Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 26
Số lượng câu trả lời 450
Điểm GP 113
Điểm SP 574

Người theo dõi (196)

Quân Đàm
Sung Soo Jiang
Army Ngân

Đang theo dõi (402)

Sung Soo Jiang
Phác Chí Mẫn
No name
Jung Kook bts

Câu trả lời:

Nói đến Tố Hữu là nói đến một nhà thơ cách mạng , một trong những cây bút lớn của nền thơ ca Việt Nam. Và một trong số những tác phẩm ấy người ta không thể nào quên bài thơ Lượm bài thơ viết về một cậu bé hồn nhiên, vui vẻ, hăng hái và dũng cảm. Lượm đã hi sinh song hình ảnh của em còn mãi với quê hương đất nước và trong lòng mọi người.

Nói đến Lượm người ta không thể nào quên một hình ảnh chú đội viên loắt choắt, cái mũ ca lô đội lệch:

“ Chú bé loắt choắt

Cái xắc xinh xinh

Cái chân thoăn thoắt

Cái đầu nghênh nghênh

Ca lô đội lệch

Mồm huýt sáo vang

Như con chim chích

Nhảy trên đường vàng”

Tác giả đã sử dụng các từ láy như loắt choắt, xinh xinh, thoăn thoắt, nghênh nghênh được dùng rất gợi hình, gợi cảm cùng với nhịp thơ nhanh làm toát lên một cậu bé nhanh nhẹn, tinh nghịch và vô cùng đáng yêu .

Có lẽ, chỉ thật sự yêu mến chú bé tác giả mới lột tả hết được cái tinh thần sự đáng yêu của một chú bộ đội nhỏ được so sánh như con chim chích luôn vui vẻ và luôn hát ca.

Với Lượm đi làm nhiệm vụ liên lạc là niềm vui, là sự tự do, thích thú. Chứ không phải là mệt nhọc hay nguy nan.

“ Cháu đi liên lạc

Vui lắm chú à

Ở đồn mang cá

Thích hơn ở nhà”

Sự hồn nhiên trong cách trả lời “ Ở đồn mang cá. Thích hơn ở nhà” Lượm như con chim sổ lồng bay được tự do làm điều mình thích. Với nụ cười híp mí và má đỏ bồ quân. Sự tinh nghịch và đáng yêu được khắc họa rõ nét qua cử chỉ và hành động của Lượm. Và câu chào: “ Thôi chào đồng chí! Cháu đi xa dần” Lượm cũng như một người lính can trường khi ra trận.

Ấn tượng mãi về một cậu bé,đáng yêu tinh nghịch và hồn nhiên ấy thì bỗng có tin dữ Lượm hi sinh . Câu thơ bốn tiếng bỗng dưng bị ngắt ra thành hai tiếng:

“Ra thế

Lượm ơi!…”

Đó là sự sửng sốt , xúc động nghẹn ngào vì cậu bé đã ra đi trong khi làm nhiệm vụ của mình. Rồi một hôm nào đó, như bao hôm nào cậu đi làm nhiệm vụ của mình trong lúc nguy hiểm nhất:

“ Vụt qua mặt trận

Đạn bay vèo vèo

Thư đề “Thượng khẩn”

Sợ chị hiểm nghèo”

Để rồi tất cả bỗng nghẹn ngào khi :

“Bỗng lòe chớp đỏ

Thôi rồi, Lượm ơi!

Chú đồng chí nhỏ

Một dòng máu tươi”

Tác giả đã gọi “ chú đồng chí nhỏ” ở đây Tố Hữu đã coi Lượm như một chiến sĩ thực thụ đã hi sinh và ngã xuống như bao người khác . Đó có thể xem như lòng cảm phục của cán bộ cách mạng với thiếu nhi anh hùng.

Và có lẽ với tác giả không chỉ là tình cảm đồng chí đồng đội mà còn là tình cảm chú cháu :

“Cháu nằm trên lúa

Tay nắm chặt bông

Lúa thơm mùi sữa

Hồn bay giữa đồng”

Lượm hi sinh trên cánh đồng lúa quê hương nơi em hàng ngày vẫn tung tăng làm nhiệm vụ của mình. Tay của em vẫn nắm chặt bông lúa. Cái chết như nhẹ nhàng bình lặng. Thiên thần bé nhỏ đã bay đi nhưng có lẽ kỉ niệm và nỗi nhớ về em thì không bao giờ tác giả hay mỗi chúng ta có thể quên. Tố Hữu buông một lời đau xót day dứt như một lời chua sót:

“Lượm ơi! Còn không?”

Và đến hai khổ thơ cuối là những hình ảnh kỉ niệm về một cậu bé hồn nhiên tinh nghịch của ngày nào. Lượm ra đi những hình ảnh về chú đồng chí nhỏ mãi còn sống trong lòng người dân Việt Nam.

Đọc bài thơ “Lượm” của Tố Hữu người ta càng cảm nhận được tinh thần và ý chí của người dân Việt Nam. Bằng cách kết hợp miêu tả với kể chuyện và biểu hiện cảm xúc bài thơ đã thể hiện chân thực nhất chú đồng chí nhỏ “ Lượm” hồn nhiên và hăng hái dũng cảm. Lượm hi sinh nhưng hình bóng chú liên lạc ấy mãi ở lại với quê hương đất nước và trong lòng mọi người.

Câu trả lời:

Tác phẩm của Nguyễn Trãi có tên là Đại cáo binh Ngô , nghĩa là tuyên cáo rộng rãi về việc dẹp yên giặc Ngô .Tên Bình Ngô đại cáo là cách đảo lại tựa đề ho ngắn gọn , chứ chưa hẳn là dịch .Chữ Ngô ở đây là cách gọi của người Việt xưa đối với thế lực phong kiến phương bắc ,với sắc thái coi khinh .Trong tác phẩm , quân Ngô chính là giặc Minh.
- Bài văn được viết theo thể cáo , thể văn biền ngẫu

Phân tích:
Nêu lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến:
- Tư tưởng nhân nghĩa:
Việc nhân dân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Đập lại luận điệu của quân Minh
Cuộc chiến của ta vì dân -> nội dung khác , cụ thể hơn ( liên hệ )
Giải thích -> chiến đấu vì trừ bạo -> quân Minh , bọn tay sai.
=>Quan niệm nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi không còn là quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội phải chăm lo cho dân được sống có hạnh phúc , yên bình .

- Từ cách độc lập của dân tộc.
+Biểu hiện :tên đất nước ,nền văn hoá riêng ,bờ cõi , phong tục , nền chính trị , nhân tài.
=>Khái niệm khá hoàn chỉnh về quốc gia ( so với các tác phẩm trước Nam quốc sơn hà ,Hịch tướng sĩ ).
+Giọng văn : Sảng khoái , tự hào.
+Cách viết :câu văn biền ngẫu “Từ Triệu , Đình , Lý , Trần ... Cùng Hán, Đường ,Tống ,Nguyên ..” -> Bình đẳng , ngang hàng (đế).
=>Cuộc chiến đấu của ta là chính nghĩa.
Tố cáo tội ác của giặc Minh:
- Liệt kê hàng loạt:
Khủng bố ( thui sống , chôn sống ) ,bóc lột ( thuế mà : nặng thuế khoá; phu phen :những nỗi phu phen nay xây ma đập đất ...;dâng nạp : dòng lưng mò ngọc , đãi cát tìm vang , bắt dò chim trả , bắt bẫy hươu đen...; diệt sản cuất : tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ ; diệt sự sống: Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng...
- Tội ác man rợ nhất của giặc Minh được miêu tả trong câu :
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.
Đây là hình ảnh vừa cụ thể , lại vừa khái quát như một lời cáo trạng , lời buộc tội.
=>Lột tả tội ác tày trời của giặc , làm rõ sự bất nhân phi nghĩa của bọn chúng. Đó cũng là lý do vì sao nhân dân ta phải kháng chiến.
Lược thuật cuộc kháng chiến:
Buổi đầu dựng cờ khởi nghĩa.
Hình tượng trung tâm là anh hùng Lê Lợi ( Ta đây ).
Tập trung miêu tả về nội tâm : ngẫm , đau lòng nhức óc , nếm mật nằm gai , giận , suy xét ,đắn đo , trằn trọc , băn khoăn.
=>Chân dung tâm trạng Lê Lợi :lòng yêu nước , căm thù giặc , quyết tâm cao ,nung nấu nghiền ngẫm chí lớn , là người nhìn xa trông rộng.
+Hình tượng Lê Lợi có sự gởi gắm tâm trạng của Nguyễn Trãi , của toàn dân -> chân thực , xúc động.
- Khó khăn trong buổi đầu kháng chiến:
+Chênh lệch về lực lượng :ta yếu , địch mạnh.
+Thiếu thốn về vật chất .
+Hiếm nhân tài.
- Vì sao vượt qua được?
+Ý chí , tấm lòng cầu hiền.
+Có chiến lược , chiến thuật đúng đắn , đánh bất ngờ , đánh nhanh.
+Dựa vào sức mạnh nhân dân .
+Lấy nhân nghĩa làm cơ sở.
- Giọng điệu :trầm lắng , suy tư.
.Lược thuật chiến thắng:
- Diễn tả của trận đánh qua 3 bước
+Phản công :
Bô Đằng – Trà Lân -> bất ngờ ; câu văn ngắn , chắc , hình ảnh bất ngờ : Sấm vang chớp giật ,Trúc chẻ tro bay.
Giặc: sợ hãi.
+Tiến công :
Tây Kinh , Đông Đô -> nơi đầu lão của giặc .
Trận chiến ác liệt -> hình ảnh máu chẩy thành sông , thây chất đầy nội, giặc thất bại thảm hại.
Mưu phạt tâm công dùng ngọn cờ chính nghĩa , dùng mưu trí và thu phục lòng người .
+Đánh quân cầu viện:
Giặc tiến sang rầm rộ ( câu văn dài ) 2 mũi tiến công từ Khâu Ôn và Vân Nam .
Ta : đánh bất ngờ , dứt khoát :chặt , tuyệt.
Nhịp văn ngắt bất ngờ.
Liệt kê -> chiến thắng dồn dập.
Hình ảnh đối lập giữa ta và giặc .
=>Khắc hoạ sự thất bại thảm hại của kẻ thù và sức mạnh , khí thế của quân ta.
Giọng điệu : sảng khoái , hào hùng khi khắc hoạ tư thế của người chiến thắng. - Thái độ nhân nghĩa yêu chuộng hoà bình :
Giọng văn chậm rãi , khoan thai.
Tha chết cho kẻ thù , cấp ngựa và thuyền dẻ về nước.
Muốn nhân dân nghỉ sức.
Tính kế lâu dài.
Tuyên bố hoà bình:
- Giọng văn hả hê , vui mừng tin tưởng vào hoà bình lâu dài ( Giang sơn từ đây đổi mới ... Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu ).
- Một loạt các từ tả vũ trụ -> cảm hứng độc lập dân tộc được nâng lên gắn liền với cảm hứng vũ trụ bao la vĩnh hằng .Mặt khác thể hiện ý thức về sự thiêng liêng tôn kính lịch sử.
Chủ đề:
Bình Ngô đại cáo là bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại , nêu cao lòng tự hào , niềm hân hoan vô hạn trước thắng lợi của chính nghĩa , ca ngợi tài năng lãnh đạo cả khí phách hào hùng của dân tộc.
Kết luận:
- Bình Ngô đại cáo tràn ngập nguồn cảm hứng trữ tình và mang tính chất hào hùng hiếm có nên được mãi mãi là thiên cổ hùng văn.
- Bài cáo thể hiện năng lực cấu trúc tác phẩm nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn chỉnh năng lực duy hình tượng sắc sảo , biến hoá , hấp dẫn phù hợp với cảm hứng chủ đạo của tác phẩm.

Câu trả lời:

* phần 1:
- Nguyên lí chính nghĩa --> cơ sở chắc chắn
+ Nhân nghĩa là mối quan hệ tốt đẹp của con người dựa trên cơ sở của tình thương và đạo lí.
+ Thể hiện ở yên dân (cuộc sống thanh bình, yên ổn) và từ bạo (tiêu diệt cái ác).
=> Nguyễn Trãi đã xác định đúng đắn nội dung và mục đích của việc nhân nghĩa là yên dân, trừ bạo, chống giặc ngoại xâm.
- Cơ sở của nền độc lập dân tộc.
+ Các từ "đã lâu', "đã chia", "cũng khác", "từ trước" khẳng định sự lâu đời của quốc gia dân tộc.
+ Yếu tố: cương vực lãnh thổ, nền văn hiến lâu đời, phong tục tập quán, lịch sử riêng, triều đại riêng, nhiều anh hùng hào kiệt.
=> Cơ sở chắc chắn, lời phát biểu hoàn chỉnh nhất về nền độc lập của một quốc gia.
+ Từ "xưng đế": đặt thế ngang bằng giữa nước ta với nước Trung Quốc, đồng thời bộc lộ tinh thần tự tôn dân tộc.
KL: Đoạn 1 là những tiền đề chắc chắn và điều kiện tất yếu để ta thắng giặc Minh xâm lược.
* Phần 2:
- Vạch rõ âm mưu xâm lược của nhà Minh.
- Chỉ ra tội ác: nướng dân đên, vùi con đỏ.
--> Diễn đạt giàu hình ảnh, Nguyễn Trãi đã tố cáo tội ác dã mang, mang màu sắc thời trung cổ, hủy hoại sự sống con người.
- Tìm cách vơ vét tài nguyên
- Hủy hoại môi trường sống.
- Hình ảnh những tên giặc xâm lược:
+ Há miệng, nhe răng.
+ Nay xây nhà, mai đắp đất.
--> độc ác, chúng giống như những con quỷ đội lốt người.
- Hình ảnh: + Trúc Nam Sơn không ghi hết tội.
+ Nước Đông Hải không rửa sạch mùi.
--> Dùng cái vô tận để nói cái vô tận.
--> Nhấn mạnh, tố cáo tội ác hung bạo, đồng thời diễn tả nỗi căm hờn chất chứa của nhân dân ta.
=> Đứng trên lập trường nhân bản để vạch ra tội ác của quân giặc.
* phần 3:
- Hình tượng Lê Lợi
+ Dấy nghĩa --> hành động vì nền độc lập.
+ Chốn hoang dã nương mình --> nguồn gốc xuất thân bình dị.
+ Thù lớn --> có lòng căm thù giặc
+ Căm giặc nước --> lí tưởng hoài bão lớn
- Những khó khăn của cuộc khởi nghĩa:thiếu người tài, thiếu lương thực, thiếu quân đội, tự phải khắc phục khó khăn.
- Chiến thuật: lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều, tinh thần đòan kết.
- Những chiến thắng:
+ Sớm vang chớp giật
+ Trúc chẻ tro bay
--> nhanh, mạnh
-->Tái hiện khí thế hào hùng của trận đánh.
- Thất bại của giặc --> kết cục thảm bại.
=> với nền tảng chính nghĩa, sự mưu trí, quân ta đã dành thắng lợi vang dội, và truyền thống đạo lí 1 lần nữa dc khẳng định sáng ngời, cao cả.
=> Sức mạnh của ngòi bút Nguyễn Trãi.
* phần 4:
- Khẳng định sự tồn tại vững bền của đất nước.
- Sự vận chuyển có tính chất quy luật: bĩ -> thái, hối -> minh.
- Tuyên bố:
+ Nền độc lập.
+ Sự thái bình.
--> Đất nước đã sạch bóng quân thù, mở ra những cơ hội mới.
* Tư tưởng nhân nghĩa là tư tưởng có tính chất phổ biến được thời bấy giờ mặc nhiên thừa nhận. "Nhân nghĩa" được nhiều người giải thích; cách nói, cách hiểu đôi khi khác nhau nhưng nhìn chung mọi người đều thừa nhận "nhân nghĩa" là mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí. "Nhân nghĩa" là "yên dân trừ bạo", tức là tiêu trừ tham tàn bạo ngược, bảo vệ cuộc sống yên bình của người dân. Cần nhấn mạnh, Nguyễn Trãi đã biết chắt lọc lấy cái hạt nhân cơ bản, tích cực nhất trong tư tưởng nhân nghĩa: chủ yếu để yên dân, trước nhất là trừ bạo.

Câu trả lời:

Thân phận người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến là một đề tài được rất nhiều nhà thơ, nhà văn lựa chọn làm đề tài sáng tác của mình. Qua các tác phẩm ấy, trước mắt chúng ta hiện lên hình ảnh những con người với vẻ ngoài xinh đẹp, cũng như nhân cách cao đẹp, thế nhưng số phận lại bị phụ thuộc vào rất nhiều người khác. Sự bó buộc của xã hội phong kiến, sự tàn ác của những thế lực đen tối đã khiến cho cuộc đời của họ đầy những chông gai, sóng gió. Nhưng dù khó khăn đến đâu, ở họ vẫn luôn ánh lên một vẻ đẹp của nhân cách, của tình yêu thương, của niềm lạc quan, niềm tin vào cuộc sống.

Người phụ nữ thuở xưa, thường không được tự làm chủ cuộc sống của mình. Quan niệm “tam tòng, tứ đức” khiến cho họ từ khi sinh ra cho đến khi từ rã cuộc sống, luôn phải sống, phải lo lắng, hi sinh cho rất nhiều người khác. Hồ Xuân Hương là một nhà thơ nữ tiêu biểu, và dĩ nhiên, những lời thơ của bà cũng là những lời bộc bạch, những lời lên tiếng bảo vệ cho người phụ nữ Việt Nam thuở xưa:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son…”
Họ là những người đẹp về cả ngoại hình và tâm hồn. Đầu tiên, đó là những người con gái trong trắng, xinh đẹp. Thế nhưng, họ cũng giống như hình ảnh của viên bánh trôi nước. Cuộc sống của họ phụ thuộc vào quá nhiều điều, quá nhiều người. Họ không có quyền tự quyết định cuộc sống của mình. Chỉ có một thứ họ có thể tự quyết định, đó là, dù cho khó khăn đến đâu, vất vả đến đâu, họ vẫn quyết tâm giữ tấm lòng son sắt, thủy chung của mình. Chính Hồ Xuân Hương cũng phải tức giận mà thốt lên rằng:

“Giá đây đổi phận làm trai được

!-->

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”
Họ là phái yếu, nhưng họ cũng có khả năng làm được những điều mà nam giới làm. Thế nhưng xã hội không cho phép. Có mấy ai dám ngông ngênh nói như Hồ Xuân Hương. Không nói đến văn hay, nhiều người còn quan niệm con gái không cần đi học, không cần biết chữ. Vậy thì họ làm sao có thể làm chủ được số mệnh của mình?
Tuy vậy, sống trong hoàn cảnh nghèo khó, nhưng họ vẫn là những người phụ nữ thương chồng, thương con, biết chăm lo, vun vén cho cuộc sống gia đình. Họ vất vả, tảo tần những không một lời oán thán. Tú Xương – một nhà thơ rất bất mãn với tình cảnh đất nước lúc bấy giờ, cũng như với những gò bó của xã hội phong kiến, đã lên tiếng “bênh vợ”, cũng như bênh cho cả một xã hội phụ nữ không được lên tiếng, không được bảo vệ:

“ Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng”

Xã hội phong kiến bất công, xã hội mà con người trở thành nô lệ của đồng tiền, khiến cho người phụ nữ phải vất vả, tần tảo đi chợ sớm hôm nuôi chồng, nuôi con. Thế nhưng họ coi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc chứ không phải là gánh nặng. Ta bỗng nhớ đến hình ảnh mẹ cò trong câu ca dao của ông cha ta thuở trước:

“Con cò mà đi ăn đêm

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao”

Họ là những người giàu đức hi sinh. Dù có gian khổ đến mấy nhưng họ không một lời oán trách.

Thế nhưng, có mấy người thương vợ được như Tú Xương. Thuở xưa, chế độ đa thê vô cùng phổ biến. Một người phụ nữ có thể phải chịu làm lẽ cho một gia đình giàu có nào đó. Họ phải chịu sự ghen ghét của người vợ cả và những người vợ lẽ khác. Cuộc sống chung chồng ấy, thật vô cùng cực khổ. Hồ Xuân Hương đã phải thốt lên rằng: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung!”. Nhưng bà cũng không tránh khỏi guồng quay của số phận, cũng phải đi làm vợ lẽ người ta, chỉ có thể hưởng một hạnh phúc không trọn vẹn. Sự ngang tàng, bướng bỉnh, vùng lên của bà, cũng chỉ là một hạt cát giữa sa mạc.

Đại thi hào Nguyễn Du đã từng viết:
“Thương thay thân phận đàn bà

Dù rằng bạc mệnh vẫn là lời chung”

Đó là những đau khổ mà người phụ nữ trong thời đại phong kiến. Họ đẹp, đẹp cả về ngoại hình và nhân cách. Thế nhưng cuộc sống của họ không do họ làm chủ, phải sống kiếp sống lênh đênh, trôi dạt, không định trước được tương lai của mình. Tuy nhiên, họ vẫn vượt lên nhưng đau đớn, tủi nhục ấy, để kiếm tìm hạnh phúc cho mình.

Câu trả lời:

Khoảnh khắc giao mùa có lẽ là khoảnh khắc đẹp đẽ nhất của tự nhiên ,nó gieo vào lòng người những rung động nhẹ nhàng khiến ta như giao hoà, đồng điệu .Khi chúng ta chưa hết ngỡ ngàng bởi một Xuân Diệu “tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì ” thì đã gặp một Hữu Thỉnh tinh tế ,sâu sắc đến vô cùng qua một thoáng “Sang Thu” .
Bài thơ là những cảm nhận ,những rung động man mác, bâng khuâng của tác giả trước vẻ đẹp và sự biến đổi kỳ diệu của thiên nhiên trong buổi giao mùa .Không phải là sắc “mơ phai” hay hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác” mà là hương ổi thân quen nơi vườn mẹ đã đánh thức những giác quan tinh tế nhất của nhà thơ :
Bỗng nhận ra hương ổi
Phả vào trong gió se,
Câu thơ có hương vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê nhỏ .Tín hiệu đầu tiên để tác giả nhận ra mùa thu là “hương ổi”. Mùi hương quê nhà mộc mạc “phả” trong gió thoảng bay trong không gian .Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ : “bỗng nhận ra” -một sự bất ngờ mà như đã chờ đợi sẵn từ lâu lắm .Câu thơ không chỉ tả mà còn gợi liên tưởng đến màu vàng ươm , hương thơm lựng , vị giòn, ngọt, chua chua nơi đầu lưỡi của trái ổi vườn quê .Và không chỉ có thế ,cả sương thu như cũng chứa đầy tâm trạng,thong thả, chùng chình giăng mắc trên khắp nẻo đường thôn :
Sương chùng chình qua ngõ
Hình như thu đã về .
Sương thu đã được nhân hoá ,hai chữ “chùng chình” diễn tả rất thơ bước đi chầm chậm của mùa thu . Nếu ở câu thơ đầu tiên nhà thơ “bỗng nhận ra” thu về khá bất ngờ và đột ngột thì sau khi cảm nhận sương thu ,gió thu, thi sỹ vẫn ngỡ ngàng thốt lên lời thầm thì như tự hỏi :Hình như thu đã về!? Tâm hồn thi sỹ nắm bắt những biến chuyển nhẹ nhàng, mong manh của tạo vật trong phút giao mùa cũng êm đềm, bâng khuâng như bước đi nhỏ nhẹ của mùa thu .
Không gian nghệ thuật của bức tranh thu được mở rộng hơn ,cái bỡ ngỡ ban đầu vụt tan biến đi nhường chỗ cho những rung cảm mãnh liệt trước không gian thu vời vợi :
Sông được lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Sông nước đầy nên mới “dềnh dàng” nhẹ trôi như cố tình chậm lại ,những đàn chim vội vã bay về phương nam …Không gian thu thư thái , hữu tình và chứa chan thi vị , đặc biệt là hình ảnh :
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu .
Câu thơ giúp ta hình dung về đám mây mỏng nhẹ ,trắng xốp ,kéo dài như tấm khăn voan duyên dáng của người thiếu nữ thảnh thơi , nhẹ nhàng “ vắt nửa mình sang thu”.Câu thơ có tính tạo hình không gian những lại có ý nghĩa diễn tả sự vận động của thời gian : thu bắt đầu sang , hạ chưa qua hết , mùa thu vừa chớm , rất nhẹ , rất dịu , rất êm , mơ hồ như cả đất trời đang rùng mình thay áo mới …