Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Phú Yên , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 24
Số lượng câu trả lời 666
Điểm GP 128
Điểm SP 514

Người theo dõi (106)

Cao ngocduy Cao
Mai Nguyễn
MaryJennifer
Hải Đăng

Đang theo dõi (21)

Hà Đức Thọ
Thảo Nguyễn
Ngọc Hiền
Nguyên Thảo
Golden Darkness

Câu trả lời:

Câu 1:

Lớp bò sát:
+ Đặc điểm chung:
Là động vật có xương sống, thích nghi với đời sống hoàn toàn ở cạn:
_ Da khô, có vảy sừng, cổ dài, chi yếu, đầu ngón có vuốt sắc.
_ Màng nhĩ nằm trong hốc tai, mắt có mí
_ Phổi có nhiều vách ngăn
_ Tim 3 ngăn, có vách cơ hụt ở tâm thất (trừ cá sấu), máu đi nuôi cơ thể vẫn là máu pha, là động vật biến nhiệt.
_ Thụ tinh trong, con đực có cơ quan giao phối, con cái đẻ trứng có vỏ dai hoặc vỏ đá vôi bao bọc, nhiều noãn hoàng.

Câu 2:

Hô hấp nhờ hệ thống túi khí hoạt động theo cơ chế hút đẩy tạo nên một dòng khí liên tục đi qua các ống khí trong phổi theo chiều nhất định, nên sử dụng được nguồn ôxi với hiệu suất cao, nhất là trong khi bay.

Câu 3:

- Thân hình thoi → giảm sức cản không khí khi bay.

- Chi trước biến thành cánh → quạt gió (động lực của sự bay), cản không khí khi hạ cánh.

- Chi sau có 3 ngón trước, 1 ngón sau → giúp chim bám chặt vào cành cây và khi hạ cánh.

- Lông ống có các sợi lông làm thành phiến mỏng → làm cho cánh chim khi giang ra tạo nên 1 diện tích rộng.

- Lông tơ có các sợi lông mảnh làm thành chùm lông xốp → giữ nhiệt, làm cơ thể nhẹ.

- Mỏ: Mỏ sừng bao lấy hàm không có răng → làm đầu chim nhẹ.

- Cổ dài khớp đầu với thân → phát huy tác dụng của các giác quan, bắt mồi, rỉa lông.

Câu trả lời:

Hầu: Cổ họng là cơ quan có vị trí và vai trò quan trọng đối vs cơ thể: là ngã tư đường ăn-thở,liên quan mật thiết vs tai-mũi,có amidal và hệ thống bạch huyết,có thanh hầu.vì thế,vai trò của nó có thể tóm lược là 6 chức năng sau:
- Chức năng nói
- Chức năng nghe
- Chức năng nếm-vị giác
- Chức năng thở
- Chức năng nuốt
- Chức năng miễn dịch, bảo vệ cơ thể.

Thực quản: Chức năng của thực quả là đưa thức ăn từ họng xuống dạ dày. Cơ trong họng co lại, cùng với sự nâng lên của thanh quản sẽ đẩy thức ăn từ miệng xuống thực quản. Tiếp theo các cơ ở miệng thực quản giãn ra để đón nhận lượng thức ăn này. Những chất lỏng, nhão thì rơi không xuống dạ dày. Những chất đặc hơn sẽ di chuyển trong thực quản nhờ sóng nhu động chậm của thực quản, kết hợp với trọng lượng của thức ăn. Phần thực quản dưới viên thức ăn giãn ra trước, sau đó phần thực quản trên viên thức ăn co lại. Cứ như vậy, viêm thức ăn được đẩy đi trong lòng thực quản, xuống đến tâm vị. Tâm vị bình thường luôn đóng. Khi viên thức ăn dừng tại tâm vị, có thể do trọng lượng của nó mà lớp cơ vân giãn ra nhanh, mở lỗ tâm vị để thức ăn rơi xuống dạ dày.

Ruột non: tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng.

Ruột hấp thu theo hướng tích cực: thức ăn được hấp thu hết khi tiêu hóa.

Glucid -> đường Maltose -> Glucose; Lipide dưới tác động của enzyme lipase chuyển thành Acid béo và Glycegol Protein xuống ruột non thành Polypeptide Tụy có enzyme Trypsin Ruột có enzyme Trypsinogen + entersrokinase -> Trypsin Polypeptide + Trypsin -> Amino Acid.

Chất dinh dưỡng được hấp thu qua thành ruột.

Mạch máu: Ruột non được nuôi bởi động mạch (ĐM) Mạc treo tràng trên và các nhánh (5 nhánh) các chất dinh dưỡng được hấp thụ ở ruột non sẽ đi theo đường tĩnh mạch về. Các chất dinh dưỡng và 30% lipid lẫn chất độc đi qua gan để lọc, sau đó theo tĩnh mạch chủ dưới về tim.

Một tổn thương ở gan trong tình trạng bệnh lý sơ gan gan không còn khả năng lọc chất độc thì các chất được đưa về tim bao gồm cả chất độc dễ gây cho cơ thể hôn mê sâu trường hợp bị ngộ độc NH3 lên não bộ sự tích tụ Ure.

Mạch bạch huyết: Vitamin tan trong dầu và 70% lipid theo tĩnh mạch chủ trên về tim.

Ruột già: hấp thụ lại nước cho cơ thể.