Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bắc Ninh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 156
Điểm GP 19
Điểm SP 115

Người theo dõi (32)

Anna Trần
diệp phạm
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (4)

Sách Giáo Khoa
Bình Trần Thị
Nguyen Thuy Linh
Thùy Ngân

Câu trả lời:

Vắc-xin là chế phẩm có tính kháng nguyên dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động, nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một (số) tác nhân gây bệnh cụ thể. Các nghiên cứu mới còn mở ra hướng dùng vắc-xin để điều trị một số bệnh (vắc-xin liệu pháp, một hướng trong các miễn dịch liệu pháp). Thuật ngữ vắc-xin xuất phát từ vaccinia, loại virus gây bệnh đậu bò nhưng khi đem chủng cho người lại giúp ngừa được bệnh đậu mùa (tiếng Latinh vacca nghĩa là "con bò cái"). Việc dùng vắc-xin để phòng bệnh gọi chung là chủng ngừa hay tiêm phòng hoặc tiêm chủng, mặc dù vắc-xin không những được cấy (chủng), tiêm mà còn có thể được đưa vào cơ thể qua đường miệng.

b)

Sau khi mắc một số bệnh nhiễm khuẩn nào đó có thể có khả năng miễn dịch bệnh đó vì: Khi xâm nhập vào cơ thể người ,vi khuẩn tiết ra độc tố.Độc tố là kháng thể kích thích tế bào bạch cầu sản xuất ra kháng thể chống lại .Nếu cơ thể sau đó khỏi bệnh thì kháng thể đã có sẵn ở trong máu giúp cơ thể miễn dịch với bệnh đó

c)

Miễn dịch tự nhiên: là hiện tượng cơ thể không mắc một số bệnh hoặc không mắc lại bệnh đã từng nhiễm. Miễn dịch nhân tạo: Là khi người được tiêm vacxin phòng bệnh nào đó thì không mắc bệnh.

Câu trả lời:

Bộ não con người trưởng thành có trọng lượng trung bình khoảng 1,3-1,4 kg (2,9-3,1 lb), hoặc khoảng 2% tổng trọng lượng cơ thể, với khối lượng khoảng 1.130 phân khối (cm3) ở phụ nữ và 1.260 cm3 ở nam giới, mặc dù có sự khác biệt đáng kể với từng cá nhân. Khác biệt thần kinh giữa hai giới đã được chứng minh không làm ảnh hưởng tới chỉ số IQ hoặc các chỉ số khác của sự nhận thức.

Bộ não con người được cấu tạo từ các tế bào thần kinh neuron, tế bào thần kinh đệm và các mạch máu. Số lượng tế bào thần kinh trong não người đàn ông trưởng thành, theo mảng chụp cắt lớp, đã được ghi nhận có tổng cộng khoảng 86 tỷ, một số lượng tương đương với số các tế bào không phải là neuron. Trong số này, có 16 tỷ (chiếm 19% lượng neuron) đều nằm trong vỏ não (bao gồm chất trắng dưới vỏ), 69 tỷ (chiếm 80% lượng neuron) nằm ở tiểu não, và ít hơn 1% lượng neuron nằm trong phần còn lại của não.

Đại não với các bán cầu của nó hình thành nên phần lớn nhất của bộ não con người và nằm ở phía trên các cấu trúc não khác. Nó được bao phủ bằng một lớp vỏ não có địa hình phức tạp. Bên dưới đại não là cuống não, trụ đỡ của nó. Ở phần cuối não, dưới vỏ não và sau thân não chính là tiểu não, một cấu trúc có bề mặt nhăn nheo(vỏ tiểu não),khiến cho nó trông khác biệt so với các khu vực não khác. Các cấu trúc tương tự cũng có mặt trong động vật có vú khác, mặc dù chúng khá khác nhau về kích thước. Như một quy luật, đại não càng nhỏ thì vỏ não ít nhăn lại. Vỏ não của chuột cống và chuột đồng gần như trơn nhẵn. Vỏ não cá heo và cá voi, mặt khác, nhăn nheo hơn não người.

Não sống rất mềm, cảm giác như thạch hoặc đậu hũ. Mặc dù còn được gọi là chất xám, não sống lại có màu hồng nhạt pha be,và càng vào sâu bên trong nó càng trắng dần.

Câu trả lời:

Việc bảo vệ mắt là hết sức quan trọng đối với người thường xuyên sử dụng máy tính. Vì khi ngồi máy tính lâu rất dễ làm ảnh hưởng tới thị lực của mắt. Ảnh hưởng nhiều nhất vẫn là với những người hay chơi game và nhân viên văn văn phòng, hiện nay có rất nhiều cách bảo vệ đôi mắt như: cách bảo vệ mắt khi làm việc với Word ... rất thích hợp với những nhân viên văn phòng thường xuyên phải soạn thảo văn bản và còn rất nhiều cách khác nữa.

Việc thường xuyên tiếp xúc với máy tính khiến nhiều bạn mắc các bệnh về rối loạn thị giác hay còn họi là hội chứng thị giác do sử dụng máy tính. Và hiện tượng thường gặp là mỏi mắt, nhức đầu, nhìn mọi thứ mờ, mắt khô, chói mắt, hay chảy nước mắt và mỏi vai cổ. Cùng tham khảo cách bảo vệ mắt khi ngồi máy tính hàng ngày để biết cách khắc phục những tình trạng trên.

Trước khi đi tìm hiểu cách bảo vệ mắt khi dùng máy tính hàng ngày chúng ta cùng xem nguyên nhân khiến mắt bạn mắc các hiện tượng trên

Nguyên Nhân Dẫn Đến Hội Chứng Thị Giác Khi Sử Dụng Máy Tính

- Chiếu sáng kém hoặc quá nhiều kèm với các tia phản xạ từ màn hình.
- Khoảng cách nhìn không đúng.
- Ngồi sai tư thế.
- Mắt có tật khúc xạ: Viễn thị, loạn thị, lão thị hay các rối loạn về điều tiết.
- Giảm lượng nước mắt đến giác mạc do giảm số lần chớp mắt hoặc bị khô mắt.
- Phối hợp các yếu tố trên.

Cách Bảo Vệ Mắt Khi Ngồi Máy Tính Hàng Ngày

Một vài “mẹo” nhỏ sau đây sẽ giúp bạn tránh khỏi những ảnh hưởng không tốt khi sử dụng máy tính thường xuyên:

Giảm lượng bức xạ từ màn hình

Ánh sáng chói và ánh sáng phản xạ từ màn hình máy tính chiếu trực tiếp vào mắt sẽ khiến mắt chúng ta khó chịu và căng thẳng. Vì vậy, các bác sĩ chuyên khoa mắt thường khuyên rằng, để giảm lượng bức xạ từ màn hình, vị trí màn hình máy tính nên được đặt cách mắt 50 đến 60 cm hoặc bạn cũng có thể điều chỉnh độ sáng màn hình cho vừa phải, hoặc đặt thêm kính lọc cho màn hình. Sử dụng màn hình tinh thể lỏng (LCD) mới cũng tốt hơn cho mắt của bạn.

Tránh làm việc trong phòng tối

Làm việc trong phòng tối sẽ làm cho mắt bạn mệt mỏi vì mắt phải điều tiết theo độ sáng của màn hình và bóng tối xung quanh. Theo các chuyên gia, nếu làm việc với máy tính hay đọc sách điện tử, bạn nên ngồi trong phòng sáng, tốt nhất là nơi có ánh sáng tự nhiên.

Đo khám mắt

Để bảo vệ mắt hàng ngày bạn cần đo và khám mắt định kỳ. Nếu mắt bạn đọc không rõ chữ trên màn hình, có thể gây căng thẳng cho mắt hoặc đau đầu. Trước hết, cần đảm bảo đặt màn hình cách mắt 50-60cm, để mắt bạn cảm thấy dễ chịu, thoải mái. Nếu các vấn đề về mắt vẫn còn, bạn nên đi khám bác sĩ chuyên khoa về mắt.
Những người thường xuyên tiếp xúc với máy tính và công nghệ thông tin, dễ bị nguy cơ tật khúc xạ và cần phải đo khám khúc xạ để chọn loại kính mắt phù hợp.

Dùng nước mắt nhân tạo

Những người 40 tuổi trở lên rất hay gặp triệu chứng khô mắt khi làm việc thường xuyên với máy tính. Theo các chuyên gia, thói quen nhìn chằm chằm vào màn hình hoặc trong khi đọc sách, tạp chí, ít khi chớp mắt sẽ khiến mắt dễ bị khô. Bạn nên dùng nước mắt nhân tạo để tránh tình trạng khô mắt, và để mắt nghỉ ngơi, tránh nhìn màn hình mỗi 20 phút.

Đừng ngồi mãi một chỗ

Giữ đầu và cổ ở một vị trí quá lâu, nhất là khi bạn làm việc với máy tính hay sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin, thường dẫn đến đau nhức ở cổ hoặc đầu. Hãy điều chỉnh màn hình ngang với tầm mắt và ngồi thẳng lưng, không nên ngồi mãi một chỗ.
Thỉnh thoảng bạn nên đứng lên, đi lại trong khi làm việc, hoặc ngồi tập với một quả banh lớn để giúp các cơ bắp hoạt động.

Luyện tập thị giác

Sau khi sử dụng máy tính trong nhiều giờ, mắt bạn thường mệt mỏi vì các cơ phải hoạt động liên tục để nhận biết và quan sát nhiều hình dạng, màu sắc khác nhau. Theo các chuyên gia tư vấn, bạn nên áp dụng quy tắc 20-20-20: đó là cứ sau 20 phút làm việc với máy tính, hãy nhìn vào một vật nào đó trong 20 giây ở cách xa 20 feet (khoảng 6m). Sự nghỉ ngơi này sẽ giúp mắt và hệ thần kinh được thư giãn.

Dành thời gian tĩnh tâm

Theo các nghiên cứu, việc sử dụng máy tính hay “smartphone” thường xuyên có thể dẫn đến sự gia tăng sản xuất cortisol, một hormone gây stress. Mức cortisol cao, sẽ kéo theo các vấn đề liên quan đến mất ngủ, ADHD, lo lắng, trầm cảm. Bác sĩ tư vấn hãy để hệ thần kinh của bạn được nghỉ ngơi, tĩnh tâm bằng cách thực hành yoga, ngồi thiền hoặc đi dạo…

Không nhìn màn hình trước khi đi ngủ

Con người chúng ta đã được “lập trình” để hoạt động vào ban ngày và ngủ nghỉ vào ban đêm. Theo các bác sĩ, việc sử dụng các thiết bị công nghệ thông tin trước khi đi ngủ sẽ kích thích tinh thần và gây ra các vấn đề về giấc ngủ. Tốt nhất nên tắt máy tính, tivi và điện thoại ít nhất hai giờ trước khi đi ngủ để bạn cảm thấy dễ ngủ và ngủ ngon hơn.

Ngoài ra, màn hình máy tính cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ra các tác hại cho đôi mắt của bạn, việc để màu sắc màn hình quá đậm hoặc quá nhạt cũng khiến cho bạn cảm thấy mỏi mắt, hãy chỉnh màu màn hình máy tính sao cho hợp lý nhất để giúp đôi mắt của mình luôn trong trạng thái tốt nhất nhé

Vậy là bạn đã biết cách bảo vệ mắt khi dùng máy tính hàng ngày rồi. Với những phương pháp này bạn có thể bảo vệ cho đôi mắt của bạn sáng và khỏe hơn rồi

Câu trả lời:

Hiển nhiên, để duy trì sự sống, ăn uống luôn là việc quan trọng số một. Tuy nhiên, quan niệm của con người về chuyện này thì khác nhau. Người phương Tây coi ăn là chuyện tầm thường, không đáng nói (triết lý) : “Người ta ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn”. Người Việt Nam nông nghiệp với tính thiết thực thì trái lại, công khai nói to lên rằng ăn quan trọng lắm : Có thực mới vực được đạo.Nó quan trọng tới mức Trời cũng không dám xâm phạm : Trời đánh còn tránh bữa ăn. Mọi hành động của người Việt Nam đầu lấy ăn làm đầu : ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn chơi, ăn học, ăn tiêu, ăn ngủ, ăn nằm, ăn cắp, ăn trộm… Ngay cả khi tính thời gian cũng lấy ăn uống và cấy trồng làm đơn vị : Làm việc gì nhanh thì trong khoảng giập bã trầu, lâu hơn một chút là chín nồi cơm, còn kéo dài tới hàng năm thì là hai mùa lúa, mọi giá trị (lương, thuế, học phí… ) đều quy ra thóc gạo…

2. Ăn uống là văn hóa, chính xác hơn, đó là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên. Cho nên, sẽ không có gì ngạc nhiên khi cư dân các nền văn hóa gốc du mục (như phương Tây, hoặc như Bắc Trung Hoa) thiên về ăn thịt (1), còn trong cơ cấu bữa ăn của người Việt Nam thì lại bộc lộ rất rõ dấu ấn của truyền thống văn hóa nông nghiệp lúa nước.

- Đó là một cơ cấu ăn thiên về thực vật. Và trong thực vật thì lúa gạo là thành phần đứng đầu bảng. Tục ngữ ta có những câu như : Người sống về gạo, cá bạo về nước/ Cơm tẻ mẹ ruột/ Đói thì thèm thịt thèm xôi, hễ no cơm tẻ thì thôi mọi đường… Quê hương của cây lúa là vùng Đông Nam Á thấp ẩm, trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là nơi cây lúa rất phát triển. Không phải ngẫu nhiên mà bữa ăn của người Việt Nam được gọi là bữa cơm. Không phải ngẫu nhiên mà cây lúa trở thành tiêu chuẩn cái đẹp của người Việt Nam : Em xinh là xinh như cây lúa… (câu hát). Cũng không phải ngẫu nhiên mà tiếng Việt có vô số từ khác nhau để phân biệt các giai đoạn trưởng thành khác và các bộ phận chuyên biệt của cây lúa.

Còn nhỏ là cây mạ, lớn lên là cây lúa, ngọn lúa sắp đơm bông gọi là đòng, hạt lúa nếp non rang lên làcốm, hạt lúa già là thóc, bông lúa gặt về thì phần còn lại ngoài đồng là rạ, đập tách hạt lúa ra rồi thì phần còn lại của bông lúa là rơm, sau khi xay giã xong thì hạt thóc chia hành gạo – cám – trấu, gạo gãy gọi là tấm. Gạo nấu lên thành cơm, xôi, nấu cho nhiều nước thành cháo, chế biến thành món quà là bỏng… Cây lúa theo đặc tính hạt thóc thì có lúa nếp, lúa tẻ, theo thời vụ thì có lúa mùa, lúa chiêm…

- Trong bữa ăn của người Việt Nam, sau lúa gạo thì đến rau quả. Nằm trong khu vực của một trong những trung tâm trồng trọt, Việt Nam có một danh mục rau quả mùa nào thức ấy, phong phú vô cùng. Đối với người Việt nam thì đói ăn rau, đau uống thuốc là chuyện tất nhiên. Ăn cơm không rau như nhà giàu chết không kèn trống/ Ăn cơm không rau như đánh nhau không có người gỡ.

Dễ hiểu là có nhiều thứ rau quả có nguồn gốc từ Đông Nam Á mà vùng Bắc Trung Hoa không có. Lê Quý Đôn (1773) viết : “Sản vật tốt, phần nhiều sản xuất ở phương Nam. Có nhiều thứ hương dược (thuốc có mùi thơm), hoa quả, cây rau mà Trung Quốc không có. Từ đời Hán, người ta khai thác hương, hoặc sinh ở ngoài biển, hoặc sinh ở trong đất, đem bày la liệt ở thiên phủ (cung phủ nhà vua)”. Sách Hán thư viết rằng, vào năm 111 TCN, Hán Vũ Đế cho lập Phù Lê cung, bắt đem 100 cây vải, 2 cây chuối tiêu từ đất Nam Việt lên trồng vào đó, cho đặt chức Tu quan ở Giao Chỉ để trông nom việc dâng tiến hoa quả.

Tuy nhiên, nói đến rau trong bữa ăn Việt Nam không thể không nhắc đến hai món đặc thù là rau muống và dưa cà : Anh đi anh nhớ quê nhà/ nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương… Huyện Tiên Sơn (Hà Bắc) có làng Hiên Đường (làng Ngang) có loại rau muống thân lớn, sắc trắng, đốt thưa, ngọn mẫm, ăn ngọt và giòn, ngon nổi tiếng từ thời Hùng Vương, thường dùng để tiến vua. Sự tích Thánh Gióng gắn liền với quả cà : mẹ Thánh Gióng là người đàn bà trồng cà, cha Thánh Gióng là ông thần đi hái trộm cà, bản thân Thánh Gióng nhờ ăn “bảy nong cơm, ba nong cà” mà lớn thành người khổng lồ đi cứu nước. Cà và rau cải đem muối dưa tạo thành những thức ăn độc đáo, phù hợp với thời tiết và khẩu vị nên ngon miệng tới mức tục ngữ có câu : Có dưa chừa rau/ Có cà thì tha gắp mắm/ Thịt cá là hoa, tương cà là gia bản.

Các loại gia vị đa dạng như hành, gừng, ớt, tỏi, riềng, rau mùi, rau răm, rau húng, xương sông, thìa là, hồ tiêu, tía tô, kinh giới, lá lốt, diếp cá v.v… cũng là những thứ không thể thiếu được trong bữa ăn của người Việt Nam.

- Đứng thứ ba trong cơ cấu ăn và đứng đầu trong hàng thức ăn động vật của người Việt Nam là các loại thủy sản, sản phẩm đặc thù của vùng sông nước. Sau “cơm rau” thì “cơm cá” là thông dụng nhất. Có cá đổ vạ cho cơm/ Con cá đánh ngã bát cơm là thế.

Từ các loại thủy sản, người Việt Nam đã chế ra một thứ đồ chấm đặc biệt là nước mắm và mắm các loại. Thiếu nước mắm thì chưa thành bữa cơm Việt Nam. Cơm mắm không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với bình dân : Các bà phi tần nhà Nguyễn từng đặt các địa phương làm hàng trăm lọ mắm để tiến vua. Từ tiếng Việt, danh từ “nước mắm” đã đi vào ngôn ngữ loài người, có mặt trong nhiều cuốn từ điển bách khoa Đông – Tây.

- Cuối cùng, chiếm một vị trí rất khiêm tốn trong cơ cấu bữa ăn Việt Nam mới là thịt. Phổ biến như thịt gà, lợn (heo), trâu… Đặc sản bình dân thì như là thịt chó (tục ngữ : Sống được miếng dồi chó, chết được bó vàng tâm/ Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?), sơn hào hải vị thì như gân hổ, yến sào…

3. Đồ uống – hút truyền thống của người Việt Nam thì có trầu cau, thuốc lào, rượu gạo, nước chè, nước vối… Đó đều là những sản phẩm của nghề trồng trọt Đông Nam Á.

Ăn trầu cau là phong tục cực kỳ lâu đời ở Việt Nam, nó cũng phổ biến khắp vùng Đông Nam Á cổ đại. Miếng trầu gồm một miếng cau, một lá trầu quết vôi, phụ thêm một miếng vỏ cây chát (gọi là miếng rễ),người ta nhai rồi nhổ nước và nhả bã. Ăn trầu cau có tác dụng trừ sơn lam chướng khí, chống hôi miệng, chống sâu răng, gây chảy nước bọt v.v… Lá trầu có tác dụng chữa bệnh nấc cho trẻ nhỏ, bệnh đau mắt cho cụ già, chữa các mụn làm mủ sưng tấy…

Tục ăn trầu cau tiềm ẩn một triết lý về sự tổng hợp của nhiều chất khác nhau : cây cau vươn cao là biểu tượng của trời (dương), vôi – chất đá là biểu tượng của đất (âm), dây trầu mọc lên từ đất, quấn quýt lấy thân cây biểu tượng cho vai trò trung gian hòa hợp. Sự tổng hợp biện chứng của âm dương tam tài ấy tạo nên một kết hợp hết sức hài hòa. Miếng trầu có cái tươi ngọt từ hạt cau, cái cay của lá trầu, cái nồng nàn của vôi, cái bùi của rễ… Tất cả tạo nên một chất kích thích, làm cho thơm miệng, đỏ môi và khuôn mặt bừng bừng như say rượu. Ăn trầu có nhai mà không nuốt. Nó mang một tính cách linh hoạt hiếm thấy : không phải ăn, không phải uống, cũng không phải hút.

Trong khi ăn trầu là thú vui chủ yếu của phụ nữ thì hút thuốc lào là thú vui chủ yếu của nam giới. Thuốc lào là một thứ cay gần giống như thuốc lá. Người ta hái lá phơi khô, thái nhỏ rồi cho vào điếu mà hút. Từ vua quan đến thứ dân trước đây ai cũng hút thuốc lào. Trên thực tế, ăn trầu ở Việt Nam từng có không chỉ đàn bà, mà cả đàn ông, và hút thuốc lào ở Việt Nam cũng có không chỉ đàn ông, mà cả phụ nữ. Hà Nội có riêng hẳn một phố Hàng Điếu chuyên bán điếu và phụ tùng điếu các loại.

Trong khi thú hút thuốc lá xuất phát từ phương Tây chỉ có lửa (duy dương) thì hút thuốc lào của ta là cả một sự tổng hợp biện chứng của âm dương thủy hỏa : Cái điếu (dụng cụ để hút thuốc lào) bên dưới chứa nước điếu, bên trên có nõ điếu đựng thuốc, lửa (hỏa) đốt thuốc ở trên được rít, kéo xuống gặp nước (thủy) ở dưới, khói thuốc (dương) đi qua nước (âm) mà tạo nên tiếng kêu và đến miệng người hút, thấm vào từng tế bào cơ thể con người. Thuốc lào và điếu hút thuốc lào vì vậy trở thành một sự đam mê và biểu tượng của đam mê tột độ – trai gái yêu nhau – được ví là say nhau như điếu đổ. Ca dao có câu : Nhớ ai như nhớ thuốc lào, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Rượu Việt Nam làm từ gạo nếp, thứ gạo đặc sản của vùng Đông Nam Á. Gạo nếp được đem đồ xôi, ủ cho lên men rồi cất ra. Rượu chế tạo như thế gọi là rượu trắng, hoặc rượu đế để phân biệt với rượu có ướp thêm các thứ hoa gọi là rượu mùi hoặc màu (như rượu cúc, rượu sen… ). Rượu ngâm thuốc gọi là rượu thuốc (rượu tam xà, ngũ xà, rượu tắc kè… ). Cúng ông bà tổ tiên thường phải có ly rượu trắng (rượu màu, rượu thuốc và các thứ rượu phương Tây không thể dùng cúng được).

Cây chè và tục uống chè có nguồn gốc từ vùng Bách Việt (Nam Trung Hoa và Bắc Đông Dương). Sách Trà kinh của Trung Hoa viết : “Trà là một loại cây quý ở phương Nam. Cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vy trắng… Vị rất hàn”. Trà kinh của Lục Vũ đời Đường nói : “Qua lô ở phương Nam, người ta pha lấy nước uống thì suốt đêm không ngủ được. Giao Châu và Quảng Châu rất quý trà ấy. Mỗi khi có khách đến chơi thì pha mời”. Thế kỷ IV – V, tục uống trà mới chỉ phổ biến ở phía Nam sông Dương Tử. Cuối đời Đường mới phổ biến ở Bắc Trung Hoa, đến thế kỷ VIII – IX truyền sang Triều Tiên, Nhật Bản. Thế kỷ XVI, thương thuyền Hà Lan mới đưa về châu Âu. Ấn Độ, Sri Lan-ca mới trồng chè phổ biến từ giữa thế kỷ XIX. Ban đầu, khi mới phát hiện ra chè, người ta dùng nó như một thứ dược thảo, rồi nghiền lá chè ra thành bột để uống, cuối cùng mới là những cách uống trà như ngày nay. Người Việt Nam uống chè tươi, chè khô, ướp chè với các loại hoa như hoa sen, hoa nhài, hoa ngâu, hoa cúc…