Quoc Tran Anh Le

  • Giáo viên CTVVIP
Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 17516
Số lượng câu trả lời 21928
Điểm GP 1983
Điểm SP 3413

Người theo dõi (464)

dâu cute
Phạm Quỳnh Anh
Gia Hân
Hurrykin

Đang theo dõi (19)

Nguyen Khac Thu
Minh Lệ
Hoang Viet Anh
Phương Anh Nam

Câu trả lời:

Gọi d = (α) ∩ (SBC).

a) Tìm giao tuyến của (α) với (SBC)

Ta có:

M thuộc (α) và M thuộc BC nên M thuộc (SBC).SC nằm trong mp (SBC).(α) song song với SC.

Vậy giao tuyến d của hai mặt phẳng (α) và (SBC) là đường thẳng đi qua M và song song với SC.

Kết luận:
(α) ∩ (SBC) là đường thẳng qua M và song song với SC.

b) Tính tỉ số SN/SA

Bước 1. Xét giao tuyến của (α) với mặt phẳng đáy

Vì M thuộc (α) và M thuộc đáy (ABCD), lại có (α) song song với BD nên
(α) ∩ (ABCD) là đường thẳng qua M và song song với BD.

Gọi đường thẳng này cắt AC tại T.
Khi đó:
MT // BD.

Bước 2. Tính tỉ số AT/AC trong hình bình hành ABCD

Xét riêng trong mặt phẳng đáy, đặt:
A(0;0), B(1;0), D(0;1) => C(1;1).

Vì M là trung điểm của BC nên
M(1;1/2).

Đường chéo AC có phương trình dạng:
(x;y) = (t;t).

Đường thẳng qua M và song song với BD có vectơ chỉ phương là
BD = (-1;1),
nên có dạng:
(x;y) = (1;1/2) + k(-1;1)
tức là
x = 1 - k, y = 1/2 + k.

Vì T thuộc AC nên x = y, suy ra:
1 - k = 1/2 + k
=> 2k = 1/2
=> k = 1/4.

Khi đó:
T thuộc AC ứng với
t = 1 - 1/4 = 3/4.

Vậy
AT/AC = 3/4.

Bước 3. Xét trong tam giác SAC

Ta có:

N thuộc SA,T thuộc AC,N, T cùng thuộc mặt phẳng (α),(α) song song với SC

nên
NT // SC.

Do đó trong tam giác SAC:
tam giác ANT đồng dạng tam giác ASC.

Suy ra:
AN/AS = AT/AC = 3/4.

Vậy:
SN/SA = (SA - AN)/SA = 1 - 3/4 = 1/4.

Kết luận:
a) (α) ∩ (SBC) là đường thẳng qua M và song song với SC.
b) SN/SA = 1/4.

Câu trả lời:

Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn được tôn trọng, yêu thương và sống đúng với con người thật của mình. Thế nhưng, vẫn còn không ít người mang định kiến, xa lánh hoặc kì thị người đồng tính chỉ vì họ có xu hướng tình cảm khác với số đông. Đó là một quan niệm sai lầm cần phải từ bỏ, bởi nó không chỉ gây tổn thương cho người khác mà còn làm xã hội trở nên lạnh lùng, thiếu nhân văn.

Trước hết, cần hiểu rằng đồng tính không phải là một điều xấu, càng không phải là một “căn bệnh” hay “lỗi lầm” như một số người từng nghĩ. Đồng tính chỉ là một xu hướng tình cảm tự nhiên của con người. Họ cũng biết yêu thương, biết hi sinh, biết sống có trách nhiệm như bất kì ai. Vì vậy, không có lí do gì để coi thường, chế giễu hay phân biệt đối xử với họ. Một con người cần được đánh giá bằng nhân cách, đạo đức, cách sống và sự cống hiến, chứ không phải bằng xu hướng tính dục.

Kì thị người đồng tính trước hết là biểu hiện của sự thiếu hiểu biết. Khi chưa hiểu rõ, con người thường dễ phán xét và áp đặt. Nhiều người vô tình dùng những lời nói miệt thị, trêu chọc, thậm chí cô lập người đồng tính mà không biết rằng điều đó có thể gây ra những tổn thương tinh thần rất lớn. Có những người sống trong sợ hãi, tự ti, cô đơn chỉ vì không được gia đình, bạn bè và xã hội chấp nhận. Như vậy, định kiến không chỉ làm đau người bị kì thị mà còn thể hiện sự hẹp hòi, thiếu bao dung của chính người kì thị.

Hơn nữa, một xã hội văn minh là một xã hội biết tôn trọng sự khác biệt. Mỗi người sinh ra đều có quyền được sống thật, được theo đuổi hạnh phúc và được đối xử công bằng. Nếu chỉ vì ai đó khác mình mà chê bai, xa lánh họ thì xã hội ấy sẽ không thể tiến bộ. Trong thực tế, rất nhiều người đồng tính đã nỗ lực học tập, lao động, cống hiến và thành công trong nhiều lĩnh vực. Họ có thể là bác sĩ, giáo viên, nghệ sĩ, nhà khoa học, hay đơn giản là những con người bình thường sống tử tế mỗi ngày. Điều đó cho thấy đồng tính không làm giảm giá trị của một con người.

Từ bỏ quan niệm kì thị người đồng tính còn là cách để chúng ta rèn luyện lòng nhân ái. Khi biết lắng nghe, thấu hiểu và tôn trọng người khác, con người sẽ sống đẹp hơn, trưởng thành hơn. Thay vì chế giễu hay xa lánh, chúng ta nên mở lòng, cư xử công bằng và văn minh. Một lời động viên, một ánh nhìn tôn trọng hay một cách ứng xử tử tế đôi khi có thể giúp một người thêm mạnh mẽ để sống đúng với bản thân mình.

Là học sinh, chúng ta cần nói không với những lời trêu chọc ác ý, những hành động phân biệt đối xử với người đồng tính. Mỗi người hãy bắt đầu từ việc thay đổi cách nghĩ, cách nói và cách ứng xử của mình. Nhà trường, gia đình và xã hội cũng cần tăng cường giáo dục về sự bình đẳng, tôn trọng quyền con người để mọi người hiểu đúng hơn, sống nhân văn hơn.

Tóm lại, kì thị người đồng tính là một quan niệm sai lầm và lạc hậu. Từ bỏ định kiến ấy không chỉ giúp bảo vệ phẩm giá, quyền được yêu thương của mỗi con người mà còn góp phần xây dựng một xã hội công bằng, văn minh và giàu lòng nhân ái. Hãy học cách tôn trọng sự khác biệt, bởi yêu thương và thấu hiểu luôn là điều làm cho con người trở nên tốt đẹp hơn.

Câu trả lời:

Câu 3. Nêu tác dụng của các yếu tố bổ trợ trong văn bản

Các yếu tố bổ trợ trong văn bản như số liệu thống kê, dẫn chứng thực tế, câu hỏi tu từ, dấu ngoặc kép, dấu chấm lửng, dấu chấm than có tác dụng:

Làm cho thông tin trở nên cụ thể, xác thực, đáng tin cậy.Tăng sức thuyết phục cho lập luận của người viết.Nhấn mạnh tính nghiêm trọng của vấn đề tác hại từ Internet đối với trẻ em.Gợi sự chú ý, tạo ấn tượng mạnh và khơi gợi người đọc suy nghĩ, trăn trở về trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội.Làm cho lời văn sinh động, giàu cảm xúc, tránh khô khan.

Câu 4. Phân tích hiệu quả của cách đặt nhan đề

Nhan đề “Mạng ảo nhưng hậu quả... rất thật!” được đặt rất hay và giàu sức gợi.

Nhan đề ngắn gọn, dễ nhớ, gây ấn tượng mạnh ngay từ đầu.Từ đối lập “ảo” và “thật” nhấn mạnh nghịch lí: thế giới mạng là vô hình nhưng những hậu quả mà nó gây ra lại hiện hữu, nghiêm trọng và trực tiếp trong đời sống.Dấu chấm lửng tạo cảm giác day dứt, gợi suy nghĩ; dấu chấm than thể hiện thái độ cảnh báo mạnh mẽ.Nhan đề góp phần thể hiện rõ chủ đề văn bản: cảnh báo những tác động tiêu cực của Internet, đặc biệt với trẻ em, từ đó kêu gọi sự quan tâm và hành động của toàn xã hội.