủ nghĩa đế quốc là sự thành lập và duy trì một nền kinh tế, văn hóa, lãnh thổ bất bình đẳng giữa những quốc gia và thường là hình thức của các đế quốc dựa trên sự thống trị và lệ thuộc. Thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc thường đề cập đến những lãnh thổ địa lý và chính trị
chủ ngiã đế là kẻ thù chung của nhân dân TG, là kẻ chủ mưu gây ra các cuộc chiến tranh TG, và là kẻ thù nguy hiểm đối với hòa bình an ninh và tiến bbộ XH
+++, Đặc điểm:
Tập trung sản xuất và tập trung tư bản đến mức tạo thành những tổ chức lũng đoạn.
+ Thực chất độc quyền là tổ chức liên minh giữa các nhà tư bản kếch xù
+ Mục đích là lợi nhuận độc quyền.
+ Độc quyền không làm mất đi cạnh tranh mà trái lại làm cạnh tranh gay gắt thêm.
+ Đây là đặc điểm cơ bản nhất của kinh tế TBCN.

Xuất khẩu TB: Là xuất khẩu vốn và kĩ thuật vào các nước đang có nhu cầu phát triển.
+ Hình thức: cho vay, viện trợ hoặc đầu tư trực tiếp.
+ Mục đích: là để nô dịch và bóc lột kinh tế dẫn đến các nứớc nhập khẩu trở thành phụ thuộc cả kinh tế lần chính trị.
Hình thành các khối liên minh TB lũng đoạn quốc tế phân chia thị trường thế giới.
+ Mục đích : Hình thành các mối liên minh này để đảm bào lợi nhuận và bóc lột nhân dân thế giới
Nguyên nhân bùng nổ hai cuộc chiến tranh thế giới.

Các cường quốc đế quốc đấu tranh với nhau để phân chia và phân chia lại lãnh thổ thế giới.
+ Từ sau năm 1880, những cuộc xâm chiếm thuộc địa bắt đầu phát triển mạnh.
+ Đến cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, các nước đế quốc đã hoàn thành phân chia lãnh thổ thế giới và bước vào đấu tranh gay gắt để phân chia lại.
Các cường quốc đấu tranh để phân chia lại lãnh thổ thế giới.
Bản chất kinh tế của CNĐQ là độc quyền
- Bản chất chính trị của CNĐQ là phản dân chủ, hiếu chiến
- Các nước đế quốc luôn mâu thuẫn gay gắt với nhau.

Câu trả lời:

Ý 1: vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp
- Vũ Nương là người xinh đẹp, thùy mị, nết na:
Dẫn chứng: Vì xinh đẹp nên chàng trương say đắm cưới về làm vợ, khi chồng có tính đa nghi nàng k bao giờ để xảy ra bất hòa, lời nói khéo léo, dịu dàng lúc tiễn đưa chồng ra trận
- Nàng còn là người phụ nữ đảm đang, hiếu thảo, thủy chung
DC: + Đảm đang: vừa là người vợ, là người mẹ, người chồng
+Hiếu thaỏ: chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, khi mẹ ốm lo thuốc thang, khi mẹ mất lo ma chay
chú ý lời nói của mẹ chồng là lời khẳng định về phẩm chất của Vũ nương ( Đặt trong XHPK thì câu nói càng có giá trị) " Xanh kia quyết không phụ con, cũng như con chẳng phụ mẹ"
+Thủy chung: Luôn nhớ mong chồng " Mỗi khi thấy bứom lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời k thể nào ngăn đươc"
- Không những thế nàng còn là người trong sáng, trinh bạch: Khi chồng vi oan nàg đã lấy cái chết để chứng minh tấm lòng trong sạch của mình.
- Vũ Nương còn là người bao dung, độ lượng và tình nghĩa:
DC: Nàng trở về trên kiệu hoa nhưng k một lời oán trách chồng, thậm chí còn nói những lời dịu dàng" Đa tạ tình chàng thiếp chẳng thể trở về nhân gian được nữa.
=> Sau khi phân tích các phẩm chất cụ thể bạn đánh giá chung về phẩm chất của nhân vật này:
Vũ Nương mang đầy đủ phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ trong XHPK.
Ý 2: Mặc dù vậy nàng phải chịu số phận bất hạnh
Bạn phân tích bi kịch gia đình và cái chết của Vũ Nương.
Ý 3. Đánh giá về nhân vật: Nhân vật Vũ Nương là đại diện cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến có phẩm chất cao đẹp nhưng phải chịu nhiều bất hạnh. Qua nhân vật này tác giả muốn ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ, đồng thời cũng lên án XHPK bất công cướp đi quyền sống của họ.

Câu trả lời:

Trong Truyện Kiều, có nhiều đoạn thơ tả rất hay nỗi cô đơn, nhớ nhà của Kiều, nhưng không đoạn thơ nào thể hiện được trạng thái bi đát, bế tắc, đơn côi như đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích.Sau khi biết mình bị bán vào lầu xanh, Kiều đã tự tử nhưng không chết. Biết Kiều tính khảng khái, cứng rắn, Tú Bà cho Kiều ở riêng trong lầu Ngưng Bích để thực hiện âm mưu khác. Trong thời gian này, sức khỏe của nàng mới được hồi phục, nhưng tình cảm lại rất cô đơn. Chết thì nàng không chết nữa, vì sợ bị liên lụy đến cha mẹ, nhưng sống thì sẽ sống như thế nào? Một thân một mình nơi hoàn toàn xa lạ, từ cổ vỏ thân? Đây là đoạn thơ bay nổi tiếng trong Truyện Kiều, cực tả nỗi lòng cô đơn, buồn thảm, bi đất của nàng.Nguyễn Du vẽ ra khung cảnh xung quanh theo con mắt buồn, cô đơn của Kiều… Hai chữ khóa xuân (điển tích Tam quốc) rất đẹp nhưng thực chất là Kiều bị giam lỏng. Lầu Ngưng Bích cao quá, trơ trọi quá, Kiều chỉ còn ở chung, làm bạn với non xa, trăng gần. Một cảm giác trơ trọi, rợn ngợp, lơ lửng nhìn ra em thấy không gian bao la, xa vời: non xa, xa trông, cát vàng, cồn nọ, bụi hổng, dặm kia... tịnh không bóng cây, bông nhà, bóng người. Về thời gian, sớm làm bạn vớì mây, khuya đêm làm bạn với đèn, thức ngủ một mình thui thủi, triền miên thật là bé bàng, chán ngán vô vọng. Buồn vì cảnh một phần, phần khác là vì tình: Đó là nỗi buồn chia sẻ lòng nàng. Thứ hai, nhà thơ cực tả nỗi lòng thương nhớ người thân.Người đầu tiên được nàng nhớ là Kim Trọng - người tình đầu tiên mà đã cùng nàng thề non hẹn biển… Trong tâm trí nàng vẫn còn như in hình ảnh hai người sẽ cùng nhau uống rượu thế bối dưới trăng. Thương nhất là việc Kim Trọng chưa biết Kiều đã thuộc về người khác, vẫn hàng đêm ngày thương nhớ nàng uổng công. Hết thương Kim Trọng lại thương mình… Tấm son là tấm lòng son sắt thủy chung của Kiều với Kim Trọng. Mối tình này không bao giờ nàng có thể quên. Kế đến là thương nhớ cha mẹ già… Tựa cửa là hình ảnh ngóng trông. Tưởng tượng cha mẹ đang tựa cửa trông ngóng nàng về. Cảm thấy xa nhà đã rất lâu (cách mấy nắng mưa) và cha mẹ đã già (gốc từ
đã vừa người ôm).Hiển nhiên Kiều cũng nhớ hai em, song chàng Kim và cha mẹ vẫn là mối tình cảm tha thiết gắn bó nhất trong lòng nàng.Cuối cùng, nhìn đến tình cảnh trống trải, xa vắng mà nghĩ đến thân phận… Đây là những câu thơ réo rất bậc nhất về nỗi buồn luân lạc, bơ vơ. Mỗi câu như gợi lên một nỗi buồn thảm, hãi hùng, lắng sâu trong kí ức... Tám câu thơ, mỗi cặp câu gợi một nỗi buồn sâu thẳm. Buồn trông là buồn mà nhìn xa, buồn mà trông ngóng một cái gì đó mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại, nhưng chỉ vô vọng, hão huyền: Hình như nàng đang mong một con thuyền, một cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng xa xa, không rõ như một ước vọng mơ hồ, mỗi lúc một xa. Lại trông ngọn nước từ cửa sông chảy ra biển, ngọn sóng xô đẩy cánh hoa trôi dạt, không biết về đâu. Ngồi trên lầu cao, làm sao Kiều thấy được cánh hoa trên dòng nước? Đây chỉ là cảnh tưởng tượng về số phận của mình. Lại trông chân mày, cánh đồng, mặt đất một màu mờ mịt, xanh xanh, chẳng có chân trời. Trông gió cuốn mặt duềnh (Chỗ ăn sâu vào đất liền thành vũng, vụng). Gió cuốn làm sóng vỗ dào dạt, ầm ầm. Tất nhiên, dù lầu Ngưng Bích có sát bờ biển cũng không thể nghe rõ tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi được. Đó là hình ảnh vừa thực vừa ảo. Người cảm thấy sóng vỗ dưới chân, đầy hiểm họa như muốn nhấn chìm nàng xuống vực.Tám câu thơ là thực cảnh - là tâm cảnh. Toàn là hình ảnh của sự vô vọng, dạt trôi, bế tắc và chao đảo, nghiêng đổ. Đây là lúc tình cảm của nàng Kiều mong manh nhất, yếu đuối nhất, là lúc nàng dễ rơi vào cạm bẫy, như nàng sẽ rơi vào tay Sở Khanh ngay sau đó.Không gian bao la, rợn ngợp, không một bóng người. Thời gian như dồn lại, không biết bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều lặp lại. Con người trở nên nhỏ bé, bất lực cô đơn, trơ trọi. Nghệ thuật góp phần kéo dài nỗi buồn vô vọng, vô tận của con người.

Câu trả lời:

Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” nằm trong phần : “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều. Với nhiệt tình trân trọng ngợi ca, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển, lấy những hình ảnh thiên nhiên để gợi, tả, khắc hoạ vẻ đẹp chị em Thuý Kiều thành những tuyệt sắc giai nhân. Trước hết, Nguyễn Du cho ta thấy vẻ đẹp bao quát của hai chị em Thuý Kiều trong bốn câu đầu: Đầu lòng hai ả tố nga,

Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.

Nhà thơ dùng từ Hán Việt “tố nga” chỉ những người con gái đẹp tinh tế để gọi chung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Hai chị em được ví von có cốt cách thanh cao như hoa mai, có tâm hồn trong sáng như tuyết trắng. Mỗi người có vẻ đẹp riêng và đều đẹp một cách toàn diện. Từ cái nhìn bao quát ấy, nhà thơ đi miêu tả từng người. Bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng, liệt kê, nhân hoá, tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp trang trọng, quý phái, phúc hậu: Sau khi giới thiệu vẻ dẹp chung về hình thức lẫn tâm hồn của hai chị em bằng bốn câu thơ , Nguyễn Du bắt đầu miêu tả vẻ đẹp riêng của Thúy Vân : Vân xem trang trong khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc , tuyết nhường màu da,

Chỉ vài từ ngữ mà bức chân dung của Thúy Vân hiện lên thật nghiêm trang , đứng đắn và phúc hậu. Gương mặt của nàng đầy đặn như trăng tròn. chân mày của nàng đẹp như mày của con bướm tằm. Đôi mắt của nàng đẹp như mắt phượng. miệng của nàng nở nụ cười tươi như đóa hoa đang khoe sắc. Tiếng nói của nàng trong như ngọc. Những làn mây vẫn không đẹp bằng mái tóc mượt mà của nàng. Tuyết là biểu tượng của màu trắng nhưng không nhường màu cho da mịn màng, trắng trẻo của nàng.
Bằng cách phối hợp các biện pháp nghệ thuật ước lệ, tượng trưng, ẩn dụ, nhân hóa, liệt kê, đối ngữ, thậm xưng và cách dùng các từ láy, từ Hán Việt một cách điêu luyện, tác giả không những miêu tả được vẻ đẹp ưa nhìn của Thúy Vân mà còn dự báo được tương lai của nàng. Đặc biệt, các từ " thua ", "nhương " cho chúng ta thấy số phận bình an, tốt lành của Thúy Vân trên những chặng đường đời.Còn đây là bức chân dung của nàng kiều :

Kiều càng sắc sảo mặn mà, So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thủy tinh , nét xuân sơn Cặp mắt của nàng trong trẻo,long lanh như làn nước mùa thu. Còn lông mày thanh nhẹ, đẹp như nét núi mùa xuân .Đây cũng là vẻ đẹp ước lệ, tượng trưng thường gặp trong thơ văn cổ. Những nghệ thuật nhân hóa, so sánh, hoán dụ, ẩn dụ,liệt kê, đối ngữ,đã tiếp tục đưa sắc đẹp của Thúy kiều đến tuyệt đỉnh, khiến cho :
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
"Hoa","liễu" là những loài vô tri, vô giác, phải "ghen" , "hờn", tức giận trước vẻ đẹp "sắc sảo mặn mà", "mười phân vẹn mười" của nàng. Thúy Kiều đúng là một tuyệt thế giai nhân.