Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đăk Lăk , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 644
Điểm GP 131
Điểm SP 833

Người theo dõi (177)

Đang theo dõi (9)

Eren Jeager
Sáng

Câu trả lời:

1. Xác định giới hạn của đới nóng và đới ôn hoà.

+) Vị trí: Đới nóng nằm ở khoảng giữa 2 chí tuyến Bắc và Nam.

+) Vị trí: Nằm từ chí tuyến đến hai vòng cực.

2. Kể tên các kiểu môi trường thuộc đới nóng và đới ôn hoà. Cho biết vị trí và đặc điểm của từng kiểu môi trường.

* Các kiểu môi trường thuộc đới nóng:

Xích đạo ẩm: Môi trường xích đạo ẩm có khí hậu nóng và ẩm quanh năm. Chênh
lệch nhiệt độ giữa các tháng cao nhất và thấp nhất rất nhỏ (khoảng 3°C), nhưng sự chênh lệch giữa nhiệt độ ban ngày và ban đêm lại tới 10°C. Lượng mưa trung bình năm từ 1500 đến 2500mm, mưa quanh
năm, càng gần Xích đạo mưa càng nhiều. Độ ẩm cũng rất cao, trung bình trên 80%, nên không khí ẩm ướt ngột ngạt. Rừng phát triển rậm rạp, có nhiều loài cây mọc thành nhiều tầng, có nhiều loại cây dây leo. Trong rừng có nhiều loài chim, thú sinh sống.

Nhiệt đới gió mùa: Môi trường nhiệt đới gió mùa là môi trường đa dạng và phong phú của đới nóng.
Nhịp điệu mùa có ảnh hưởng lớn tới cảnh sắc thiên nhiên và cuộc sống của con người trong khu vực. Tuỳ thuộc vào lượng mưa và sự phân bố mưa trong năm mà có các thảm thực vật khác nhau. Ó những nơi mưa nhiều, rừng cũng có nhiều tầng nhưng không bằng rừng rậm xanh quanh năm ; trong rừng có một số cây rụng lá vào mùa khô.
Những nơi ít mưa có đồng cỏ cao nhiệt đới. Ở vùng cửa sông, ven biển đang được phù sa bồi đắp, xuất hiện rừng ngập mặn. Đó là những môi trường sống thuận lợi cho nhiều loài động vật khác nhau, cả ở trên cạn và dưới nước.
Khí hậu nhiệt đới gió mùa rất thích hợp cho việc trồng cây lương thực nhiệt đới đặc biệt là cây lúa nước) và cây công nghiệp. Vùng nhiệt đới gió mùa là một r ng những nơi tập trung đông dân nhất trên thế giới.

Nhiệt đới:

+ Nhiệt độ cao quanh năm, nhiệt độ TB năm > 20 độ C

+ Trong năm có hai mùa rõ rệt: Một mùa mưa và một mùa khô (thời kì khô hạn kéo dài khoảng 3 đến 9 tháng).

+ Càng gần chí tuyến thời kì khô hạn càng dài => biên độ nhiệt càng lớn.

+ Lượng mưa TB năm: 500mm - 1500mm.

+ Lượng mưa thay đổi từ xích đạo về chí tuyến.

* Các kiểu môi trường thuộc đới ôn hoà:

Môi trường ôn đới hải dương: Mùa hạ mát, mùa đông không lạnh lắm. Nhiệt độ thường trên 0°c. Mưa quanh năm và lượng mưa tương đối lớn (khoảng 800 - 1000 mm/năm), có nhiều sương mù. đặc biệt là về mùa thu - đông.

Môi trường ôn đới lục địa: Mùa đông kéo dài và có tuyết phủ. Càng đi về phía nam, mùa đông càng ngắn dần, mùa hạ nóng hơn, lượng mưa giảm dần. Vào sâu trong đất liền, mùa đông lạnh và tuyết rơi nhiều, mùa hạ nóng và có mưa.Sông nhiều nước trong mùa xuân - hạ và có thời kì đóng băng vào mùa đông. Càng vào sâu trong nội địa, thời gian sông đóng băng càng dài hơn. Rừng và thảo nguyên chiếm phần lớn diện tích. Thực vật thay đổi từ bắc xuống nam. ở vùng gần vòng cực là đới đồng rêu băng giá quanh năm, về phía nam lần lượt là rừng lá kim, rừng hồn giao, rừng lá rộng, thảo nguyên rừng. Phía đông nam là thảo nguyên.

Môi trường địa trung hải: Sông ngòi ngắn và dốc, mùa thu - đông có nhiều nước hơn và mùa hạ ít nước.
Thực vật thích nghi với điều kiện khí hậu khô hạn trong mùa hạ. Rừng thưa, bao gồm các loại cây lá cứng và xanh quanh năm.

Môi trường cận nhiệt đới gió mùa, cận nhiệt đới ẩm: Nhiệt độ trung bình năm dưới 20 độ C, mùa hạ trên 20 độ C, mùa đông lạnh và dưới 20 độC, mưa nhiều vào mùa hạ, tổng lượng mưa 1000mm-1500 mm.

3. Nêu đặc điểm sản suất nông nghiệp ở đới ôn hòa và đới nóng. Kể tên các sản phẩm chủ yếu của mỗi đới.

Đặc điểm sản suất nông nghiệp ở đới ôn hòa:

- Trình độ kĩ thuật tiên tiến

- Tổ chức sản xuất theo kiểu công nghiệp

Đặc điểm sản suất nông nghiệp ở đới nóng:

- Nhiệt độ và độ ẩm cao nên cây trồng phát triển quanh năm
- Cho phép xen canh, gối vụ

- Khí hậu phân mùa nên cơ cấu cây trồng đa dạng
- Lượng mưa phong phú nên cây trồng phát triển thuận lợi.

- Ứng dụng những tiến bộ khoa học,kĩ thuật vào sản xuất.

4. Nêu các vấn đề: dân số, đô thị, ô nhiễm của mỗi đới

- Đới nóng:

+) Đới nóng chiếm gần 1 nửa dân cư trên thế giới

+) Dân cư phân bố không đồng đều

+) Tập trung ở các vùng ven biển

+) Thưa thớt ở vùng núi, cao ...

+) Môi trường ô nhiễm, tắc nghẽn giao thông

+) Dân số bùng nổ gây ra hậu quả xung đột tộc người. xung đột tôn giáo, chiến tranh

+) Độ thị hoá tự phát làm xuất hiện nhiều khu nhà ổ chuột quanh thành phố, nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội cần giải quyết

- Đới ôn hoà:

+) Tỉ lệ dân số cao

+) Đô thị được phát triển theo quy hoạch chứ không tự phát. +) Các đô thị được mở rộng, kết nối với nhau tao thành chuỗi các đô thị hay chùm đô thị. +) Lối sống đô thị trở nên phổ biến.

+) Ô nhiễm môi trường: Rác thải, Khói bụi tạo thành lớp sương mù bao phủ bầu trời.
+) Ùn tắc giao thông: Nạn kẹt xe thường xuyên xãy ra nhất là giờ cao điểm.
+) Thiếu nhà ở và công trình công cộng: Vô gia cư, dân cư phải sống trong các khu ổ chuột ven thành phố. điều kiện sống kém
+) Thất nghiệp, tệ nạn xã hội....: Thất nghiệp, bán thất nghiệp xảy ra đối với hơn 50% dân cư trong đô thị. Trình độ lao động thấp, không đáp ứng đủ nhu cầu của công việc.

5. Đặc điểm nền sản xuất công nghiệp ở đới ôn hòa

- Nền công nghiệp đới ôn hòa phát triển từ sớm (cách đây khoảng 250 năm)
- Cơ cấu công nghiệp gồm 2 ngành chính là:
+ CN khai thác: Tập trung ở vùng có nhiều khoáng sản như dầu mỏ, than, đá,....
+ Công nghiệp chế biến: Đa dạng, phát triển mạnh gồm các ngành truyền thống như dệt, hóa chất,... đến hiện đại như sản xuất điện tử, hàng không vũ trụ,....
- Công nghiệp đới ôn hòa chiếm ¾ tổng sản phẩm công nghiệp toàn Thế giới.
- Các nước công nghiệp hàng đầu là: Mỹ, Nga, Đức, Anh, Pháp ….
=> Nền công nghiệp hiện đại, có cơ cấu đa dạng

Câu trả lời:

Bài thơ Cảnh khuya được Bác Hồ sáng tác vào năm 1947, thời kì đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kì, gian khổ mà oanh liệt của dân tộc ta. Giữa hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề và những thử thách ác liệt tưởng chừng khó có thể vượt qua. Bác Hồ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại. Người vẫn dành cho mình những giây phút thanh thản để thưởng thức vẻ đẹp cua thiên nhiên nơi chiến khu Việt Bắc. Thiên nhiên đã trở thành nguồn động viên to lớn đối với người nghệ sĩ - chiến sĩ là Bác.

Như một họa sĩ tài ba, chỉ vài nét bút đơn sơ, Bác đã vẽ ra trước mắt chúng ta vẻ đẹp lạ kì của một đêm trăng rừng:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.

Trong đêm khuya thanh vắng, dường như tất cả các âm thanh khác đều lặng chìm đi để bật lên tiếng suối róc rách, văng vẳng như một tiếng hát trong trẻo, du dương. Tiếng suối làm cho không gian vỗn tĩnh lặng lại càng thêm tĩnh lặng. Nhịp thơ ¾ ngắt ở từ trong sau đó là nốt lặng giống như thời gian suy ngẫm, liên tưởng để rồi đi đến hình ảnh so sánh thật đẹp:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa.

Ánh trăng bao phủ lên mặt đất, trùm lên tán cây cổ thụ. Ánh trăng chiếu vào cành lá, lấp lánh ánh sáng huyền ảo. Bóng trăng và bóng cây quấn quýt, lồng vào từng khóm hoa rồi in lên mặt đất đẫm sương:

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

Khung cảnh thiên nhiên có xa, có gần. Xa là tiếng suối, gần là bóng trăng, bóng cây, bóng hoa hòa quyện, lung linh. Sắc màu của bức tranh chỉ có trắng và đen. Màu trắng bạc của ánh trăng, màu đen sẫm của tàn cây, bóng cây, bóng lá. Nhưng duwois gam màu tưởng chừng lạnh lẽo ấy lại ẩn chứa một sức sống âm thầm, rạo rực của thiên nhiên. Hòa với âm thanh của tiếng suối có ánh trăng rời rợi, có bóng cổ thụ, bóng hoa... Tất cả giao hòa nhịp nhàng, tạo nên tinh điệu êm đềm, dẫn dắt hồn người vào cõi mộng.

Nếu ở hai câu đầu là cảnh đẹp đêm trăng nơi rừng sâu thì hai câu sau là tâm trạng của Bác trước thời cuộc:

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ, Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Trước vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên, Bác đã sung sướng thốt lên lời ca ngợi: cảnh khuya như vẽ. Cái hồn của tạo vật đã tác động mạnh đến trái tim nghệ sĩ nhạy cảm của Bác và là nguyên nhân khiến cho người chưa ngủ. Ngủ làm sao được trước đêm lành trăng đẹp như đêm nay?! Thao thức là hệ quả tất yếu của nỗi trăn trở, xao xuyến không nguôi trong tâm hồn Bác trước cái đẹp.

Còn lí do nữa không thể không nói đến. Bác viết thật giản dị: Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Vậy là đã rõ. Ở câu thơ trên, Bác chưa ngủ vì tâm hồn nghệ sĩ xao xuyến trước cảnh đẹp. Vòn ở câu dưới, Bac chưa ngủ vì nghĩ đến trác nhiệm nặng nề của một lãnh tụ cách mạng đang Hai vai gánh vác việc sơn hà.

Trong bất cứ thời điểm nào, hoàn cảnh nào. Bác cũng luôn canh cánh bên lòng nỗi niềm dân, nước. Nỗi niềm ấy hội tụ mọi suy nghĩ, tình cảm và hành động của Người. Tuy Bác lặng lẽ ngắm cảnh thiên nhiên và phát hiện ra những nét đẹp tuyệt vời nhưng tâm hồn Bác vẫn hướng tới nước nhà. Đang từ trạng thái say mê chuyển sang lo lắng, tưởng chừng như phi loogic nhưng thục ra điều này lại gắn bó khăng khít với nhau. Cảnh gợi tình và tình không bó hẹp trong phạm vi cá nhân mà mở rộng tới tình dân, tình nước, bởi Bác đang ở cương vị một lãnh tụ Cách mạng với trách nhiệm vô cùng to lớn, nặng nề.

Bác không giấu nỗi lo mà nói đến nó rất tự nhiên. Ánh trăng vằng vặc và Tiếng suối trong như tiếng hát xa không làm quên đi nỗi đau nô lệ của nhân dân và trách nhiệm đem lại độc lập cho đất nước của Bác. Ngược lại, chính cảnh thiên nhiên đẹp đẽ đầy sức sống đã khơi dậy mạnh mẽ quyết tâm cứu nước cứu dân của Bác. Non sông đất nước đẹp như gấm như hoa này không thể nào rơi vào tay quân xâm lược. Câu thơ cuối cùng chất chứa cảm xúc thật miên mông, sâu sắc. Hồn người lắng sâu vào hồn cảnh vật và cái sâu lắng của cảnh vật tôn thêm nét sâu lắng của hồn người.

Cảnh khuya là một bài thơ hay, có sự kết hợp hài hòa giữa tính truyền thống và tính hiện đại, giữa lãng mạn và hiện thực. Bài thơ bộc lộ rõ tâm hồn nhạy cảm, tinh tế và ý thức trách nhiệm cao cả của Bác Hồ - vị lãnh tụ giản dị mà vĩ đại của đại dân tộc ta. Bài thơ là một dẫn chứng sinh động chứng minh cho phong cách tuyệt vời của người nghệ sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh.