Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Thanh Hóa , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 1
Số lượng câu trả lời 23
Điểm GP 1
Điểm SP 10

Người theo dõi (4)

Đang theo dõi (14)

Minh Thu
Lightning Farron
Cầm Đức Anh
Không Biết Tên

Câu trả lời:

Chính sách thúc đẩy

Năm 1428, sau khi quân Minh về nước, Lê Thái Tổ lệnh cho con em các tướng và các đầu mục về quê nhận ruộng đất cày cấy. Năm 1429, ông lại ra lệnh: vườn của các quan ở kinh thành đều phải trồng hoa hoặc rau đậu, nếu bỏ hoang sẽ bị thu hồi[2].

Vua thứ tư là Lê Thánh Tông cũng tiếp thu tư tưởng của Lê Thái Tổ, quy định trong Luật Hồng Đức: nếu ruộng đất công có chỗ bỏ hoang thì quan trông coi phải tâu lên để chia cho người cày ruộng khai khẩn, nếu không sẽ bị xử tội[3].

Lập đồn điền

Nhà Lê kế tục các triều đại trước, cho các tù binh người Minh và người Chiêm Thành khi khai phá những vùng đất mới, lập thôn xóm. Các công thần Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trần Lạn… được cấp tù binh để đi khai hoang. Những vùng đất mới được thành lập mang tên vệ, sở được hình thành ở ven sông thuộc huyện Hưng Nguyên, Thiên Bảo, Diễn Châu…

Sang thời Lê Thánh Tông, chính sách đồn điền được thực hiện rộng rãi. Vua ban chiếu lập đồn điền, mở rộng quy mô các đồn điền tại các địa phương, tận dụng sức lao động của người lưu vong, tội đồ. Tới năm 1481, trong cả nước có 43 đồn điền. Các đồn điền ở Bắc Bộ thường nhỏ và mang tên xã; trong khi các đồn điền từ Thanh Hóa trở vào rộng lớn hơn và mang tên huyện, do những vùng đất này còn nhiều nơi chưa được khai thác.

Di dân và khẩn hoang

Không chỉ tận dụng sức lao động của tù binh và người phạm tội, nhà Lê còn chú trọng tới lực lượng lao động là nông dân tại các địa phương để mở mang những vùng đất hoang. Thời Lê Thánh Tông hình thành hai loại ruộng mới là "ruộng chiếm xạ" và "ruộng thông cáo"[3]:

Ruộng thông cáo là ruộng bỏ hoang ở các làng xã được triều đình cho phép cày cấy sau khi tâu báo lên. Người khai phá được hưởng lợi trên ruộng cày cấy đó và truyền cho con cháu nhưng không được biến thành ruộng tư hữu Ruộng chiếm xạ cũng là ruộng khẩn hoang nộp thuế, làm được trên diện tích bao nhiêu thì được hưởng lợi sau khi nộp thuế và có thể xin làm ruộng tư.

Với chính sách khẩn hoang và cho phép người nông dân được sở hữu ruộng tư, nhà Lê đã khuyến khích được sức sản xuất nông nghiệp tăng đáng kể, giảm bớt mâu thuẫn trong xã hội về ruộng đất

Chế độ ruộng đất

Ruộng đất thời Lê sơ chia hai loại chính là ruộng công và ruộng tư.

Ruộng công gọi là quan điền. Trong số ruộng công, một bộ phận được đem phong thưởng cho các công thần, ban cho các quý tộc và quan lại, gọi là lộc điền. Ruộng đất trên thực tế có không đủ để thực hiện chính sách lộc điền này, do đó chính sách chỉ thực hiện được một phần, do đó trên danh nghĩa giấy tờ các quý tộc và quan lại được hưởng 10 phần song thực tế chỉ được cấp phát khoảng 1/10 – 1/5[4].

Một bộ phận khác trong ruộng công, đất công và đất hoang được kê khai, đo đạc và chia cho các hạng từ tướng, quân, quan, dân tới cả người già yếu, cô quả ở các địa phương được hưởng. Đó gọi là chế độ quân điền.

Ruộng tư thời Lê sơ chủ yếu nằm trong tay các quý tộc, quan lại và địa chủ chiếm hữu. Một bộ phận nhỏ khác trong tay nông dân có ruộng tự canh tác.

Trị thủy và làm thủy lợi

Đắp đê và làm thủy lợi là yêu cầu cấp bách của sản xuất nông nghiệp. Các đời vua Lê Thái Tông đến Nhân Tông, Thánh Tông, Hiến Tông đều rất quan tâm đến việc này. Các vua Lê cho đào và khơi các kênh ở Trường Yên, Thanh Hóa, Nghệ An; đào sông Bình Lỗ từ Lãnh Canh đến cầu Phù Lỗ, khai các kênh ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, khai cừ An Phúc xuống cừ Thượng Phúc[5].

Thời Lê Thánh Tông, việc đắp đê sông và đê biển được chú trọng hơn các thời trước. Con đê chống nước mặn đắp trong niên hiệu Hồng Đức được gọi là đê Hồng Đức dài gần 25 km, hiện vẫn còn dấu tích tại phía bắc huyện Hải Hậu[6].

Năm 1475, Lê Thánh Tông ra sắc lệnh về sửa đắp đê điều và đường sá. Cùng năm, ông đặt ra chức quan Hà đê để trông coi đê điều và chức quan Khuyến nông để đôn đốc nhân dân việc cày cấy.

Trình độ sản xuất nông nghiệp thời Lê sơ tuy có được nâng lên so với các đời trước nhưng nhìn chung không có chuyển biến quan trọng. Nông nghiệp vẫn điển hình là trình độ kỹ thuật của nền sản xuất tiểu nông dựa trên sức lao động và kinh nghiệm lâu đời, với những công cụ thô sơ, nhỏ bé[7].

Câu trả lời:

Cau 1:* Giải phóng Nghệ An (năm 1424)
Theo kế hoạch của tướng Nguyễn Chích, được Lê Lợi chấp thuận, ngày 12- 10 - 1424, nghĩa quân bất ngờ tấn công đồn Đa Căng (Thọ Xuân, Thanh Hoá), sau đó hạ thành Trà Lân. Trên đà thắng lợi đó, nghĩa quân tiến đánh Khả Lưu, phần lớn Nghệ An được giải phóng.
* Giải phóng Tản Bình, Thuận Hoá (năm 1425)
Tháng 8 - 1425, Trần Nguyên Hãn, Lê Ngân chỉ huy nghĩa quân tiến vào giải phóng Tân Bình, Thuận Hoá. Vùng giải phóng của nghĩa quân kéo dài từ Thanh Hoá đến đèo Hải Vân. Quán Minh chỉ còn mấy thành luỹ bị cô lập và bị nghĩa quân vây hãm.
* Tiến quân ra Bắc, mở rộng phạm vi hoạt động (cuối năm 1426)
- Tháng 9-1426, nghĩa quân chia làm ba đạo tiến ra Bắc : Đạo thứ nhất, tiến ra giải phóng miền Tây Bắc, ngăn chặn viện binh từ Vân Nam (Trung Quốc) sang. Đạo thứ hai, giải phóng vùng hạ lưu sông Nhị (sông Hồng) và chặn đường rút lui của giặc từ Nghệ An vào Đông Quan. Đạo thứ ba. tiến thẳng vào Đông Quan.
Nghĩa quân đi đến đâu cũng được nhân dân ủng hộ về mọi mặt, chiến thắng nhiều trận lớn, quân Minh phải rút vào thành Đông Quan cố thủ. Cuộc khởi nghĩa chuyển sang giai đoạn phản công.
* Trận Tốt Động — Chúc Động (cuối năm 1426)
Tháng 10-1426, khoảng 5 vạn viện binh giặc do Vương Thông chỉ huy kéo vào thành Đông Quan, nâng số quân Minh ở đây lên 10 vạn. Để giành thế chủ động, ngày 7-11-1436, Vương Thông tiến đánh quân chủ lực của nghĩa quân ở Cao Bộ (Chương Mĩ, Hà Nội). Biết trước âm mưu của giặc, quân ta phục kích ờ Tốt Động - Chúc Động. Kết quả, 5 vạn tên giặc bị thương, bị bắt sống trên 1 vạn ; Vương Thông bị thương, tháo chạy về Đông Quan. Nghĩa quân thừa thắng kéo về vây hãm Đông Quan, giải phóng thêm nhiều châu, huyện.

Câu trả lời:

-Từ giữa thế kỷ XVIII chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong suy yếu dần, quan lại tăng kết thanh bè cánh bóc lột nhân dân, đua nhau ăn chơi xa xỉ.

-Nông dân nộp nhiều thứ thuế, bị tước đoạt ruộng đất , bất bình oán giận dâng cao.

-Cuộc khởi nghĩa chàng Lía ở Truông Mây (Bình Định),lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo.

luoc_do_khoi_nghia_nong_dan_tay_son_400

Lược đồ căn cứ địa của nghĩa quân Tây Sơn

2.Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ:

-Mùa xuân 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc lập căn cứ ở Tây Sơn thượng đạo (An Khê – Gia Lai)

- Đồng bào dân tộc thiểu số ủng hộ tích cực.

-Khi lực lượng mạnh, nghĩa quân mở rộng địa bàn xuống Tây Sơn hạ đạo lập căn cứ ở Kiên Mỹ ( Bình Định)

-Nghĩa quân lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo, xoá nợ và bỏ nhiều thứ thuế cho dân.

II.TÂY SƠN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN HỌ NGUYỄN VÀ ĐÁNH TAN QUÂN XÂM LƯỢC XIÊM.

1.Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn

-Tháng 9-1773 Tây Sơn chiếm phủ Quy Nhơn .

- 1774 Tây Sơn kiểm soát từ Quảng Nam đến Bình Thuận và ở vào thế bất lợi , phía bắc có quân Trịnh và phía nam có quân Nguyễn .

- Nên Nguyễn Nhạc phải tạm hòa hoãn với Họ Trịnh để dồn sức đánh Nguyễn .

- Năm 1777 Chúa Nguyễn Phúc Thuần bị bắt ,Nguyễn Phúc Ánh (13t) trốn sang Xiêm cầu viện .

-Chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong bị lật đổ .

luoc_do_tay_son_khoi_nghia_chong_cac_the_luc_phong_kien_va_chong_quan_xam_luoc_nuoc_ngoai1.__500

Lược đồ Tây Sơn khởi nghĩa chống các thế lực phong kiến và chống quân xâm lược nước ngoài.

khang_chien_chong_xiem_1785_400

đồ kháng chiến chống quân Xiêm năm 1785

2. Nguyễn Huệ với chiến thắng Rạch Gầm -Xoài Mút (1784- 1785 )

-Nguyễn Ánh cầu viện quân Xiêm.

-Giữa 1784, hai vạn quân thủy đổ bộ lên Rạch Giá , ba vạn quân bộ xuyên Chân Lạp vào Cần Thơ và chiếm hết miền Tây Gia Định , địch đốt phá , giết người , cướp của .

-Tháng 1- 1785 Nguyễn Huệ tiến vào Gia Định bố trí trận địa trên sông Tiền từ Rạch Gầm đến Xòai Mút, đại bản doanh đóng ở Mỹ Tho .

-Nguyễn Huệ dùng mưu nhử quân địch .

-Thủy quân Tây Sơn từ Rạch Gầm – Xòai Mút, cù lao Thới Sơn đổ ra đánh địch, quân địch bị tiêu diệt gần . Nguyễn Ánh trốn sang Xiêm .

* Ý nghĩa :

+ Đây là chiến thắng thủy chiến lừng lẫy, đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm.

+Trừng trị hành động bán nước của Nguyễn Ánh.

+Chứng tỏ tài quân sự của Nguyễn Huệ.

+ Làm phong phú thêm kho tàng khoa học quân sự của tổ tiên.

+ Đưa phong trào Tây Sơn chuyển sang giai đoạn mới.

* Nguyên nhân thắng lợi : được nhân dân ủng hộ ,sự lãnh đạo tài tình của Nguyễn Huệ.

luoc_do_tran_rach_gam_-_xoai_mut__400

Lược đồ chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút

Tham khảo :

Cuộc khởi nghĩa bùng nổ từ đất Tây Sơn

Tây Sơn thuộc huyện Phù Ly, phủ Quy Nhơn, dinh Quảng Nam vốn gồm hai vùng: vùng rừng núi gọi là Thượng đạo (nay thuộc Gia Lai - Kon Tum) và vùng đồng bằng gọi là Hạ đạo (nay thuộc Bình Định) bấy giờ là rừng núi rậm rạp thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ sinh ra ở ấp Kiên Thành thuộc Hạ đạo Tây Sơn. Tổ tiên của ba người vốn gốc Nghệ An, tên là Hồ Phi Khang bị quân chúa Nguyễn bắt làm tù binh vào năm 1655, đưa vào Tây Sơn khai hoang lập ấp. Đến đời cha của ba người là Hồ Phi Phúc thì đã thành một gia đình trung nông khá. Hồi nhỏ ba anh em được cho học với thầy giáo Hiến, một nho sĩ bất bình với quyền thần Trương Phúc Loan - nhà chúa Nguyễn.

Không chịu nổi cảnh áp bức bóc lột của bọn quan lại chúa Nguyễn, từ sớm ba anh em đã liên kết với các tù trưởng dân tộc ít người vùng Thượng đạo, nông dân quanh vùng cùng luyện võ hội bàn chuẩn bị khởi nghĩa. Năm 1771 nhân bị tên đốc trưng Đằng ức hiếp, Nguyễn Nhạc cùng hai em dựng cờ khởi nghĩa ở đất Tây Sơn. Quân Tây Sơn thường lấy của người giàu phân phát cho dân nghèo nên nhân dân theo về rất đông, kể cả nữ chúa Chăm là Thị Hỏa cùng những thương nhân người Hoa như Tập Đình, Lý Tài cũng đi theo nghĩa quân và chiến đấu hết sức hăng hái. Liên tiếp trong những năm đó nghĩa quân Tây Sơn đánh vào Phú Xuân, quân chúa Nguyễn không chống cự nổi phải chạy dần vào Nam và đóng ở thành Gia Định.

Năm 1777, Nguyễn Nhạc tự xưng là Tây Sơn vương, phong Nguyễn Huệ là phụ chính và xây thành Đồ Bàn làm thủ phủ, sau đó sai người ra Bắc xin vua Lê - chúa Trịnh cho trấn thủ đất Quảng và cử Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đem quân đánh Gia Định. Quân Nguyễn bị đánh bại ở khắp nơi, chúa Nguyễn Phúc Thuần và Hoàng Tôn Nguyễn Phúc Dương đều bị giết. Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cho người ở lại giữ thành Gia Định. Một người cháu Nguyễn Phúc Khoát là Nguyễn Ánh vẫn nuôi chí khôi phục nhà Nguyễn nên chạy sang Xiêm xin cầu viện.

Tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ quyết chiến với quân Xiêm trên sông Mỹ Tho đoạn Rạch Gầm - Xoài Mút, quân Xiêm bị đánh tan tác chỉ còn vài ngàn quân chạy bộ về nước. Trên đà thắng lợi đó năm 1786, Tây Sơn vương Nguyễn Nhạc sai Nguyễn Huệ đem quân ra thành Thuận Hóa đánh chúa Trịnh với danh nghĩa phù Lê diệt Trịnh. Sau khi đánh bại thành Thuận Hóa quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà đánh vào Nam Định, Phố Hiến, vào thành Thăng Long lật đổ chính quyền họ Trịnh, Nguyễn Huệ trao quyền hành lại cho vua Lê, được vua Lê Hiển Tông phong tước Uy Quốc Công và gả con gái là Lê Ngọc Hân.

Sau khi từ Bắc Hà trở về, tháng 4 năm 1787 Nguyễn Nhạc chia vùng đất phía Nam ra làm ba:

- Từ đèo Hải Vân trở ra Bắc thuộc Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ

- Đất Gia Định thuộc Đông Định Vương Nguyễn Lữ

- Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn xưng là Trung Ương hoàng đế.

Nguồn: Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam

Đại cương lịch sử Việt Nam

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (1785)

Giữa năm 1784, với ý đồ thôn tính vùng đất Gia Định, vua Xiêm Chakri I, lợi dụng sự cầu viện của Nguyễn Ánh, đã cử hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương chỉ huy 5 vạn quân và 300 thuyền chiến, chia làm hai đạo thủy-bộ cùng tiến sang xâm lược. Đạo quân thủy gồm 2 vạn và 300 thuyền chiến vượt biển đổ bộ lên Rạch Giá (Kiên Giang); đạo quân bộ gồm 3 vạn tiến qua nước Chân Lạp, nhằm thực hiện việc hội quân ở Trấn Giang (Cần Thơ) để sau đó tiến đánh thành Gia Định. Nguyễn Ánh và quân bản bộ cũng theo gót quân giặc trở về. Quân Xiêm đi đến đâu là đốt phá, cướp của, giết người đến đó, gây nên nhiều tội ác.

Trước tình hình đó, tướng Tây Sơn ở Gia Định là Trương Văn Đa vừa tổ chức chiến đấu nhằm thăm dò và tiêu hao sinh lực của địch, vừa rút lui từng bước để bảo toàn lực lượng, giữ vững thành Mỹ Tho và thành Gia Định.

Tại Quy Nhơn, bộ chỉ huy quân Tây Sơn theo dõi chặt chẽ hoạt động của quân Xiêm và tích cực chuẩn bị lực lượng để quét sạch bọn xâm lược. Nguyễn Huệ nhận lãnh trách nhiệm tổ chức cuộc phản công chiến lược này.

Cuối năm 1784, quân Xiêm tiến đến sông Tiền, đóng quân từ rạch Trà Lọt (Cái Bè) đến rạch Trà Tân (Cai Lậy), chuẩn bị tấn công Mỹ Tho.

Cũng vào thời điểm này, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy, vượt biển tiến vào Mỹ Tho. Sau khi xem xét tình hình quân địch và địa bàn sông nước, Nguyễn Huệ quyết định chọn đoạn sông Tiền từ Rạch Gầm đến rạch Xoài Mút làm trận địa quyết chiến với quân Xiêm. Đoạn sông này dài khoảng 7km, ở giữa có cù lao Thới Sơn, hai bên bờ sông cây cối um tùm, cách Mỹ Tho khoảng 12km. Nguyễn Huệ đã cho bố trí một trận địa mai phục lớn ở tại đây. Thủy quân được giấu trong các con rạch. Bộ binh và pháo binh được bố trí trên bờ và ở cù lao giữa sông.

Đêm ngày 18 rạng ngày 19 tháng 1 năm 1785 (tức đêm mùng 8 rạng ngày mùng 9 tháng Chạp năm Giáp Thìn), nhân lúc nước thủy triều lên, Nguyễn Huệ cho chiến thuyền tấn công khiêu khích quân địch. Sau một hồi chiến đấu, chiến thuyền Tây Sơn giả vờ thua bỏ chạy. Hai tướng giặc huy động toàn bộ lực lượng đuổi theo và lọt vào trận địa mai phục của quân Tây Sơn. Sau đợt công kích phủ đầu bằng pháo binh, quân thủy - bộ Tây Sơn đồng loạt xông ra, chia cắt đội hình của quân địch và tấn công. Quân Xiêm hoàn toàn bị rối loạn, không còn khả năng chống trả. Toàn bộ chiến thuyền của giặc bị đánh chìm. Quân Xiêm bị tiêu diệt gần hết, chỉ còn một số ít thoát được theo đường bộ trốn chạy về nước; Nguyễn Ánh cũng theo đám tàn quân chạy sang Xiêm. Sử triều Nguyễn ghi:“Kể từ sau trận Giáp Thìn, người Xiêm sợ quân Tây Sơn như sợ cọp”.

Trận thủy chiến Rạch Gầm - Xoài Mút là một trận đánh mai phục kết hợp với bao vây tiêu diệt. Muốn mai phục được ở một vùng đất có dân như ở Rạch Gầm - Xoài Mút thì vấn đề cốt lõi đầu tiên là phải nắm được lòng dân. Nơi ẩn náu kín đáo nhất và lợi hại nhất của quân Tây Sơn không phải là địa hình hiểm trở mà chính là lòng dân. Nhân dân Tiền Giang đã một lòng theo Tây Sơn, biểu hiện qua việc hướng dẫn quân Tây Sơn đi trinh sát địa bàn, cung cấp về tình hình sông nước, thủy triều để thiết lập trận địa mai phục và lên phương án tác chiến; đồng thời, nhân dân đã giữ bí mật trận địa mai phục đến phút chót khiến quân địch không mảy may nghi ngờ. Bên cạnh đó, nhân dân còn đóng góp lương thực, thực phẩm và các vật dụng, như dầu mù u, vỏ dừa khô v.v … để nghĩa quân chiến đấu tiêu diệt giặc Xiêm.

Thắng lợi của trận thủy chiến Rạch Gầm-Xoài Mút không chỉ là thắng lợi của quân Tây Sơn mà còn là thắng lợi của nhân dân.

Lần đầu tiên trong lịch sử, nhân dân Nam bộ, trong đó có nhân dân Tiền Giang, cùng với quân Tây Sơn, dưới sự lãnh đạo tài ba của Nguyễn Huệ đã đánh bại sự xâm lược hung hãn của bọn phong kiến Xiêm, giữ vững nền độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ thành quả khai hoang của nhân dân Nam bộ.

Chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút đánh dấu một bước ngoặt cơ bản, một sự chuyển biến về chất của phong trào nông dân Tây Sơn: từ cuộc đấu tranh giai cấp, phong trào đã nhận lãnh sứ mệnh lịch sử vẻ vang là đi đầu trong cuộc đấu tranh dân tộc. Chính điều này đã làm cho uy tín của phong trào Tây Sơn ngày càng được nâng cao trong nhân dân, tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào và nhân dân Bắc Hà đánh bại cuộc xâm lược của ngót 30 vạn quân Thanh vào năm 1789.

Khu di tích chiến thắng Rạch Gầm-Xoài Mút

Khu di tích chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút thuộc ấp Đông, xã Kim Sơn, huyện Châu Thành, Tiền Giang. Di tích nằm cạnh bờ sông Tiền hiền hòa với những đám dừa nước xanh tươi đang vươn mình trong nắng.


Khu di tích được khánh thành vào ngày 20/01/2005, nhân kỷ niệm 200 năm chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút, với tổng diện tích hơn 02ha gồm 3 khu vực: nhà trưng bày số 1 nằm ngay dưới chân tượng đài, nhà trưng bày số 2 nằm cạnh bờ sông và một nhà cổ Nam Bộ. Đây là một khu di tích đẹp, thoáng mát và thơ mộng. Các loại hoa kiểng quí được cắt tỉa cẩn thận, bố trí hài hòa sẽ làm hài lòng du khách đến thăm. Nhìn chung quanh, du khách thấy cả một màu xanh của vườn cây ăn trái, sát bên bờ sông có nhà hàng Rạch Gầm với lối kiến trúc gỗ, tre, nứa vừa mát mẻ vừa lạ mắt. Tượng đài anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ nằm ngay trung tâm của di tích. Tượng làm bằng đồng màu nặng 20 tấn, cao hơn 08m, được đặt trên bệ cao mô phỏng hình chiến thuyền do nhà điêu khắc Nguyễn Hải thực hiện. Vòng ngoài nhà trưng bày là dãy phù điêu bằng đồng bao bọc xung quanh. Hoa văn trên dãy phù điêu chạm khắc hình người và chim lạc được tác giả cách điệu từ mặt trống đồng.. Trên vách bên trong nhà trưng bày là dãy tranh ghép gốm màu như ở công trình Bến Dược Củ Chi gồm 4 chương: khẩn hoang, lập ấp, trận thủy chiến và khải hoàn và 2 mãng phù điêu chim muông với cây trái bằng chất liệu composic. Nhưng nổi bật hơn cả là hình ảnh Nguyễn Huệ oai phong đứng trên chiến thuyền đang rút gươm, bên dưới là nghĩa quân Tây Sơn người chèo thuyền người giương nỏ nhìn về phía sông Tiền như đang chuẩn bị xông lên, tấn công vào lũ quân Xiêm xâm lược. Rạch Gầm Xoài Mút là nơi đầu tiên ở phía Nam diễn ra một trận thủy chiến chiến lược, đánh tan 5 vạn quân Xiêm và tập đoàn phong kiến bán nước Nguyễn Ánh vào đêm 19 rạng 20/01/1785 Rời khu trưng bày, nhìn về phía Đông, du khách sẽ bắt gặp một ngôi nhà cổ Nam Bộ trong khuôn viên khu di tích. Ngôi nhà như gợi lại quá khứ thuở người dân đi khẩn hoang mở đất, để sau đó xây dựng nên một vùng đất trù phú ở phía Nam Việt Nam. Vào bên trong, du khách dễ cảm nhận những nét quen thuộc trong xây cất ở phương Nam. Nhà được xây dựng 3 gian, 2 chái, 48 cột gỗ căm xe, mái lợp ngói âm dương với diện tích 225m2. Đây là nơi dùng để trưng bày và tiếp khách. Khu di tích Rạch Gầm Xoài Mút đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận di tích cấp quốc gia và đang thu hút một số lượng lớn du khách trong và ngoài nước đến tham quan

dai_pha_quan_thanhpicture11_500

III. TÂY SƠN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN HỌ TRỊNH

1. Hạ thành Phú Xuân. Tiến ra Bắc Hà diệt họ Trịnh :

-Giữa 1786 Nguyễn Huệ được Nguyễn Hữu Chỉnh giúp sức đánh Phú Xuân.

-Tháng 6/1786 hạ thành Phú Xuân và giải phóng đất Đàng Trong.

-Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc lấy danh nghĩa “ Phù Lê diệt Trịnh”

-Giữa 1786 Nguyễn Huệ tiến ra Thăng Long lật đổ họ Trịnh, giao quyền cho vua Lê rồi vào Nam.

2. Nguyễn Hữu Chỉnh mưu phản. Nguyễn Huệ thu phục Bắc Hà:

-Tình hình Bắc Hà rối loạn vua Lê mời Nguyễn Hữu Chỉnh ra giúp, sau đó Chỉnh lộng hành ra mặt chống lại Tây Sơn.

-Năm 1788 Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần 2 diệt Nhậm, được các sĩ phu giúp đỡ, nhanh chóng thu phục Bắc Hà

-1786 – 1788 Nguyễn Huệ lật đổ vua Lê chúa Trịnh giải phóng đất đai, đặt cơ sở cho sự thống nhất đất nước.

quang_trung_dai_pha_quan_thanh_picture1_500

Lược đồ Quang Trung đại phá Quân Thanh

II . TÂY SƠN ĐÁNH TAN QUÂN THANH

1. Quân Thanh xâm lược nước ta.

Thế cùng lực kiệt Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà Thanh, nhân cơ hội đó vua Thanh phái Tôn Sĩ Nghị đem 29 vạn quân xâm lược nước ta(1788).

Tôn Sĩ Nghị chia thành 4 đạo quân sang xâm lược nước ta :

+Đạo quân thứ nhất do Tôn Sĩ Nghị và Hứa Thế Hanh theo đường Lạng Sơn tiến vào Thăng Long.
+ Đạo quân thứ hai do Sầm Nghi Đống theo đường Cao Bằng vào Thăng Long.
+ Đạo quân thứ ba theo đường Tuyên Quang tiến vào Sơn Tây do Ô Đại Kính chỉ huy.
+ Đạo quân thứ tư theo đường Quảng Ninh vào Hải Dương.

-Trước thế giặc mạnh, quân Tây Sơn rút khỏi Thăng Long về phía nam lập phòng tuyến Tam Điệp- Biện Sơn để ngăn chặn địch ( rút quân để bảo tòan lực lượng và làm kiêu lòng địch ), sai người về Phú Xuân cấp báo cho Nguyễn Huệ.

- Quân Thanh vào Thăng Long ra sức giết người ,cướp của . Nhân dân ta căm thù cực độ

luoc_do_quang_trung_dai_pha_quan_thanh_500

Lược đồ :Từ Tam Điệp quân Tây Sơn chia làm 5 đạo tiến ra Bắc

2. Quang Trung đại phá Quân Thanh 1789 ( từ 25-12- 1788 à 30-1- 1789 ( từ 30 Tết Mậu Thânà mùng 5 Tết Kỷ Dậu ).

* Vua Quang Trung chuẩn bị đại phá quân Thanh :

- 1788 Nguyễn Huệ lên ngôi hòang đế , lấy hiệu là Quang Trung , rồi tiến quân ra Bắc ,mộ thêm quân ở Nghệ An .

- Tới Thanh Hóa tuyển thêm quân , làm Lễ Thệ Sư và đọc bài Hiểu dụ tướng sĩ .

- Đến Tam Điệp(Ninh Bình), cho binh sĩ ăn tết trước rồi đánh quân Thanh trong tết Kỷ Dậu, với tinh thần quyết đánh tan quân giặc .

1002d664fb78045026abc509322a60cb_500

Phối cảnh Nguyễn Huệ lên ngôi hoàngđế tại núi Bân

* Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa :

Từ Tam Điệp quân Tây Sơn chia làm 5 đạo tiến ra Bắc:

+Đạo chủ lực do Quang Trung trực tiếp chỉ huy thẳng hướng Thăng Long .

+Đạo thứ hai và ba đánh vào Tây NamThăng Long và yểm trợ cho đạo chủ lực .

+ Đạo thứ tư ra phía Hải Dương và thứ năm tiến lên Lạng Giang chặn đường rút lui của địch .

-Đêm 30 tết ta vượt sông Gián Khẩu, đồn ngụy bị tiêu diệt.

-Đêm mồng 3 tết ta vây đồn Hạ Hồi, địch hạ khí giới .

-Mờ sáng mồng 5 tết ta vây đồn Ngọc Hồi.

-Cũng mồng 5 tết quân ta tấn công chiếm đồn Đống Đa, Sầm Nghi Đống tự tử.

-Trưa mồng 5 tết Quang Trung và Đô đốc Long tiến vào Thăng Long. Tôn sĩ Nghị và bè lũ rút chạy, bị quân ta chặn đánh tại Phượng Nhãn. Đất nước hòan tòan giải phóng.

ngoc_hoi_dong_da_picture2_500

Lược đồ diễn biến trận đánh Ngọc Hồi – Đống Đa (Tết Kỷ Dậu -1789)

* Thần tốc :từ 25-12- 1788 à 30-1- 1789(từ 30 Tết Mậu Thânà mùng 5Tết Kỷ Dậu ).Phú Xuân-Nghệ An-Thanh Hóa-Tam Điệp

* Bất ngờ : đánh vào dịp Tết Kỷ Dậu (mùng 7Tết sẽ khao quân)

* Đồng loạt : 5 hướng tiến công cùng một lúc , địch không kịp điều quân tiếp viện.

3.Nguyên nhân thắng lợi

-Tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân

-Được sự ủng hộ của nhân dân;

-Tài chỉ huy của Quang Trung và bộ chỉ huy nghĩa quân, với chiến thuật tài tình , nắm vững thời cơ phản công quyết liệt , hành quân thần tốc , tiến quân mãnh liệt , chiến đấu cơ động

*Ý nghĩa lịch sử của trận Ngọc Hồi – Đống Đa : giải phóng đất nước , giữ vững độc lập tổ quốc , đập tan sự xâm lược của quân Thanh.

*Công lao của Tây Sơn là lật đổ chính quyền phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn; thống nhất đất nước , đánh tan quân xâm lược Xiêm ,Thanh .

* Ý nghĩa của phong trào Tây Sơn:

Thống nhất đất nước .

Đập tan sự xâm lược của quân Xiêm ,Thanh.

Giữ vững độc lập tổ quốc.

Câu trả lời:

mk ko thich