Bài 16: Áp suất

Nội dung lý thuyết

I. Áp lực

- Khi đứng, chân ta tác dụng lên mặt đất một lực ép theo phương vuông góc với mặt đất. Do có trọng lượng nên các vật như tủ, bàn ghế,... tác dụng lực ép lên sàn, có phương vuông góc với mặt sàn. Các lực ép đó được gọi là áp lực.

- Áp lực là lực ép có phương vuông góc với mặt bị ép.

II. Áp suất

- Tác dụng của áp lực lên một bề mặt bị ép không chỉ phụ thuộc vào độ lớn áp lực mà còn phụ thuộc vào diện tích mặt bị ép. Cùng một áp lực, diện tích mặt bị ép càng nhỏ thì tác dụng của áp lực càng lớn.

- Trên cùng một diện tích mặt bị ép, áp lực càng lớn thì tác dụng của áp lực lên mặt bị ép càng lớn. Nói cách khác, tác dụng của áp lực lên mặt bị ép phụ thuộc vào độ lớn của áp lực tác dụng lên một đơn vị diện tích mặt bị ép. Giá trị này được gọi là áp suất.

- Nếu kí hiệu p là áp suất, F là áp lực, S là diện tích mặt bị ép, ta có:

p = F/S

- Đơn vị của áp suất là pascal, kí hiệu là Pa (1 Pa = 1 N/m²).

- Một số đơn vị đo áp suất khác thường dùng:

+ bar (1 bar = 100 000 Pa)

+ atmosphere (1 atm = 101 300 Pa)

milimet thuỷ ngân (1 mmHg = 133,3 Pa)

- Để đo áp suất, người ta có thể dùng áp kế.

III. Tăng giảm áp suất

- Trong một số trường hợp, áp suất tác dụng lên một diện tích mặt bị ép càng lớn thì càng có hại, khi đó ta cần giảm áp suất. Ngược lại, trong một số trường hợp ta cần tăng áp suất.

- Để tăng áp suất tác dụng lên một mặt tiếp xúc, ta có thể:

+ Giữ nguyên áp lực, giảm diện tích mặt bị ép;

+ Giữ nguyên diện tích mặt bị ép, tăng áp lực;

+ Đồng thời tăng áp lực và giảm diện tích mặt bị ép.