Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 4
Số lượng câu trả lời 562
Điểm GP 110
Điểm SP 512

Người theo dõi (111)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Thành tựu thời Lê sơ:

* Kinh tế:

a) Nông nghiệp:

- Vua Lê cho 2/3 quân sĩ về quê làm ruộng.

- Kêu gọi dân phiêu tán trở về quê làm ruộng.

- Đặt một số chức quan chuyên lo về nông nghiệp.

- Thực hiện phép quân điền, cấm giết mổ trâu bò bừa bãi, đắp nhiều đê ngăn nước mặn.

⇒ Nông nghiệp được phục hồi và phát triển nhanh chóng.

b) Thủ công nghiệp:

- Phát triển nhiều ngành nghề thủ công ở làng, xã.

- Kinh đô Thăng Long là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công.

- Các công xưởng do nhà nước quản lý phát triển mạnh.

c) Thương nghiệp: Chợ phát triển trong nước, buôn bán với nước ngoài vẫn được duy trì.

* Pháp luật: Ban hành bộ luật Hồng Đức:

- Bảo vệ quyền lợi của vua và hoàng tộc, bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị và địa chủ phong kiến.

- Bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế.

- Bảo vệ một số quyền lợi của phụ nữ.

⇒ Đây là bộ luật đầy đủ và tiến bộ nhất.

* Giáo dục:

- Nhà Lê rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo nhân tài.

- Dựng lại Quốc Tử Giám, mở khoa thi để chọn người tài ra làm quan, mở nhiều trường học.

- Thi cử chặt chẽ qua 3 kì: Hương, Hội, Đình.

- Nho giáo chiếm vị trí độc tôn.

* Văn hóa - nghệ thuật:

a) Văn học:

- Văn học chữ Hán vẫn duy trì, văn học chữ Nôm chiếm vị trí quan trọng.

- Nội dung: Yêu nước sâu sắc, thể hiện niềm tự nào dân tộc, khi phách anh hùng và tinh thần bất khuất.

- Chữ Hán: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Quỳnh uyển cửu ca,...

- Chữ Nôm: Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Thập giới cô hồn quốc ngữ,...

b) Nghệ thuật:

- Sân khấu ca hát, tuồng, chèo được phục hồi và phát triển.

- Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc đặc sắc, kĩ thuật diêu luyện.

* Khoa học:

Đạt nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực:

- Sử học: Đại Việt sử kí, Đại Việt sử kí toàn thư, Lam Sơn thực lục, Việt giám thông khảo tổng luận, Hoàng triều quan chế.....

- Địa lý học: Hồng Đức bản đồ, Dư địa chí, An Nam hình thăng đồ.

- Y học: Bản thảo thực vật toát yếu.

- Toán học: Đại thành toán pháp, Lập thành toán pháp.

Câu trả lời:

Giáo dục và khoa cử thời Lê sơ phát triển do các nguyên nhân sau:

- Nhà Lê luôn đề cao vao trò của giáo dục trong hình thức và hành động. Giáo dục tri thức phải đi đôi với giáo dục đạo đức.

- Nhà Lê luôn thay đổi và sáng tạo sao cho phù hợp với thực tế xã hội và khả năng của người học, nhằm khơi gợi tính chủ động của người học.

- Thường xuyên đẩy mạnh việc thi cử nghiêm túc nhằm chọn được người tài. Tuy nhiên hạn chế những quy định khắt khe, không cần thiết trong hoạt động dạy học để người học dễ dàng nắm bắt và thực hiện.

- Khi nghiên cứu luôn đề ra những yêu cầu giáo dục phải gắn liền với những điều kiện lịch sử cụ thể.

- Có những chính sách đãi ngộ học tập.

- Xây dựng, đa dạng hóa lại các loại hình nhà trường, đáp ứng nhu cầu học tập của tầng lớp nhân dân. Tránh tình trạng phân biệt giáo dục đẳng cấp, hướng đến nền giáo dục bình đẳng ( đa số dân đều có thể đi học )

- Giáo quan giảng dạy tại các trường được tuyển chọn chặt chẽ từ các nhà nho ở các địa phương, đảm bảo chất lượng dạy học.

- Có khu trữ sách ( tương đương thư viện ) cho học sinh làm tư liệu học tập và khu nhà ở tập thể cho các giám sinh từ nơi xa đến.

Câu trả lời:

Trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta, mỗi con người đều có những khiếm khuyết nhưng biết nhận ra khuyết điểm của mình và những người xung quanh hãy mở rộng thêm tấm lòng nhân ái biết trân trọng, cảm thông, giúp đỡ khiếm khuyết của người khác như trong truyện '' Chiếc bình nứt ''

Câu chuyện chiếc bình nứt có hình ảnh chiếc bình nứt - là hình ảnh ẩn dụ về những con người khiếm khuyết kém may mắm nhưng vẫn mong muốn làm tốt công việc như một chuyện bình thường như hình ảnh con người luôn buồn bã xấu hổ về khiếm khuyết của mình và đã bộc lộ với người chủ khi không làm tròn công việc. Người chủ đã trả lời bằng sự cảm thông: '' Ta đã biết khiếm khuyết của người vì vậy ta đã gieo những hạt hoa bên đường và mỗi ngày người đã tưới cho chúng. Hai năm qua ta đã hái hoa cho mọi người và làm đẹp cho ngôi nhà ''. Câu chuyện giản dị nhưng có ý nghĩa sâu sắc về những cách ứng xử cao đẹp, một người luôn trăn trở với những khuyết điểm của mình chưa làm tốt công việc khiến người khác vất vả hơn, cảm thông và tạo điều kiện cho người khác sống tốt hơn và có ý nghĩa hơn.

Người khiếm khuyết đã có những suy nghĩ thật đẹp. Khi biết được hạn chế của mình nhưng không bất lực, mặc cảm, buông xuôi mà người lại rất thương người khác đã vất vả cực nhọc vì mình. Đó là một tấm gương sáng. Vì những hạn chế mà ông đã vất vả hơn, không những thế còn có thái độ yêu thương trân trọng. Vì con người đã nghĩ những người trong hoàn cảnh như thế chắc họ cũng buồn khổ lắm và cũng cần giúp đỡ để họ vượt qua sự kém may mắn ấy để họ sống tốt và có ý nghĩa hơn. Người gánh nước trong truyện cũng là một tấm gương cao thượng trong cách ứng xử thể hiện lòng nhân ái.

Mỗi người cần phải nỗ lực vươn lên, nhất là những người có hạn chế, cố gắng vượt qua hạn chế của chính mình là điều đáng trân trọng, ngợi ca. Những người may mắm hơn cần có thái độ ứng xử tốt với họ, vì đó là những người động viên, là chỗ dựa tinh thần để họ có thêm sức mạnh vượt qua khó khăn, ngược lại nếu dưng dửng với người khác đó là người ích kỉ. Vậy mỗi chúng ta cần rèn luyện và có thái độ sống tốt hơn, có ý nghĩa hơn trong cuộc sống. Thực tế cũng có rất nhiều tấm gương khuyết tật nhưng đã làm nên kì tích: Nick Vujicic, Nguyễn Ngọc Kí,... và trong thực tế cũng có những tổ chức cá nhân có tấm lòng cao cả giúp đỡ hỗ trợ người khác.

Câu chuyện là bài học sâu sắc về cách sống và thái độ ứng xử. Còn những người có hạn chế về bản thân cũng phải cố gắng vươn lên, cố gắng hội nhập với cuộc sống xã hội. Tuyệt đối không được mặc cảm, tự ti với bản thân mình.