Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 2
Số lượng câu trả lời 301
Điểm GP 31
Điểm SP 250

Người theo dõi (21)

Đang theo dõi (33)


Câu trả lời:

Trong suốt chiều dài lịch sử, cư dân Thái Bình phải thường xuyên chống chọi với thiên tai, địch họa. Hoàn cảnh ấy góp phần hình thành, hun đúc nên truyền thống bất khuất, cần cù, thông minh, sáng tạo của người dân Thái Bình trong chiến đấu, lao động, sản xuất. Truyền thống hiếu học, đỗ đạt khoa bảng cũng là nét nổi bật trong văn hóa Thái Bình. Chính những yếu tố đó đã tạo cho Thái Bình có một kho tàng di sản văn hóa vô cùng phong phú, đa dạng và giá trị.

Chùa Keo, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Một trong những thành tố trong kho tàng di sản văn hóa đó là các di tích lịch sử văn hóa, những bằng chứng xác thực, cụ thể về đặc điểm lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, kỹ năng, kỹ xảo và trí tuệ của con người. Các di tích lịch sử văn hóa chính là những thông điệp của quá khứ được thế hệ trước trao truyền cho thế hệ sau, ở đó người ta đã cảm nhận được quá khứ, và từ đó tìm đến với truyền thống lịch sử, những giá trị đạo đức, thẩm mỹ, tín ngưỡng, tâm linh. Trên cơ sở truyền thống lịch sử, các thế hệ đi sau tiếp nối và sáng tạo những giá trị văn hóa mới.

Tính đến năm 2015, toàn tỉnh Thái Bình có tổng số 2.539 di tích, đã và chưa được xếp hạng, trong đó, đậm đặc nhất là ở các huyện: Hưng Hà (667 di tích), Thái Thụy (447 di tích), Quỳnh Phụ (351 di tích), Vũ Thư (298 di tích),... Thống kê cho thấy, Thái Bình là tỉnh có số lượng di tích khá lớn nhưng mật độ di tích phân bố ở các huyện không đồng đều. Di tích tập trung dày đặc ở ba huyện là Hưng Hà, Thái Thụy và Quỳnh Phụ với 1.495 di tích (chiếm trên 50% tổng số di tích toàn tỉnh). Trong khi đó, thành phố Thái Bình chỉ có 85 di tích.

Tỉnh có 2 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt, là di tích kiến trúc nghệ thuật Chùa Keo (huyện Vũ Thư) và di tích lịch sử Khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần (Hưng Hà). 151 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó chủ yếu là các di tích thuộc loại hình kiến trúc nghệ thuật, tập trung nhiều nhất ở các huyện Hưng Hà (29 di tích), Thái Thụy (29 di tích) và huyện Đông Hưng (23 di tích). Nghiên cứu kết quả xếp hạng di tích cho thấy Thái Bình có nhiều di tích kiến trúc nghệ thuật vào thời Lê, sau đó được trùng tu và xây dựng lại vào thời Nguyễn. Vì vậy, trong quyết định xếp hạng, các di tích này được xác định có niên đại vào thời Lê – Nguyễn. Đó là những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị tiêu biểu, cần được quan tâm trong quá trình bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích cấp quốc gia.

Thái Bình hiện có 595 di tích đã được xếp hạng cấp tỉnh, trong đó, huyện Hưng Hà có 109 di tích, Đông Hưng có 91 di tích, Quỳnh Phụ có 92 di tích, Thái Thụy có 88 di tích, Tiền Hải có 68 di tích, Kiến Xương có 57 di tích, Vũ Thư có 62 di tích và thành phố Thái Bình có 28 di tích.

Theo tư liệu thống kê của Ban Quản lý di tích tỉnh Thái Bình, hiện nay, toàn tỉnh còn 1.791 di tích chưa được xếp hạng. Trong số đó có nhiều di tích ở các loại hình khác nhau như: Đình, chùa, đền, miếu, cổng làng, lăng mộ, nhà thờ họ, nhà thờ công giáo, văn chỉ. Đa số những di tích này đều mới được tu sửa hoặc khởi dựng vào cuối thời Nguyễn. Trong thời gian tới, cơ quan quản lý di tích sẽ tiến hành khảo sát lập hồ sơ khoa học cho từng di tích này, xác định giá trị của từng di tích để đề nghị Nhà nước và tỉnh Thái Bình xếp hạng, tạo cơ sở pháp lý trong việc bảo vệ, bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích. Bên cạnh đó, căn cứ vào số lượng các di tích đã được xếp hạng, cơ quan quản lý di tích đồng thời lập quy hoạch tổng thể hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh Thái Bình theo tinh thần của Nghị định 70/NĐ-CP năm 2012. Đây sẽ là cơ sở cho các kế hoạch, dự án bảo quản, tu bổ phục hồi từng di tích, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển bền vững các di sản văn hóa của tỉnh, phục vụ tốt mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần nâng cao đời sống văn hóa cho cộng đồng cư dân địa phương và khách tham quan du lịch.

Ở góc độ phân loại loại hình, Thái Bình có ba loại hình di tích cơ bản là di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật và di tích khảo cổ và loại hình nào cũng có những công trình rất giàu giá trị về lịch sử và văn hóa. Có thể kể đến các di tích khảo cổ thuộc vùng đất Ngự Thiên xưa, nay là huyện Hưng Hà, nơi có hành cung Ngự Thiên được xây dựng từ thế kỷ XII, di chỉ của nghề đúc đồng An Lộng (xã Quỳnh Xá, Quỳnh Phụ), di chỉ của thành Kỳ Bố Hải Khẩu (thành phố Thái Bình, thời kỳ Trần Lãm, TK X), lăng Trần Thủ Độ (xã Liên Hiệp, Hưng Hà), lăng Thái Bảo, tướng triều Trần, Đỗ Tử Bình (xã Hồng Việt, Vũ Thư), lăng mộ An Hạ Vương và phu nhân (xã Đông Quang, Đông Hưng), lăng Phạm Huy Đĩnh (xã Chương Dương, Đông Hưng). Đặc biệt, khu phế tích của nhà Trần thuộc địa phận xã Tiến Đức (Hưng Hà) có quy mô rất rộng, tập trung chủ yếu ở làng Tam Đường. Đây là khu lăng tẩm của nhà Trần và hành cung Long Hưng dưới triều Trần. Một số di tích lịch sử nổi bật như khu lưu niệm đồng chí Nguyễn Đức Cảnh tại quê hương Thái Thụy, di tích lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại xã Tân Hòa (Vũ Thư), di tích Cơ sở in của Xứ ủy Bắc Kỳ năm 1930 ở xã Đình Phùng,… Những di tích lịch sử này đang phát huy vai trò tích cực trong công tác giáo dục truyền thống cho các thế hệ.

Loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật chiếm số lượng nhiều nhất trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở Thái Bình với 770 ngôi chùa, 666 đình làng, 343 đền, 332 miếu phủ, 295 từ đường và phần còn lại là những Văn chỉ, nhà thờ Công giáo, công trình kiến trúc dân gian khác... Đây là loại hình di tích thu hút đông đảo nhất sự quan tâm thăm viếng của không chỉ cư dân địa phương mà còn của du khách thập phương, đặc biệt vào các kỳ lễ hội.

Không thể không nhắc đến chùa Keo (Thần Quang Tự), tọa lạc tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, được xếp hạng cấp Quốc gia đặc biệt năm 2012. Chùa là một trong 10 kiến trúc cổ tiêu biểu và là một trong ba ngôi chùa tiêu biểu của Việt Nam. Diện tích khu chùa hiện nay còn khoảng 38.000m2 (dài 300m, rộng 125m), quan nhiều lần trùng tu, hiện vẫn còn tấm bia đá rất lớn, có khắc năm Chính Hòa thứ 10 (1689). Chùa hiện có 17 tòa với 128 gian. Một điều khá độc đáo, chùa có gác chuông 3 tầng cao 12m, được làm hoàn toàn bằng gỗ lim. Bên trong chùa cón lại hàng nghìn mảng chạm khắc rất độc đáo, có giá trị nghệ thuật cao.

Đình An Cố (xã Thụy An, huyện Thái Thụy) được xây dựng vào thời Lê với 2 tòa, 10 gian, quy mô kiến trúc rất hoành tráng. Tòa tiền tế có 7 gian, rộng 250m2, sức chứa tới hàng nghìn người; tòa hậu cung rộng 3 gian, còn lưu giữ rất nhiều mảng chạm khắc mang tính nghệ thuật cao. Trong các mạng chạm khắc có tới hàng trăm con rồng, con hổ và vô số linh vật khác. Có mảng chạm khắc về khung cảnh lao động sản xuất rất sinh động. Đây là một kiến trúc nghệ thuật đình tiêu biểu nhất ở Thái Bình (5).

Toàn cảnh ngôi đình đá làng Vược, xã An Hiệp, huyện Quỳnh Phụ.

Hệ thống xà, cột trong đình làm bằng đá.

Đình Đá (xã An Hiệp, huyện Quỳnh Phụ) với diện tích 200m2, 2 tòa, 10 gian, được xây dựng hoàn toàn bằng đá. Đình có 5 vì kèo cầu, 20 cột, 14 đầu dư, hệ thống xà liên kết. Các cột hiên bằng đá xẻ vuông (32x32cm), cao 2,65m. Các cột cái tròn bằng đá, đường kính 50cm, đứng trên tảng đá thắt cổ bồng cao 50cm; Trên thân cột chạm rồng leo, đầu rồng nối với các đầu dư, được cách điệu ngậm hạc. Các vì kèo là những tảng đá lớn, kết cấu hình tam giác chạm trổ họa tiết hổ phù, mây cuộn, phượng hàm thư, văn triện kỷ hà. Các xà thượng, xà hạ liên kết với các vì kèo, cột bằng các mộng thắt. Liên kết cột và các chân tảng bằng các ngõng đá. Đặc biệt là cửa võng nối với hậu cung thuộc gian chính tẩm cũng bằng đá và là một tác phẩm điêu khắc tuyệt tác với họa tiết tứ quý, tứ linh sống động như bức tranh vẽ trên giấy.

Đền Đồng Bằng (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ) là một ngôi đền có quy mô kiến trúc lớn nhất Thái Bình, được xây dựng trên diện tích 6.000m2 với 13 tòa, 66 gian, có hàng trăm mảng chặm khắc nghệ thuật. Các bức cuốn thư, đai tự, cửa võng được chạm khắc rất sinh động và được sơn son, thếp vàng.

Cảnh bên ngoài đền Tiên La .

Đền Tiên La thờ Bát Nạn Đông Nhung Đại tướng quân Vũ Thị Thục.

Đền Tiên La (xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà) tọa lạc trên khu đất rộng 400m2. Ngôi đền có quy mô lớn, đẹp lộng lẫy về cả thế và vóc dáng, bao gồm nhiều công trình như hệ thống cổng đền, tòa tiền tế, tòa trung tế (cột kèo bằng đá) tòa thượng điện và tòa hậu cung. Tòa điện, bái đường của đền được kiến trúc bằng vật liệu gỗ tứ thiết. Nội thất được chạm trổ công phu với các nội dung có tính kinh điển như Long, ly, quy, phượng đan xen với thông, cúc, trúc, mai, theo phong cách kiến trúc thời Nguyễn.

Đền Đồng Xâm (xã Hồng Thái, Kiến Xương) là một quần thể kiến trúc gồm 12 công trình lớn nhỏ với 40 gian được xây dựng trên diện tích khoảng 1.000m2. Đền có nhiều mảng chạm khắc nghệ thuật tinh xảo, điều khác biệt là bức hoành mã trước cửa đền hết sức hoành tráng và sinh động.

Miếu Hai Thôn (xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư) thờ bà Đỗ Thị Khương là vợ của Lý Bí. Miếu được đại tu vào năm 1680 là một trong các công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu nhất ở Thái Bình. Miếu gồm 3 tòa, 11 gian. Trước sân xây cuốn thư cổ, cổng hoành mã. Hiện phía trước của hai tòa đều đánh bạo kép, ngưỡng kép, chấn phong thượng hạ, các mảng cánh gà hồi hiên chạm lõng 3 tầng rồng lửa. Tường sau, hồi tả, hồi hữu đều đắp đố lụa bằng gỗ lim. Các đồ tế khí đời Lê, các cổ khám rất lớn, những cỗ ngai đồ sộ chạm lõng 5 tầng đủ các đề tài trúc long, long cuốn, long ổ… Tất cả đều sơn son, thếp vàng. Đặc biệt, miếu còn lưu giữ bức tranh cổ được vẽ vào nửa cuối thế kỷ XVII, cao 1,6m, rộng 2,2m, miêu tả vua Tiền Lý Nam Đế và Hoàng hậu một cách sinh động.

Thực trạng của các di tích ở tỉnh Thái Bình có thể phân chia thành các nhóm. Nhóm một là các di tích còn tốt. Hầu hết các di tích còn tốt đều là những di tích có niên đại muộn, chủ yếu vào thời Nguyễn và trên thực tế tình trạng của các di tích này đều nằm trong chế độ bảo quản, chưa phải áp dụng kỹ thuật tu bổ, thay thế. Những di tích thuộc nhóm này về cơ bản giữ nguyên được các yếu tố gốc từ khi xây dựng cho tới nay. Cá biệt có một vài di tích đã xuất hiện sự xâm hại của rêu, nấm mốc, mối mọt… Vì vậy, trên thực tế, loại di tích thuộc nhóm một chỉ cần áp dụng các chế độ bảo quản thường xuyên như chống mối, chống mọt, diệt rêu và nấm mốc…. Nhóm hai gồm các di tích đã có hiện tượng xuống cấp, đã được lập dự án tu bổ, tôn tạo giai đoạn 2010 – 2015. Nhóm ba gồm các di tích xuống cấp trầm trọng hoặc trong tình trạng là phế tích. Đây là những di tích cần được ưu tiên về kinh phí để tu bổ, chống xuống cấp khẩn cấp nhằm tránh nguy cơ bị mất vĩnh viễn trước tác động xấu của các yếu tố khách quan.

Việc nghiên cứu giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Thái Bình đồng thời đánh giá tốt thực trạng và tình trạng kỹ thuật tại các di tích sẽ góp phần giúp công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa đạt hiệu quả hơn. Từ đó, thực hiện tốt công tác bảo tồn và phát huy giá trị của hệ thống di tích lịch sử văn hóa ở địa phương, phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Câu trả lời:

Xuân Quỳnh (1942 - 1988) là nhà thơ nữ được nhiều người yêu thơ mến mộ. Thơ chị trẻ trung, sôi nổi, giàu chất trữ tình. Vỗn xuât thân từ nông thôn nên Xuân Quỳnh hay viết về những đề tài bình dị, gần gũi của cuộc sống đời thương như tình mẹ con, bà cháu, tình yêu, tình quê hương, đất nước. Ngay từ tập thơ đầu tay Tơ tằm - Chồi biếc (in chung - 1963), Xuân Quỳnh đã gây được sự chú ý của người đọc bởi phong cách thơ mới mẻ. Hơn hai mươi năm cầm bút, chị đã sáng tác nhiều tập thơ có giá trị, tạo ấn tượng khó quên trong lòng người đọc.

Bài thơ Tiếng gà trưa đưuọc viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trên phạm vi cả nước. Bị thua đau ở chến trường miền Nam, giặc Mĩ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại bằng máy bay, bom đạn... ra miền Bắc, hòng tàn phá hậu phương lớn của tiền tuyến lớn. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đồng đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu.

Tiếng gà trưa đã gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ và tình bà cháu. Tình cảm gia đình, quê hương đã làm sâu sắc thêm tình yêu đất nước.

Bao trùm bài thơ là nỗi nhớ cồn cào, da diết. Nhớ nhà, đó là tâm trạng tất yếu của những người lính trẻ vừa bước qua hoặc chưa bước qua hết tuổi học trò đã phải buông cây bút, cầm cây súng ra đi đánh giặc cứu nước. Nỗi nhớ ở đây thật giản dị và cụ thể. Chỉ một tiếng gà trưa bất chợt nghe thấy khi Dừng chân bên xóm nhỏ là đã gợi dậy cả một trời thương nhớ. Tiếng gà nhảy ổ làm xao động nắng trưa và cũng làm xao xuyến hồn người. Nghe tiếng gà mà như nghe thấy tiếng quê hương an ủi, vỗ về và tiếp thêm sức mạnh. Điệp từ nghe được nhắc lại ba lần, mở đầu ba câu thơ liên tiếp thể hiện sự rung cảm cao độ trong tâm hồn chiến sĩ:

Trên đường hành quân xa Dừng chân bên xóm nhỏ Tiếng gà ai nhảy ổ: "Cục... cục tác cục ta" Nghe xao động nắng trưa Nghe bàn chân đỡ mỏi Nghe gọi về tuổi thơ

Quê nhà hiện lên rõ nét trong tâm tưởng và nhữn kỉ niệm tuổi thơ lần lượt sống daayjqua những hình ảnh thân thương. Tiếng gà trưa nhắc nhớ đến Ổ rơm hồng những trứng của mấy chị mái mơ, mái vàng xinh xắn, mắn đẻ. Tiếng gà trưa khiến người cháu xa nhà nhớ đến người bà kính yêu một đời tần tảo. Thương biết mấy là cảnh đứa cháu tò mò xem gà đẻ, bị bà mắng : Gà đẻ mà mày nhìn, Rồi sau này lang mặt. Chẳng hiểu hư thực ra sao nhưng cháu tin thật : Cháu về lấy gương soi, Lòng dại thơ lo lắng. Giờ đây, đứa cháu đã trưởng thành ao ước trở về thời bé bỏng để lại được nghe tiếng mắng yêu của bà, được tháy bóng dáng quen thuộc của bà khum tay soi trứng, chắt chiu từng mầm hi vọng sẽ có được một đàn gà con đông đúc.

Suốt một đời lam lũ, lo toan, bà chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân mà chỉ lo cho cháu, bởi đứa cháu đối với bà là tất cả. Bà thầm mong đàn gà thoát khỏi nạn dịch mỗi khi mùa đông tới : Để cuối năm bán gà, Cháu được quần áo mới.

Ao ước của đứa cháu có được cái quần chéo go, cái áo cánh trúc bâu còn nguyên vẹn lần hồ sột soạt và thơm mùi vải mới được nhân lên gấp bội trong lòng bà yêu cháu. Hạnh phúc gia đình giản dị, đầm ấm mà rất đỗi thiêng liêng cùng bao khát vọng tuổi thơ dường như gói gọn cả trong tiếng gà trưa:

Tiếng gà trưa Mang bao nhiêu hạnh phúc, Đêm cháu về nằm mơ Giấc ngủ hồng sắc trứng.

Thông qua nỗi nhớ đưuọc khơi dậy từ tiếng gà trưa, nhà thơ Xuân Quỳnh đã miêu tả tâm hồn trong sáng, hồn nhiên và tình cảm yêu mến, kính trọng bà của một em bé nông thôn. Tình bà cháu thắm thiết đã trở thành một phần quan trọng trong đời sống tinh thần của người chiến sĩ hôm nay đang trên đường hành quân chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước:

Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc Vì xóm làng thân thuộc Bà ơi, cũng vì bà Vì tiếng gà cục tác Ổ trứng hồng tuổi thơ

Khổ thơ cuối cùng là lời tâm sự chân thành của đứa cháu chiến sĩ trên đường ra tiền tuyến gởi về người bà kính yêu ở hậu phương. Từ tình cảm cụ thể là tình bà cháu đến tình cảm lớn lao như lòng yêu Tổ quốc, yêu xóm làng thân thuộcđều được biểu hiện bằng hình thức nghệ thuật giản dị, mộc mạc như lời ăn tiếng nói hàng ngày ; ấy vậy mà nó lại gây xúc động sâu xa bởi nhà thơ đã nói giúp chúng ta những điều thiêng liêng nhất của tâm hồn.

Bài thơ Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh, một lần nữa chúng ta nhận thấy rằng nhà văn Nga I-li-a Ê-ren-bua thật sáng suốt khi đúc kết nên chân lí: Dòng suối đổ vào sông, sông đổ vào dải trường giang Vôn-ga, con sông Vôn-ga đi ra bể. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc.

Câu trả lời:

Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là một bài vịnh độc đáo: vịnh một món ăn dân tộc, dân gian. Thiếu một bàn tay, một tâm hồn phụ nữ dân dã như bà thì có lẽ cái bánh trôi nước chưa đi vào được văn học.

Trước hết, bài thơ vịnh của Hồ Xuân Hương rất tài tình:

Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

Đây là lời tự giới thiệu của bánh: từ hình dáng, cấu tạo và cách chế tạo. Bánh trôi làm bằng bột nếp, nhào nước cho nhuyễn, rồi nặn thành hình tròn như quả táo, bọc lấy nhân bằng đường đen, nước sôi thì bỏ vào luộc, khi chín thì bánh nổi lên. Người nặn bột làm bánh phải khéo tay thì bánh mới đẹp, nếu vụng thì bánh có thể bị rắn hay bị nhão. Nhưng dù thế nào thì bánh vẫn phải có nhân. Thiếu nhân, bánh sẽ rất nhạt nhẽo. Đọc bài thơ, ta thấy hiện lên đúng là bánh trôi nước, không sai một li.

Hình ảnh trong bài thơ là bánh trôi nước. Nhưng bài thơ đâu phải là tác phẩm quảng cáo cho một món ăn dân tộc. Thơ vịnh chỉ thực sự có ý nghĩa khi có sự gửi gắm tình cảm, tư tưởng của nhà thơ. Bài thơ của Hồ Xuân Hương, vì thế, còn là lời tự bộc bạch của một tấm lòng phụ nữ. Ta có thể nói nhà thơ mượn lời cái bánh trôi để nói lên thân phận và tấm lòng người phụ nữ. Bánh trôi là một hình ảnh gợi hứng, một ẩn dụ.

Thân em vừa trắng, lại vừa tròn

Thân trắng vừa tả cái bánh bằng bột trắng, vừa tả tấm thân trắng đẹp, phẩm hạnh trong trắng. Tròn vừa có nghĩa là em được phú cho cái hình dáng tròn, lại vừa có nghĩa là em làm tròn mọi bổn phận của em.

Bảy nổi ba chìm với nước non

Bảy nổi ba chìm là thành ngữ chỉ sự trôi nổi, lênh đênh của số phận giữa cuộc đời. Nước non là sông, biển, núi, non, chỉ hoàn cảnh sống, suy rộng ra là đời, cuộc đời con người.

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Đây là hình ảnh may rủi mà đời người phụ nữ rơi vào. Trong xã hội cũ trọng nam khinh nữ, số phận người phụ nữ đều do người đàn ông định đoạt. Cho nên người con gái trong ca dao cảm nhận:

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

Thân em như thể cánh bèo

Ngược xuôi, xuôi ngược theo chiều nước trôi

Những câu ca dao thể hiện một ý thức an phận, cam chịu. Cái duy nhất họ làm chủ được là tấm lòng mình:

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Người phụ nữ vẫn giữ niềm thuỷ chung, son sắt, bất biến với mối tình. Một lời nói thể hiện niềm tự hào kín đáo về phẩm chất thuỷ chung của người phụ nữ. Tuy nhiên, cả bài thơ vẫn thấm đượm nỗi cảm thương cho thân phận. Thân trắng, phận tròn mà phải chịu cảnh ba chìm bảy nổi, không làm chủ được mình.

Câu trả lời:

Ở câu thơ thứ nhất, cụm tư ” nguyệt chính viên” trăng đúng lúc to tròn nhất đã mở ra một không gian bát ngát, tràn ngập ánh trăng. Em như thấy hiện ra trước mắt mình ánh trăng văng vẳng, đẹp đẽ tràn đầy hơi thở mùa xuân tỏa ra khắp nơi, soi sáng vạn vật. Ở phần dịch thơ Xuân Thủy phải thêm thêm từ láy lồng lộng để mở ra không gian đêm trăng nhưng Bác chỉ cần vài nét chấm phá mà ta cũng có thể hình dung được. Thật tài tình biết mấy!

Ở câu thơ thứ hai, điệp từ xuân được điệp lại ba lần thật hay! Trong một câu thơ bảy chữ mà có đến ba từ xuân, khiến ta như thấy được đứng dưới đất trời mùa xuân mà hít hà cái không khí xuân ấm áp. Từ xuân ở đây còn có nghĩa là trẻ trung, căng tràn sức sống như đất nước ta còn non trẻ, còn gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn đầy niềm tin và triển vọng, tựa như mùa xuân căng tràn, len lỏi, khắp sông nước và đất trời Việt Nam.

Qua hai câu thơ đầu , ta thầm cảm phục phong thái ung dung, lạc quan của bác. Tình yêu thiên nhiên, hòa hợp với thiên nhiên luôn thường trực trong tâm hồn Người.

Em cũng muốn có được tình yêu nồng nàn, tha thiết với đất trời quê hương như Bác. Thật không thể diễn tả được niềm cảm phục với tâm hồn chủ tịch Hồ Chí Minh trong lòng mỗi người dân Việt Nam.