Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Nghệ An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 96
Số lượng câu trả lời 10362
Điểm GP 2192
Điểm SP 10429

Người theo dõi (1878)

Đang theo dõi (18)

Minh Nhân
Nguyễn Nga
Hương Nguyễn

Câu trả lời:

I. DÀN Ý

1. Mở bài:

- Nhận xét khái quát về vai trò quan trọng của sách trong đời sống của con người.

- Trích dẫn câu nói.

2. Thân bài:

a) Giải thích ý nghĩa câu nói:

* Sách là gì?

+ Là kho tàng tri thức:

- Về thế giới tự nhiên.

- Về đời sống con người.

- Về kinh nghiệm sản xuất.

+ Là sản phẩm tinh thần:

- Sản phẩm của nền văn minh nhân loại.

- Kết quả của quá trình lao động trí tuệ lâu dài.

- Hàng hóa có giá trị đặc biệt.

+ Là người bạn tâm tình gần gũi:

- Giúp ta hiểu điều hay lẽ phải trong đời.

- Làm cho cuộc sống tinh thần thêm phong phú.

* Tại sao Sách là ngọn dèn sáng bất diệt của trí tuệ con người:

+ Sách giúp ta hiểu biết về mọi lĩnh vực:

- Khoa học tự nhiên.

- Khoa học xã hội

+ Sách giúp ta vượt khoảng cách của không gian, thời gian:

- Hiểu quá khứ, hiện tại, tương lai.

- Hiểu tình hình trong nước, ngoài nước.

b) Bình luận về tác dụng của sách:

+ Sách tốt:

- Mở mang trí óc, nâng cao tầm hiểu biết.

- Giúp con người khám phá giá trị của bản thân.

- Chắp cánh cho ước mơ và khát vọng sáng tạo.

+ Sách xấu:

- Tuyên truyền lối sống ích kĩ, thực dụng.

- Gieo rắc những tư tưởng, tình cảm tiêu cực, ảnh hưởng xấu đến việc hình thành nhân cách.

c) Thái độ đối với việc đọc sách:

- Tạo thói quen và duy trì hứng thú đọc sách lâu dài.

- Cần chọn sách tốt để đọc.

- Phê phán và lên án những cuốn sách có nội dung xấu.

3.Kết bài:

- Mỗi người phải biết nói lời đúng, nói lời hay.

Câu trả lời:

PHÂN TÍCH ĐỂ

1. Kiểu bài: Giải thích một vấn để.

2. Nội dung: Làm rõ về sự cùng có mặt của hai câu tục ngữ tưởng như mâu thuẫn với nhau về mối quan hệ giữa học thầy và học bạn.

3. TƯ liệu: Thực tế xã hội và kinh nghiệm bản thân trong đời sống, trong học tập.

DÀN BÀI

1. Mở bài

- Nhân dân ta vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo và đặc biệt là rất hiếu học, rất đề cao việc học.

- Tục ngữ - túi khôn muôn đời của dân gian. Có nhiều câu đã không những khẳng định vai trò tác dụng của người thầy mà còn nêu lên những kinh nghiệm đáng quý về việc học.

- Dần hai câu tục ngữ.

- Chúng ta hiểu như thế nào về ý nghĩa và mối quan hệ giữa hai câu tục ngữ nói trên (mối quan hệ giữa học thầy và học bạn).

2. Thân bài

a. Hiểu “Không thầy đố mày tàm nên" là như thế nào?

• Người thầy có vai trò quyết định trong việc dạy học.

- Truyền thụ kiến thức khoa học hay nói một cách khác là dạy chữ.

- Dạy dỗ bảo ban những điều hay lẽ phải đạo lí ở đời hay nói một cách khác là dạy người.

• Học sinh nỗ lực chủ động bản thân trong quá trình học tập.

- Cố gắng vươn lên lĩnh hội tri thức khoa học.

- Tự giác rèn luyện bản thân tu dưỡng đạo đức của mình.

Hạn chế: câu tục ngữ này chưa chú ý đến vai trò năng động tác dụng đáng kể của việc học bạn.

b. Hiểu “Học thầykhông tày học bạn”là như thế nào?

• Trong quá trình học tập của người học sinh sự hỗ trợ của bạn bè là rất quan trọng.

~Bạn bè là những người gần gũi dễ thông cảm với ta. Do đó, ta có thể học hỏi ở họ bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu.

- ở một mặt nào đó, bạn bẻ cũng có thể được xem là “thầy” ta, chỉ bảo giảng giải rõ ràng, cặn kẽ những điều mà họ đã thấu hiểu một cách tường tận và sâu sắc hơn ta.

a. Mối quan hệ giữa “học thầy” và “học bạn”:

- Học thầy là chủ yếu phải được coi trọng nhưng cũng không thể không chú ý đến việc học hỏi ở bạn bè.

- Người học sinh phải vừa học ở trên lớp vừa học ở nhà. Trên lớp, ta cần học thầy. Về nhà, ta cần học bạn.

- Biết ơn thầy, ta phải kính trọng và vâng lời thầy nhưng cũng phải biết khiêm tốn thương mến, tôn trọng và học hỏi ở bạn mình.

=> 2 câu tục ngữ này khác nhau nhưng lạ mang ý nghĩa bổ sung cho nhau: hãy học bạn và học thầy hợp lí

3 Kết bài

- Hai câu tục ngữ không hể mâu thuẫn nhau và không bác bỏ lẫn nhau mà trái lại đã bổ sung cho nhau: Muốn học tập tốt, ta phải vừa học thầy vừa học bạn một cách chân thành và nghiêm chỉnh nhất.

- Tự xác định thái độ của mình: Phải kính trọng thầy, biết ơn thầy vì “Không thầy đố mày làm nên". Còn đối với bạn, ta phải khiêm tốn học hỏi và chân thành giúp đỡ mỗi khi bạn cần đến.

Câu trả lời:

Phạm Duy Tốn là một cây bút hiện thực phê phán đầu thế kỉ XX. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm trong đó có sống chết mặc bay một tác phẩm mang đậm tính phê phán sâu sắc. Sự đối nghịch giữa một bên là bè lũ quan lại địa phương cường hào ác bá mang tiếng là cha mẹ của dân nhưng lại thờ ơ vô trách nhiệm trước sinh mạng của dân chúng. Một bên là hình ảnh những người dân thật thà chất phác một nắng hai sương bán mặt cho đất bán lưng cho trời nay lại phải cùng nhau oằn mình chống chọi với sự giận dữ của thiên nhiên khắc nghiệt thật là đau xót.

Mở đầu tác giả đưa người đọc vào một bức tranh mà ở đó những mảng màu tối hiện lên rõ nét, sự tương phản được đẩy lên tới cùng cực, bản chất xấu xa vô lại được phơi bày trước mặt bàn dân thiên hạ trên từng trang giấy: “ gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã nước sông Nhị Hà lên to quá Khúc đê làng X thuộc phủ X xem chừng úng quá, hai ba đoạn để thẩm lậu rồi, không khéo vỡ mất”. Tính mạng con dân cả vùng bị “ đe dọa nghiêm trọng”. Quang cảnh cả hàng trăm con người lao động quần quật không ngại khó khăn vất vả để chống lại lũ thật cảm thương biết mấy, thật đáng để đặt ra câu hỏi trong khi dân đang oằn lưng thì quan phụ mẫu đang ở đâu và đang làm gì. “ Kẻ thì thuổng, người vác cuốc, kẻ đội đất người vác tre, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột.

Người dân là vậy nhưng quan phụ mẫu người đáng lẽ phải cùng nhân dân giữ đê làng, giúp đỡ đốc thúc mọi người vá sửa đê, di tán tài sản của nhân dân thì đang ở những nơi mà chả có ai ngờ tới hoặc có ngờ tới thì họ đã quá quen với những hình ảnh như vậy về người cha phụ mẫu của mình.Hắn ngồi chễm trệ trong đình cách đó “ bốn năm trăm thước”. Đình ấy cũng trong mặt đê làng nhưng cao ráo và sáng sủa, dẫu có vỡ đê thì cũng chả có hề hấn gì.

Giai cấp quan lại và nhân dân có sự đối lập tương phản rõ nét như vậy quang cảnh ở ngoài đê và trong đình còn khác xa nhau mà thật khó lòng mà tưởng tượng ra và chấp nhận được. Trong đình thì “ đèn thắp sáng trưng, nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ đi lại nhộn nhịp. Bức tranh đối lập được đẩy lên cao trào, tính chất phê phán được bộc lộ một cách sâu sắc, có chút phẫn uất với sự thờ ơ vô trách nhiệm của bọn ăn trên ngồi trốc, có gì đó thương cảm ngậm ngùi với số kiếp của quần chúng lao khổ dưới sự bóc lột trị vì của cường hào ác bá của chế độ phong kiến kéo dài hàng nghìn năm. Nếu ngoài kia là thảm cảnh nước lũ dâng vỡ đê nhà cửa tan tác tính mạng tài sản bị đe dọa thì trong đình là thú vui tiêu khiển cờ bạc tệ nạn của xã hội, nếu ngoài kia gấp gáp khẩn trương chạy đua với tử thần để giữ gìn tài sản tính mạng thì trong này là sự thong dong nhà hạ, nước cứ dâng dâng nữa mưa có rơi rơi nữa thì trong đình cao ráo, mưa không tới mặt nắng không tới đầu, đê có vỡ thì thì cũng kệ chúng bay ông đây cũng không hề hấn gì.

Loading...

Dựng hai cảnh đối lập đó tác giả vạch mặt bọn cường hào ác bá vô trách nhiệm bỏ mặc tính mạng của con dân. Làm quan mà vô trách nhiệm dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng là có tội là đáng bị trừng trị. Nếu vô tình không biết thì đó có thể là một lời bao biện, nhưng biết mười mươi mà vẫn vậy thì thật đáng bị trừng trị một cách nghiêm minh.
Từ xưa tới nay dân ta đã phải chịu biết bao sự áp bức bóc lột và bất công do xã hội phong kiến mà cụ thể là do bọn tham quan ô lại cường hào ác bá đem lại. Ta đã biết đến một anh Chí phèo mà cái thân phận của anh cũng bọt bèo như chính cái âm Phèo trong cái tên của anh. Anh bị xã hội phong kiến và bọn cường hào đẩy tới sát chân tường. Từ một anh nông dân chân chất thật thà chỉ có một ước muốn chính đáng sẽ có một căn nhà chồng cầy thuê cuốc mướn, vợ dệt vải cùng nhau siêng năng làm lụng nếu để tích được chút tiền sẽ mua thêm vài mảnh ruộng. Vậy mà cái ước mơ nhỏ bé cũng tan thành ảo mộng khi anh bị đẩy vào nhà tù thực dân, sau bốn năm năm trở lại đã trở thành tha hóa bị đẩy xuống đáy của xã hội. Để rồi cùng với năm thọ binh chức họ đã kêu lên những tiếng kêu đau xót ai cho tôi làm người. Cũng trong một đêm giông tố như trong sống chết mặc bay, ta gặp một người đàn bà nghèo mà buộc lòng chị phải bán con bán chó để nộp sưu và thuế thân cho chồng, tới người chết rồi nhưng gánh nặng vẫn đặt lên vai chị, em chồng chị chết từ lâu mà tên vẫn còn trong sổ. Chị Dậu, Chí phèo, hay người đàn bà trong “ Một bữa no” đã cùng viết lên tấu lên bản hành trạng về tội của bọn tham quan lòng lang dạ sói mất nhân tính không còn xứng đáng với hai chữ con người.

Để tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm sống chết mặc bay bằng tài năng của mình tác giả Phạm Duy Tốn đã sử dụng khéo léo biện pháp tạo tình huống một cách độc đáo. Đẩy con người vào tình cảnh khó khăn, ảnh hưởng tới sinh mạng để tính cách bộc lộ rõ nét, hai phe hoàn toàn khác nhau, người dân lao động chăm chỉ dốc sức hộ đê, qua tri phủ dã man thờ ơ vô nhân tính. Trong tác phẩm ta thấy thủ pháp tương phản tăng tiến được sử dụng như là một biện pháp nghệ thuật chủ yếu, tương phản sáng tối trong đình và ngoài đê, tương phản gấp gáp khẩn trương với ung dung nhàn nhã, tương phản sự bao bọc cùng nhau vượt qua hoạn nạn với sự phè phỡn xu nịnh của bọn tham quan.Xây dựng nhân vật điển hình cho phe phản diện trong tác phẩm.

Qua tác phẩm tác giả đã bộc lộ niềm cảm thông với những con người lao động đồng thời lên án bọn tham quan ô lại vô trách nhiệm táng tận lương tâm.

Câu trả lời:

Năm 1828, Nguyễn Công Trứ được cử làm Doanh điền sứ. Ông chiêu mộ dân lưu vong khai phá miền ven biển, lập nên các huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình). Hàng trăm đồn điền được thành lập rải rác ở các tỉnh Nam Kì.

Việc khai hoang đã tăng thêm diện tích canh tác. Nhưng ruộng đất bỏ hoang vẫn còn nhiều, vì nông dân bị địa chủ, cường hào cướp mất ruộng đất, phải lưu vong.

Nhà Nguyễn đặt lại chế độ quân điền. Nông dân bị trói buộc vào ruộng đất để nộp tô thuế và đi phu dịch cho nhà nước. Nhưng phần lớn ruộng đất đã tập trung vào tay địa chủ. Do vậy, chế độ quân điền không còn tác dụng phát triển nông nghiệp và ổn định đời sống nhân dân.

Ở các tỉnh phía bắc, việc sửa đắp đê không được chú trọng. Lụt lội, hạn hán xảy ra luôn. Thời Tự Đức, tài chính thiếu hụt, nạn tham nhũng phổ biến, việc sửa đắp đê càng khó khăn hơn. Có nơi như phủ Khoái Châu (Hưng Yên), đê vỡ 18 năm liền. Dân phiêu tán khắp nơi, trong dân gian có câu: "Oai oái như phủ Khoái xin cơm". Cả một vùng đồng bằng phì nhiêu biến thành bãi sậy.

Về công thương nghiệp, theo đà phát triển của các thế kỉ trước, công thương nghiệp có điều kiện phát triển thêm. Nhà Nguyễn thành lập nhiều xưởng đúc tiền, đúc súng, đóng tàu ở kinh đô Huế, Hà Nội, Gia Định… Thợ giỏi các địa phương được tập trung về sản xuất trong các xưởng của nhà nước.

Thợ đóng tàu nước Việt Nam có tay nghề khá cao, biết ứng dụng kĩ thuật châu Âu. Một người Mĩ đến Việt Nam năm 1820 nhận xét: "Người Việt Nam là những thợ đóng tàu thành thạo. Họ hoàn thành công trình với kĩ thuật hết sức chính xác" [cần dẫn nguồn].

Ngành khai thác mỏ được mở rộng. Cả nước có hàng trăm mỏ được khai thác (các mỏ vàng, bạc, đồng, kẽm, chì, diêm tiêu...). Nhưng cách khai thác còn lạc hậu, các mỏ hoạt động thất thường và sa sút dần.

Các nghề thủ công ở nông thôn và thành thị vẫn không ngừng phát triển. Nhiều làng thủ công nổi tiếng khắp nước như làng Bát Tràng (Hà Nội), làng đúc đồng Ngụ Xã (Hà Nội), làng dệt lụa Vạn Phúc (Hà Tây), Bảo An (Quảng Nam)... Nhưng hoạt động thủ công nghiệp trong dân gian còn rất phân tán. Thợ thủ công phải nộp thuế sản phẩm nặng nề.

Sang thế kỉ XIX, đất nước đã thống nhất, việc buôn bán có nhiều thuận lợi. Ngoài các thành thị nổi tiếng truớc kia như Hà Nội, Phú Xuân (Huế), Gia Định, nhiều thị tứ mới xuất hiện rải rác ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.

Một thuyền trưởng người Pháp đến Hội An năm 1819 nhận xét: "Hội An chỉ có một đường phố nhưng rất dài. Nhà cửa đều xây bằng gạch. Gian trước bày bán hàng hoá, gian sau là kho hành kín đáo. Hàng hoá vận chuyển đến Hội An rất thuận lợi nhờ có nhiều kênh đào" [cần dẫn nguồn].

Theo Trịnh Hoài Đức, "Thành phố Mỉ Tho nhà ngói cột chạm, ghe thuyền tấp nập, phồn hoa huyên náo, thực là một nơi đại đô hội". Ở Sa Đéc, "phố chợ thẳng bờ sông, nhà cất liền nhau kéo dài 5 dặm. Dưới sông, nhà bè đậu thẳng hàng, bán đủ các thứ tơ lụa Nam - Bắc, dầu mỡ, than củi, tre mây, mắm muối. Trên bờ sông buôn bán tấp nập, hàng hoá choá mắt, thật là một nơi phồn hoa danh thắng vậy".

Dưới triều Nguyễn, thuyền buôn các nước Xiêm, Mã Lai, nhất là Trung Quốc, thường xuyên sang Việt Nam mua bán hàng hoá. Các vua Nguyễn cũng nhiều lần phái quan sang Trung Quốc, Singapore, Philippines, Xiêm, Nam Dương bán gạo, đường, các lâm sản... và mua về len dạ, đồ sứ, vũ khí...

Tàu buôn phương Tây (Bồ Đào Nha, Pháp, Mĩ) cũng đến buôn bán ở các hải cảng Việt Nam. Nhưng nhà Nguyễn không cho người phương Tây mở cửa hàng. Họ chỉ được ra vào một số cảng đã quy định.