Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 2
Số lượng câu trả lời 301
Điểm GP 31
Điểm SP 250

Người theo dõi (21)

Đang theo dõi (33)


Câu trả lời:

Sài Gòn tôi yêu là một trong những tùy bút của tác giả Minh Hương viết cuối tháng 12 – 1990 và in trong tập Nhớ… Sài Gòn. Đó là những dòng văn đầy thương nhớ , yêu mến chân thành, nồng nhiệt đối với mảnh đất này.

Mở đầu bài tùy bút tác giả bộc lộ tình yêu nồng cháy của mình với thành phố mang tên Bác. Để thể hiện tình yêu của mình tác giả sử dụng điệp từ “tôi yêu” ở đầu mỗi câu văn được nhắc đi nhắc lại như một khúc ca tình yêu, như để người đọc thể hiện tình yêu sôi sục, rộn rã của nhà văn.

Nhà thờ lớn ở Sài Gòn

Minh Hương yêu tất cả mọi thứ của Sài Gòn , cả những điều xấu xí của nó . Dường như đối với Minh Hương tình yêu Sài Gòn đã ăn sâu vào máu thịt trở thành một phần cuộc sống của ông.

Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm. Yêu cả cái tĩnh lặng của buổi sáng tinh sương với làn không khí mát dịu, thanh sạch trên một số đường còn nhiều cây xanh che chở…

Cũng nhờ tình yêu này đã giúp ông cảm nhận được nhận thật chính xác và tinh nhạy về thành phố Sài Gòn. Đó là những giọt nắng “ngọt ngào” vào những buổi sáng dịu ngọt. Hay cái “nhớ thương” những cơn gió lộng buổi chiều, hãy những cơn mưa rào bất chợt của của miền cận xích đạo. Ông yêu cái nhịp sống ồn ào đa dạng của vùng đất này, yêu những con phố rợp bóng cây xanh… những điều bình dị, đơn sơ đó đã tạo nên vẻ đẹp của thành phố phương Nam đầy nắng này.

Câu trả lời:

“Sài Gòn tôi yêu” là bài kí của Minh Hương viết vào tháng 12-1990, sau được in trong tập “Nhớ Sài Gòn” một tập văn thơ, nhân dịp kỉ niệm 300 năm Sài Gòn. Trước năm 1945, tác giả đã đến sinh sống ở Sài Gòn, trở thành một cư dân của “hòn ngọc Viễn Đông” mà ông gọi là “cái đô thị ngọc ngà”. Nhan đề bài kí đã thể hiện tình yêu thiết tha sâu nặng đối với Sài Gòn

– “Sài Gòn tôi yêu

Mấy dòng đầu bài kí, tác giả nói một cách hóm hỉnh qua một số so sánh: “Sài Gòn vẫn trẻ. Tôi thì đương già”. Sài Gòn 300 tuổi so với cái tuổi 5.000 năm của đất nước ta thì Sài Gòn “còn xuân chán”, “như một cây tơ đương độ nõn nà…”.

Minh Hương thổ lộ tình yêu Sài Gòn trong mọi thời tiết và mọi thời gian. Tác giả “yêu nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào”; yêu “buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ”, yêu thời tiết trái chứng: “Trời đang iu iu buồn bã, bỗng nhiên trong vắt lại như thủy tinh”. Tác giả yêu đêm khuya “thưa thớt tiếng ồn “; yêu những giờ cao điểm, phố phường, “náo động, dập dìu xe cộ”; yêu làn không khí “mát dịu, thanh sạch” vào buổi sáng tinh sương, trên một số con đường nhiều cây xanh. Tình yêu Sài Gòn của Minh Hương được ông ví với tình cảm của “người đàn ông vẫn ôm ấp bóng dáng mối tình đầu chứa nhiều ngang trái”.

Sài Gòn rất bao dung và hào phóng “bao giờ cũng dang hai cánh tay mở rộng mà đón nhiều người từ trăm nẻo đất nước kéo đến”. Người Bác, người Trung, người Nam, người Hoa, người Khơ-me… đã đến ở Sài Gòn, “rồi thừa nhận nơi đây là quê quán của mình”. Minh Hương đã đến ở Sài Gòn hơn nửa thế kỷ sao không yêu Sài Gòn, sao không coi Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình được?.

Tác giả yêu Sài Gòn, rồi yêu hơn con người Sài Gòn với bao phẩm chất tốt đẹp, biểu hiện một “phong cách bản địa mang nhiều nét đặc trưng”. Người Sài Gòn “ăn nói tự nhiên, nhiều lúc hề hà, dễ dãi”, “rất chơn thành, bộc trực”, “ít dàn dựng, tính toán”.

Minh Hương đã nêu lên những nét đáng yêu của các cô gái “thị thiêng” Sài Gòn ngày xưa. Tóc “buông thõng” trên vai trên lưng. Đầu đội nón vải trắng rộng vành. Áo bà ba trắng… Quần đen rộng. Hoặc đi giầy bò trắng, hay xăng-đan da, hoặc đi guốc vòng trơn trắng nõn, quai da… Rất dễ nhìn, dễ ưa: dáng đi “khỏe khoắn, mạnh dạn”, “cũng yểu diệu, thướt tha…”, “cũng e thẹn, ngượng nghịu…”. Nụ cười “thiệt tình, tươi tắn và ít nhiều thơ ngây”. Cái đẹp của cô gái Sài Gòn “thật đơn sơ, đôn hậu”.

Câu trả lời:

Bài thơ Hạt gạo làng ta của Trần Đăng Khoa viết năm 1969 khi nhà thơ còn là một cậu bé 11 tuổi. Thế mà bài thơ lại có tầm suy nghĩ của người lớn: chín chắn, chững chạc làm sao. Tứ thơ của bài thơ được phát triển bắt đầu từ ý khái quát: hạt gạo được kết tinh từ những hương vị ngọt ngào của quê hương. Đó là hương đồng gió nội, là bài ca lao động, là lời ru của mẹ, là vị phù sa màu mỡ của đất đai quê nhà. Nhưng hạt gạo cũng còn được làm ra từ trong khó khăn của thiên tai, từ trong khói lửa của chiến tranh. Hạt gạo không chỉ là sản phẩm vật chất mà còn là sản phẩm tinh thần vô giá: "Hạt gạo làng ta Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay" Các khổ 2 và 3 của bài thơ tập trung thể hiện những "đắng cay"mới có được hạt gạo dẻo thơm. Trong một bài ca dao ông cha đã từng nhắc nhở: "Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo ngon một hạt đắng cay muôn phần". Vị đắng cay mà Trần Đăng Khoa muốn nói đến là nỗi vất vả trong khắc phục thiên tai để sản xuất của người nông dân. Những bão lụt, hạn hán dồn dập… Điệp từ "có" kết hợp với số từ "bảy", "ba", "sáu", nhà thơ đã thể hiện được sự tàn phá ghê gớm của thiên nhiên: "Hạt gạo làng ta Có bão tháng bảy Có mưa tháng ba Giọt mồ hôi sa Những trưa tháng sáu Nước như ai nấu Chết cả cá cờ Cua ngoi lên bờ Mẹ em xuống cấy" Bài thơ ca ngợi ý chí vượt khó của mẹ, của bà con nông dân trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Những năm 60, 70, giặc Mĩ leo thang bắn phá miền Bắc. Chúng hòng phá hoại những thành quả xây dựng ta, nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương lớn miền Bắc đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Những trai làng phải lên đường đánh giặc: "Những năm bom Mĩ Trút lên mái nhà Những năm khẩu súng Theo người đi xa" Ở quê nhà là các bà, các chị. Họ vừa phải sản xuất vừa phải chiến đấu để bảo vệ thành quả lao động của mình, bảo vệ quê hương bình yên với đồng lúa thẳng cánh cò bay. Ngày ấy, hình ảnh các cô gái súng quàng vai, lưng đeo băng đạn cả khi cày khi cấy trở thành một biểu tượng đẹp của con người Việt Nam. Đó là sự kết hợp đẹp giữa chiến đấu và sản xuất: "Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông" Những năm tháng gian khổ ấy, các em thiếu nhi cũng muốn đóng góp một phần nhỏbé của mình vào công cuộc xây dựng đất nước: "Hạt gạo làng ta Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quết đất" Các em tham gia một cách tự giác, chăm chỉ. Sự chăm chỉ ấy được bài thơ thể qua các từ: sớm, trưa, chiều. Sự đối lập giữa sức vóc bé nhỏ với công việc người lớn mà các em tham gia được tác giả khắc họa một cách khá ngộ nghĩnh và xúc động. Khổ cuối, tác giả nâng giá trị của hạt gạo thành: "Hạt vàng làng ta". Hạt gạo quý như hạt vàng. Điệp khúc "Hạt gạo làng ta" ở mỗi khổ thơ thể hiện được sự trân trọng tự hào của nhà thơ đối với quê hương. Ta có thể nhận ra những"hạt vàng" lấp lánh trong bài thơ.