-Bài 1 : lời người mẹ khi ru con,nói với con => căn cứ : bốn chữ trong câu cuối “ ghi lòng con ơi”.
-Bài 2 : Căn cứ hoàn cảnh của người hát ( chiều chiều ra đứng ngõ sau) => lời người con gái đi lấy chồng xa quê nhớ về mẹ, nói với mẹ.
-Bài 3: là lời của con cháu nói với ông bà, hoặc người thần về nỗi nhớ ông bà. =>Căn cứ : dựa vào ý nghĩa câu hát.
-Bài 4: Bài ca dao này không có căn cứ rõ ràng, dựa vào nội dung => có 3 khả năng :
+Ông bà, cô bác nói với cháu.
+Cha mẹ nói với con.
+Anh em tâm sự với nhau.
Câu 2.
-Tình cảm muốn diễn tả : người mẹ muốn nói với con về công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái và nhắc nhở phận làm con phải ghi nhớ công ơn sâu nặng đó.
-Cái hay của bài ca dao :
+Hình thức truyền đạt : qua lời ru => âm điệu sâu lắng, tình cảm, đi vào lòng người.
+Sử dụng hình thức ví von quen thuộc trong ca dao : công cha, nghĩa mẹ như núi ngất trời, nước ngoài biển Đông =>lấy cái mênh mông, vô hạn, vĩnh hằng của trời đất để so sánh, làm nổi bật ý nghĩa, công ơn của cha mẹ.
+Dùng thành ngữ : cù lao chín chữ => vừa cụ thể hóa công cha, nghĩa mẹ, vừa thể hiện âm điệu tôn kính, nhắn nhủ của câu hát.
+Thể thơ lục bát, giàu âm điệu. giàu tính nhạc.
-Những câu ca dao khác :
+Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
+Ơn cha nặng lắm ai ơi/ Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang.
+Lên non mới biết non cao/Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.
+…
Câu 3.
Tâm trạng nhân vật thể hiện qua :
-Thời gian : chiều chiều
+Buổi chiều gợi thời gian buồn.
+Chiều chiều : gợi tả sự đều đặn đến khắc khoải của thời gian, không phải một lần, 1 lúc mà chiều nào cũng vậy.
-Không gian : đứng ở ngõ sau :
+Ngõ sau : ngõ vắng, gợi không gian vắng lặng, heo hút. Ngõ sau như góc khuất của tâm hồn, cô gái hướng cả tấm lòng, tình cảm của mình về quê nhà.
+Khung cảnh ảm đạm, người phụ nữ cô đơn, thui thủi đứng một mình nơi ngõ sau càng đáng thương hơn nữa.
-Hành động : trông về quê mẹ.
-Tình cảm : ruột đau chín chiều : lấy cái cụ thể (chín chiều) để diễn tả cái trừu tượng : tâm trạng ngổn ngang => sức gợi tả lớn.
TRong hoàn cảnh ấy, người con gái có thể đau xót vì nhiều lẽ : nhớ nhà, thương cha thương mẹ, buồn vì không đỡ đần được gì cho cha mẹ…
=>Sự phối hợp các yếu tố trên làm cho tình cảm và tâm trạng người con gái nặng nề, đau xót hơn.
Câu 4.
Cách diễn đạt :
-Dùng cặp từ so sánh : bao nhiêu – bấy nhiêu => thể hiện sự tương đồng, tăng cấp, khẳng định tình cảm, nỗi nhớ da diết, khôn nguôi.
-Nhóm từ : “ngó lên” => thể hiện sự trân trọng, tôn kính.
-Hình ảnh “ nuộc lạt” : vừa có ý nghĩa : nhiều không kể xiết, vừa thể hiện sự gắn kết, bền chạt, không tách rời trong tình cảm giữa con cháu với ông bà.
-Âm điệu thể thơ lục bát phù hợp, hỗ trợ cho sự diễn tả tình cảm trong bài ca.
Câu 5.
-Tình cảm anh em được thể hiện qua những lời nhắn nhủ tâm tình.
+Ban đầu là 1 lời phủ định ( an hem nào phải người xa) => xóa đi những quan niệm không đúng vẫn thường chia rẽ tình cảm anh em.
+Tiếp theo là khẳng định 2 lần : cùng chung bác mẹ - cùng thân.
+Câu tiếp theo tiếp tục khẳng định ở mức độ cao hơn : an hem – tay chân => là 2 bộ phận của cơ thể con người, có quan hệ mật thiết với nhau. => là an hem phải gắn bó mật thiết như chân với tay, sống hòa thuận.
Bài ca dao này nhắc nhở : anh em phải hòa thuận, biết đoàn kết, nương tựa vào nhau, yêu thương nhau để cha mẹ vui lòng.
Câu 6.
Những biện pháp nghệ thuật được cả 4 bài ca dao sử dụng :
-Thể thơ lục bát.
-Cách ví von, so sánh, dùng những hình ảnh gần gũi, thân thuộc trong cuộc sống hằng ngày.
+âm điệu tâm tình, nhắn nhủ.
+cả 4 bài đều là lời độc thoại, có kết cấu 1 vế.
1. Căn cứ vào nội dung câu hát có thể thấy: bài ca dao thứ nhất là lời của người mẹ hát ru con, bài thứ hai là lời của người con gái lấy chồng xa quê nói với mẹ, bài thứ ba là lời của con cháu đối với ông bà, bài thứ tư là lời của cha mẹ dặn dò con cái hoặc lời anh em tâm sự với nhau.
2. Bài 1, tác giả ví công cha, nghĩa mẹ như núi ngất trời, như nước ở ngoài biển Đông là lấy cái mênh mông, vĩnh hằng, vô hạn của trời đất, thiên nhiên để so sánh, làm nổi bật ý nghĩa: công ơn cha mẹ vô cùng to lớn, không thể nào cân đong đo đếm hết được. Ví công cha với núi ngất trời là khẳng định sự lớn lao, ví nghĩa mẹ như nước biển Đông là để khẳng định chiều sâu, chiều rộng. Đây cũng là một nét tâm thức của người Việt. Hình ảnh mẹ không lớn lao, kì vĩ như hình ảnh cha nhưng sâu xa hơn, rộng mở và gần gũi hơn. Đối công cha với nghĩa mẹ, núi với biển là cách diễn đạt quen thuộc, đồng thời cũng làm cho các hình ảnh được tôn cao thêm, trở nên sâu sắc và lớn lao hơn.
3. Ngày xưa, do quan niệm "trọng nam khinh nữ", coi "con gái là con người ta" nên những người con gái bị ép gả hoặc phải lấy chồng xa nhà đều phải chịu nhiều nỗi khổ tâm. Nỗi khổ lớn nhất là xa nhà, thương cha thương mẹ mà không được về thăm, không thể chăm sóc, đỡ đần lúc cha mẹ đau ốm, bệnh tật.
Nỗi nhớ mẹ của người con gái trong bài ca dao này rất da diết. Điều đó được thể hiện qua nhiều từ ngữ, hình ảnh:
- Chiều chiều: không phải một lần, một lúc mà chiều nào cũng vậy.
- Đứng ngõ sau: ngõ sau là ngõ vắng, đi với chiều chiều càng gợi lên không gian vắng lặng, heo hút. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình nơi ngõ saucàng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa.
- ruột đau chín chiều: chín chiều là "chín bề", là "nhiều bề". Dù là nỗi đau nào thì cái không gian ấy cũng làm cho nó càng thêm tê tái. Cách sử dụng từ ngữ đối xứng (chiều chiều - chín chiều) cũng góp phần làm cho tình cảnh và tâm trạng của người con gái càng nặng nề, đau xót hơn.
4. Bài 3 diễn tả nỗi nhớ và sự yêu kính đối với ông bà. Để diễn đạt những tình cảm ấy, tác giả dân gian đã dùng biện pháp tu từ so sánh: nỗi nhớ được so sánh như nuộc lạt buộc trên mái nhà (rất nhiều).
Cái hay của cách diễn đạt này nằm ở cách dùng từ “ngó lên” (chỉ sự thành kính) và ở hình ảnh so sánh: nỗi nhớ – nuộc lạt trên mái nhà. Hình ảnh “nuộc lạt” vừa gợi ra cái nhiều về số lượng (dùng cái vô hạn để chỉ nỗi nhớ và sự yêu kính ông cha) vừa gợi ra sự nối kết bền chặt (tình cảm máu mủ ruột rà, tình cảm huyết thống của con cháu với ông cha).
5. Bài 4 là những câu hát về tình cảm anh em. Anh em là hai nhưng cũng là một, vì: “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” (cùng một cha mẹ sinh ra, cùng chung sống, cùng chung buồn vui, sướng khổ). Quan hệ anh em còn được ví với hình ảnh chân – tay (những bộ phận gắn bó khăng khít trên một cơ thể thống nhất). Hình ảnh đó nói lên tình nghĩa và sự gắn bó thiêng liêng của anh em.
Bài ca dao là lời nhắc nhở chúng ta: anh em phải hoà thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng.
6. Những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong cả bốn bài ca dao:
- Thể thơ lục bát.
- Cách ví von, so sánh.
- Những hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày.
- Đặc biệt, ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.
help me
