Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đà Nẵng , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 27
Số lượng câu trả lời 116
Điểm GP 6
Điểm SP 29

Người theo dõi (19)

Kim Hoàng Oanh
Tên Của Tôi
Ngô Thành Chung
Hoàng Việt
Mika Chan

Đang theo dõi (58)


Câu trả lời:

Khởi nghĩa Yên Thế là một cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông dân ly tán tại vùng Yên Thế Thượng và sau đó là Thái Nguyên, đứng đầu là Hoàng Hoa Thám, với quân Pháp, khi Pháp vừa kết thúc chiến tranh với Trung Quốc và bắt đầu kiểm soát toàn bộ vùng Bắc kỳ những năm cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam.

Nguyên nhân phát sinh

Cuộc khởi nghĩa Yên Thế khởi nguồn tại vùng Yên Thế Thượng. Trước khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng này, nơi đây đã là một vùng đất có một cư dân phức tạp, chủ yếu là nông dân lưu tán các loại. Họ chọn nơi đây làm nơi cư trú và đã công khai chống lại triều đình. Khi thực dân Pháp đến bình định vùng này, các toán vũ trang ở đây có thể cũng chống lại quân Pháp như đã từng chống lại triều đình nhà Nguyễn trước đó để bảo vệ miền đất tự do của họ.Và vì Yên Thế là bình địa của Pháp khi chúng mở rộng chiếm đóng Bắc Kì nên họ đã nổi dậy đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của mình.

Yên Thế Thượng vào giữa thế kỷ 19 còn là một vùng đất hoang vu chưa được khai phá. Đây là nơi tá túc của nhiều toán giặc Khách, nhiều toán thổ phỉ thường xuyên cướp phá các vùng lân cận. Đây cũng là nơi cho nông dân lưu tán hoặc đang bị truy đuổi đến ẩn náu và sinh sống từ những năm 60 và 70 của thế kỷ 19. Ở đây, họ cùng nhau khai phá đất hoang để trồng cấy, kiếm lâm sản, sống lẫn lộn với bọn giặc Khách, bọn thổ phỉ. Để chống lại ách áp bức, sự truy bắt của chính quyền cũng như chống lại sự cướp bóc, tàn phá của giặc cướp, những người nông dân lưu tán đến cư ngụ ở đây đã phải lập những đội vũ trang tự vệ, những làng chiến đấu. Đây được đánh giá là vùng đất thiếu an ninh nhất của Bắc kỳ lúc bấy giờ.

Nhiều học giả nhận định ba nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa:

Do nhu cầu tự vệ của nông dân lưu tán cư trú ở đây, nhằm giữ vững vùng đất này như là một vùng đất ngoài pháp luật, không chịu sự kiểm soát của bất kỳ chính quyền nào. Sự yêu nước và chống ngoại bang Pháp của nghĩa quân Yên Thế. Yên Thế là vùng đất phía Tây Bắc Giang, diện tích rộng cây cối rậm rạp, cây cỏ um tùm từ đấy có thể đi thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên nên rất thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánh nhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi. Diễn biến Giai đoạn thứ nhất (1884 - 1892)

Giai đoạn này, các toán nghĩa quân còn hoạt động riêng lẻ, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất. Lúc bấy giờ xuất hiện hàng chục toán nghĩa quân của Đề Nắm, Bá Phức, Thống Luận, Tổng Tài, Đề Thuật, Đề Chung... Mỗi thủ lĩnh cầm đầu một toán quân và làm chủ một vùng. Theo Chapuis, tới cuối năm 1889, lực lượng của Đề Thám gồm khoảng 500 quân được huấn luyện chu đáo. Đề Thám liên kết với lực lượng của Lương Tam Kỳ, một chỉ huy quân Cờ đen, và thủ lĩnh người Thái Đèo Văn Trị. Ngoài căn cứ địa Yên Thế, Đề Thám còn tổ chức đồn điền tại Phủ Lạng Thương, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc Yên và Bắc Giang.

Trong giai đoạn này, tuy phong trào chưa được thống nhất vào một mối, nhưng nghĩa quân vẫn hoạt động có hiệu quả. Tháng 11-1890, nghĩa quân Đề Thám đã giành thắng lợi trong trận chống càn ở Cao Thượng. Từ đầu đến cuối tháng 12-1890, ba lần quân Pháp tấn công vào Hố Chuối, nhưng cả ba lần chúng đều bị nghĩa quân Đề Thám đánh bại. Đến cuối năm 1891, nghĩa quân đã làm chủ hầu hết vùng Yên Thế, mở rộng hoạt động sang cả Phủ Lạng Thương.

Năm 1891, quân Pháp lại tấn công Hố Chuối, nghĩa quân Đề Thám phải rút lên Đồng Hom. Tranh thủ thời cơ, chúng tiến nhanh vào vùng Nhã Nam, rồi vừa tổ chức các cuộc càn quét, vừa xây dựng các đồn bốt để bao vây nghĩa quân.

Nhằm ngăn chặn các cuộc hành quân càn quét của địch, nghĩa quân đã lập một cụm cứ điểm gồm 7 hệ thống công sự ở phía bắc Yên Thế do Đề Nắm, Đề Thám, Bá Phức, Đề Tâm, Đề Tuất, Đề Chung, Tổng Tài chỉ huy. Lúc này, Đề Nắm là một trong những thủ lĩnh có uy tín nhất của nghĩa quân Yên Thế.

Tháng 3-1892, Pháp huy động hơn 2.200 quân bao gồm nhiều binh chủng (công binh, pháo binh...) do tướng Voarông (Voiron) chỉ huy ào ạt tấn công vào căn cứ nghĩa quân. Do tương quan lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân sau nhiều trận kịch chiến đã phải rút khỏi căn cứ. Lực lượng nghĩa quân bị suy yếu rõ rệt. Khó khăn ngày càng nhiều, một số thủ lĩnh ra hàng, một số khác hi sinh trong chiến đấu, trong đó có Đề Nắm bị giết vào tháng 4-1892.

Để cứu vãn tình thế, Đề Thám đã đứng ra tổ chức lại phong trào và trở thành thủ lĩnh tối cao của nghĩa quân Yên Thế. Tuy gặp khó khăn, nhưng thế mạnh của quân Yên Thế là thông thuộc địa hình và cơ động, giúp họ thoát được vòng vây của quân Pháp.[1]

Giai đoạn thứ hai (1893-1897)

Trong giai đoạn này, nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, lần thứ nhất vào tháng 10-1894, lần thứ hai vào tháng 12-1897. Sau khi Đề Nắm hi sinh, Đề Thám đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào Yên Thế. Ông đã khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các vùng xung quanh, rồi tiếp tục hoạt động. So với giai đoạn trước, số lượng nghĩa quân tuy có giảm, nhưng địa bàn hoạt động lại mở rộng hơn.

Năm 1894, nghĩa quân trở về Yên Thế tiến hành xây dựng lại căn cứ Hố Chuối, đồng thời mở rộng hoạt động ra các vùng thuộc Bắc Ninh, Bắc Giang. Lúc này, các phong trào Bãi Sậy, Ba Đình, cũng như các đội quân kháng chiến của Đốc Ngữ, Đề Kiều đều đã tan rã, nên thực dân Pháp có điều kiện tập trung lực lượng đàn áp khởi nghĩa Yên Thế.

Ngày 17-9-1894, quân Yên Thế bắt cóc Chesnay, biên tập viên tờ Avenir du Tonkin. Do phải chịu áp lực từ phía chính quyền thuộc địa và khó khăn trong việc dập tắt cuộc khởi nghĩa, quân đội Pháp phải tiến hành hòa hoãn để nghĩa quân Yên Thế thả Chesnay. Về phía nghĩa quân, tuy có giành được một số thắng lợi, nhưng lực lượng cũng suy yếu rõ rệt. Trong tình hình đó, Đề Thám thấy cần phải hòa hoãn với Pháp để tranh thủ thời cơ củng cố lực lượng. Tháng 10-1894, cuộc thương lượng giữa nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp kết thúc.Theo đó, phía Pháp trả 15.000 francs tiền chuộc, họ phải rút khỏi Yên Thế và để Đề Thám kiểm soát 4 tổng Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng, với quyền thu thuế trong 3 năm. Trong thời gian này, Đề Thám tới sống ở đồn Phồn Xương và cho cày cấy với quy mô lớn. Ông cũng được Kỳ Đồng hỗ trợ, tuyển mộ người cho ông từ thành phần phu từ một đồn điền của Pháp do Kỳ Đồng quản lý.

Năm 1895, Đề Thám tham gia tổ chức đánh Bắc Ninh, và từ chối trả lại những vũ khí mà ông chiếm được tại đây cho phía Pháp. Tới tháng 11-1895, thiếu tá Gallieni đưa một pháo thuyền chở quân lên uy hiếp, buộc Đề Thám đầu hàng, nhưng nghĩa quân Đề Thám đã chống đỡ quyết liệt. Để tránh những cuộc đụng độ lớn với quân Pháp, Đề Thám chủ trương chia nghĩa quân thành những toán nhỏ phân tán hoạt động trong rừng và ở các làng mạc. Nghĩa quân phải di chuyển hoạt động trong bốn tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Phúc Yên.

Trước sự truy lùng và vây quét ráo riết của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngày càng suy yếu. Để bảo toàn lực lượng, Đề Thám lại xin giảng hòa với Pháp lấn thứ hai. Thực dân Pháp lúc này cũng muốn chấm dứt xung đột để tiến hành khai thác thuộc địa. Vì vậy, tháng 12-1897, hiệp ước hòa hoãn giữa thực dân Pháp và nghĩa quân Đề Thám đã được ký kết với những điều kiện ràng buộc chặt chẽ hơn, nghĩa quân phải nộp cho Pháp tất cả vũ khí và phải bãi binh. Đề Thám bề ngoài tỏ ra là phục tùng, nhưng bên trong vẫn ngầm củng cố lực lượng.

Giai đoạn thứ ba (1898 - 1908)

Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu. Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc lương ăn, vừa tăng cường sắm sửa vũ khí, ra sức luyện tập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân ở Phồn Xương tuy không đông (khoảng 200 người), nhưng rất thiện chiến. Đồng thời, Đề Thám còn mở rộng quan hệ giao tiếp với các nhà yêu nước ở Bắc và Trung Kì,

Tại Yên Thế, nghĩa quân Hoàng Hoa Thám đã hai lần đón tiếp nhà yêu nước Phan Bội Châu. Giữa năm 1906, Châu Trinh cũng lên Yên Thế gặp Đề Thám. Đề Thám còn lập một căn cứ gọi là đồn Tú Nghệ dành cho các nghĩa sĩ miền Trung ra huấn luyện quân sự.

Về phía Pháp, trong thời gian này chúng đã ráo riết lập đồn, bốt, mở đường giao thông..., tạo mọi điều kiện cần thiết để đánh đòn quyết định vào căn cứ nghĩa quân Yên Thế.

Giai đoạn thứ tư (1909- 1913)

Năm 1908, Đề Thám tham gia cuộc nổi dậy của lính khố xanh tại Bắc Ninh, Nam Định và Nhã Nam, khiến một sĩ quan Pháp bị giết. Tới 27-7 năm 1908, xảy ra vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội có sự tham gia của Đề Thám. Cuộc binh biến này được chuẩn bị rất chu đáo, theo đó nghĩa quân sẽ bắn phá đồn binh Pháp tại Đồn Thủy (nay là Bệnh viện Quân đội 108, Hà Nội) bằng đại bác nhằm vô hiệu hóa đồn này. Các đồn binh tại Sơn Tây và Bắc Ninh sẽ bị chặn đánh, không cho tiếp cứu Hà Nội. Quân Đề Thám chờ ngoài thành Hà Nội, chờ tín hiệu từ trong thành, sẽ đánh Gia Lâm và cắt đường xe lửa và điện thoại. Tuy nhiên cuộc binh biến thất bại, quân Đề Thám phải rút về, 24 người tham gia cuộc binh biến bị Pháp xử tử, 70 người bị xử tù chung thân.

Nhân cơ hội này, thực dân Pháp chủ trương tập trung lực lượng tiêu diệt nghĩa quân. Tháng 1-1909, dưới quyền chỉ huy của đại tá Batay (Bataille), khoảng 15.000 quân cả Pháp và ngụy đã ào ạt tấn công vào Yên Thế. Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừa chuyển dần xuống Phúc Yên, Vĩnh Yên, Bắc Ninh, rồi rút sang Tam Đảo, Thái Nguyên. Trên đường di chuyển, nghĩa quân vẫn tổ chức đánh trả quyết liệt, gây cho địch những thiệt hại nặng nề. Điển hình là trận chặn giặc ở đồn Hom, Yên Thế (30-1-1909); trận núi Hàm Lợn ở Tam Đảo, Phúc Yên (15-3-1909).

Trước các cuộc vây quét tiêu diệt gắt gao của quân Pháp, lực lượng nghĩa quân ngày càng giảm sút. Đến cuối năm 1909, hầu hết các tướng lĩnh đã hi sinh, hoặc sa vào tay giặc, như Cả Trọng, Cả Huỳnh, Cả Tuyển (con Nguyễn Thiện Thuật), Ba Biều, bà Ba Cẩn... Có một số người ra hàng như: Cả Dinh, Cai Sơn... Từ 29-1 tới 11-11 năm 1909, quân Đề Thám thua 11 trận quan trọng, bị quân Pháp vây hãm tại Yên Thế. Bà Ba Cẩn bị bắt, bị đày đi Guyana. Đến đây, phong trào coi như đã thất bại về cơ bản.

Do lực lượng giảm sút, nhiều người bỏ trốn, Đề Thám phải nhờ đến Lương Tam Kỳ hỗ trợ. Tuy nhiên, ngày 10-2-1913, Đề Thám bị hai tên thủ hạ Lương Tam Kỳ giết hại tại một khu rừng cách chợ Gồ 2 km, nộp đầu cho Pháp lấy thưởng. Sự kiện này đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.

Nhận xét:

Đề Thám là người rất yêu chuộng tự do, độc lập, quyết tâm giải phóng cảnh cá chậu chim lồng, vì dân mà chiến đấu cho nên người anh hùng ấy sống mãi trong lòng dân, được nhân dân ủng hộ cả tinh thần cũng như vật chất, từ gánh rau xanh của miền quê Yên Dũng, gánh súng đạn ở biên giới đến con ngựa hay ở Việt Yên, bài thuốc quý ở Cao Bằng… đều được đưa về Yên Thế. Sát cánh với Đề Thám còn có một tập thể tướng lĩnh đầy cơ mưu tài trí, người vợ ba can đảm, biết lo trước liệu sau, các con Cả Trọng, Cả Dinh, Cả Huỳnh… có tài chiến trận. Cai Son, Cai Ba, Cai Cờ, Cai Tề, Lý Thu… suốt đời tận trung cùng minh chủ. Các bà, các chị hai sương một nắng sản xuất binh lương, thâu lượm tin tức, đến em thơi khi giặc bắt không khai báo một lời.

Nguyên nhân thất bại

Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, theo nhiều học giả, có thể do các nguyên nhân:

Tư tưởng lãnh đạo của Đề Thám (chủ hòa) không hợp với nhiều nghĩa quân (chủ chiến). Nhiều nghĩa quân đã bị trói buộc vào tình trạng tá điền không công cũng gây nên sự rạn nứt trong nội bộ của nghĩa quân. Nghĩa quân Yên Thế chưa lấy được lòng dân do đôi khi nghĩa quân vẫn cướp bóc, sách nhiễu dân chúng. Mục tiêu của cuộc khởi nghĩa chỉ là để giữ một vùng đất nhỏ độc lập với chính quyền của Pháp, chỉ phù hợp với nông dân lưu tán cư trú ở Yên Thế, mà không cuốn hút được các thành phần xã hội khác ở Việt Nam lúc đó. Thiếu cộng tác với các phong trào chống Pháp khác tại Việt Nam lúc đó. Đánh giá Ưu điểm Diễn ra trong một thời gian dài gây cho Pháp không ít tổn thất. Thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm chiến đấu của nhân dân ta. Bước đầu giải quyết được yêu cầu ruộng đất cho nông dân. Để lại nhiều bài học kinh nghiệm cho cuộc chiến đấu về sau. Nhược điểm Chưa có sự liên kết với các phong trào yêu nước cùng thời. Nhiều lúc còn bị động. Giai cấp lãnh đạo là nông dân, chưa có đường lối đúng đắn, chưa có hệ tư tưởng lãnh đạo. Là phong trào mang tính tự phát. Nhược điểm của Phong trào nông dân Yên Thế phản ánh sự bế tắc của phong trào yêu nước của VN những năm cuối thế kỉ XIX - đầu XX, đất nước lúc này rơi vào sự khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế

Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế nằm trên địa bàn thị trấn Cầu Gồ, huyện Yên Thế. Nơi đây đã được quy hoạch tôn tạo thành một điểm du lịch và hiện đang được đề nghị công nhận là di tích quốc gia đặc biệt.

Câu trả lời:

KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC
(TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XV)


I. CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC TỐNG (THẾ KỈ X – XI)

1. Cuộc kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê (năm 981)

Năm 980, lợi dụng việc vua Đinh Tiên Hoàng bị ám hại, triều đình Đại Cồ Việt gặp nhiều khó khăn, vua Tống sai quân xâm lược nước ta. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lập tức được bà Thái hậu họ Dương và nhiều tướng lĩnh tôn lên làm vua, chỉ đạo cuộc kháng chiến. Năm 981, quân Tống tiến vào nước ta. Với truyền thống yêu nước sâu sắc và ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, quân và dân Đại Cồ Việt đã chiến đấu anh dũng và đầy mưu trí, đánh tan các đạo quân xâm lược ngay ở vùng Đông Bắc. Một số tướng giặc chết hoặc bị bắt. Cuộc kháng chiến hoàn toàn thắng lợi. Quan hệ Việt - Tống trở lại ổn định.

Năm 1005, khi Lê Hoàn mất, một số đại thần nhà Tống xin vua Tống sai quân sang đánh nước ta một lần nữa, vua Tống trả lời: “Họ Lê thường vẫn sai con vào chầu, không thiếu trung thuận, nay nghe tin mới chết, chưa có lễ thăm viếng đã vội đem quân sang đánh, như vậy không đáng là bậc vương giả”.

2. Cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý (1075 – 1077)

Gần 100 năm yên bình trôi qua, Đại Việt thời Lý đang vươn lên trong xây dựng đất nước. Cùng lúc đó, nhà Tống suy yếu lại gặp nhiều khó khăn ở trong nước cũng như ở vùng biên giới phía Bắc. Theo đề nghị của Tể tướng Vương An Thạch, vua Tống hạ lệnh chuẩn bị gấp rút cuộc xâm lược Đại Việt với mục tiêu: “Nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải kiêng nể”.

Được tin đó, vua Lý mời các đại thần vào cung hội bàn. Thái uý Lý Thường Kiệt đã chủ trương: “Ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân đánh trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Được sự tán đồng của mọi người và được sự ủng hộ của quân sĩ, Thái uý Lý Thường Kiệt - người chỉ đạo cuộc kháng chiến, đã thực hiện chiến lược “Tiên phát chế nhân”, kết hợp với lực lượng dân binh của các dân tộc miền núi, đem quân đánh lên phía bắc. Năm 1075, quân ta đánh sang châu Khâm, châu Liêm (Quảng Đông, Quảng Tây – Trung Quốc), rồi tập trung bao vây thành Ung Châu (Nam Ninh - Quảng Tây), đánh tan hoàn toàn lực lượng chuẩn bị xâm lược của nhà Tống và rút về. Năm 1077, 30 vạn quân Tống tràn sang nước ta. Bằng trận quyết chiến trên bờ Bắc sông Như Nguyệt (sông Cầu - Bắc Ninh), quân ta do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, đã đánh tan quân xâm lược. Bài thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tạm dịch là:

Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận ở sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
(theo Lịch sử Việt Nam, tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1971)
Mãi mãi vang vọng non sông.

II. CÁC CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG QUÂN XÂM LƯỢC MÔNG – NGUYÊN (THẾ KỈ XIII)

Thế kỉ XIII, trên bước đường ổn định và phát triển đất nước dưới thời Trần, nhân dân Đại Việt lại phải đương đầu với một cuộc thử lửa lớn lao kéo dài suốt 30 năm. Với tư tưởng bành trướng, làm chủ toàn bộ phương Nam, quân Mông – Nguyên đã ba lần đánh xuống nước ta (vào các năm 1258, 1285 và 1288). Dưới sự chỉ huy của vị thống soái, nhà quân sự thiên tài Trần Hưng Đạo và các vua Trần yêu nước, cùng hàng loạt tướng lĩnh tài năng, “cả nước đứng dậy” cầm vũ khí, gậy gộc chiến đấu dũng cảm, quyết bảo vệ Tổ quốc thân yêu.

Cùng với hai hội nghị lịch sử - Bình Than và Diên Hồng, vang lên lời hịch của Quốc công tiết chế Trần Hưng Đạo: “Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa cũng nguyện xin làm” (theo Thơ văn Lý - Trần)

Kinh thành Thăng Long ba lần bị vó ngựa Mông – Nguyên giày xéo, bộ tổng chỉ huy kháng chiến có lần bị kẹp giữa hai “gọng kìm” của giặc, nhưng với tinh thần “sát Thát”, thực hiện kế “thanh dã”, chủ động đối phó với mọi âm mưu của giặc, quân dân Đại Việt đã đánh bại quân xâm lược, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Chiến thắng Bạch Đằng vang dội mãi mãi đi vào lịch sử như một biểu tượng của truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất, quật cường của dân tộc.

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


Tạm dịch:

Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,
Non sông nghìn thủa vững âu vàng.


Cùng trong khoảng thời gian này, năm 1282, quân Mông – Nguyên đã đánh vào Cham-pa. Dưới sự chỉ đạo của vua Cham-pa và Thái tử Ha-ri-gít, quân và dân Cham-pa đã rút khỏi kinh đô Vi-giay-a, rồi sau đó phản công chiến đấu quyết liệt, buộc giặc phải tách một bộ phận rút lên mạn bắc, để rồi theo lệnh trên đánh lên Đại Việt.

III. PHONG TRÀO ĐẤU TRANH CHỐNG XÂM LƯỢC ĐẦU THẾ KỈ XV VÀ KHỞI NGHĨA LAM SƠN

Cuối thế kỉ XIV, nhà Trần suy vong. Bằng một cuộc cải cách lớn, Tể tướng Hồ Quý Ly mong cứu vãn tình thế để có đủ lực lượng chống lại sự đe doạ xâm lược của nhà Minh. Đầu thế kỉ XV, do không đoàn kết được nhân dân, nhà Hồ chịu thất bại trước cuộc xâm lược của quân Minh. Năm 1407, Đại Việt lại rơi vào ách đô hộ nghiệt ngã, tàn bạo. Hàng loạt cuộc khởi nghĩa đã bùng lên ở miền xuôi cũng như miền ngược, nhưng đều bị đàn áp. Xuất phát từ niềm tự hào:

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập,
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương (Bình Ngô đại cáo)


Năm 1418, một cuộc khởi nghĩa lớn đã dấy lên ở đất Lam Sơn (Thanh Hoá), do Lê Lợi và Nguyễn Trãi lãnh đạo.

Với tinh thần “quyết không đội trời chung cùng quân giặc”, nghĩa quân Lam Sơn đã chiến đấu ngoan cường, bất khuất, sẵn sàng chịu hi sinh gian khổ để rồi vượt qua được giai đoạn khó khăn, chủ động đánh vào Nam, giải phóng Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hoá, và sau đó, làm chủ Thanh Hoá. Tháng 9 – 1426, nghĩa quân mở cuộc tấn công đại quy mô ra Bắc. Với tư tưởng “lấy nhân nghĩa để thắng hung tàn, đem chí nhân mà thay cường bạo”, nghĩa quân không chỉ lôi cuốn được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, mà còn phân hóa được lực lượng của kẻ thù, đẩy quân Minh vào thế bị động. Không còn cách nào khác, quân giặc phải sai người về nước xin cứu viện. Cuối năm 1427, nghĩa quân Lam Sơn chiến đấu chủ động, sáng tạo đã làm nên chiến thắng lẫy lừng Chi Lăng – Xương Giang, đánh tan tành 10 vạn viên binh của giặc. Quân xâm lược Minh đầu hàng và phải rút về nước.

Mùa xuân năm 1428, đất nước sạch bóng quân thù.

… Xã tắc từ đây vững bền,
Giang sơn từ đây đổi mới.

Câu trả lời:

Vua Việt Nam là nhà cai trị nước Việt Nam độc lập tự chủ từ thời dựng nước đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Tùy hoàn cảnh lịch sử mà có thể mang tước hiệu và chức vụ khác nhau, ở trong nước tước hiệu tự xưng cao nhất là hoàng đế và thấp hơn là vương. Về chức vụ, trong quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì có khi được thụ phong Quốc vương hoặc Quận vương, có khi chỉ là Tiết độ sứ hay Đô thống sứ.

Trong huyền sử, khái niệm vua Việt Nam đã thấy ghi chép từ Hồng Bàng thị nhưng còn nhiều điểm nghi vấn mơ hồ chưa thể khẳng định rõ rệt, sau đó nhà Thục cướp ngôi họ Hùng và họ Triệu lấy nước của nhà Thục. Thế nhưng Hồng Bàng thị là dòng dõi Thần Nông thị,[1] Thục Phán là hậu duệ Khai Minh thị[1] còn Triệu Đà cũng là người Hán [2]...như vậy những triều đại sơ khai đều có sự nghi vấn gây tranh cãi. Trong ngàn năm Bắc thuộc, từng trỗi dậy những chính quyền nhưng thời gian tồn tại chưa được bao lâu đã bị dẹp yên, sự nghiệp chưa ổn định lâu dài nên chưa thể cấu thành triều đại. Từ khi họ Khúc giành lấy quyền tự chủ cho đến hết loạn 12 sứ quân, danh nghĩa Việt Nam vẫn chỉ là một phiên chấn của Trung Quốc với cái tên Tĩnh hải quân, các nhà lãnh đạo Việt Nam thời tự chủ chỉ ở mức Tiết độ sứ cả trong nước và ngoại giao, đến lúc Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán mới tự xưng vương. Bắt đầu từ đấy, vua Việt Nam mới chính thức được xác định, tuy nhiên nhà Ngô vẫn chưa đặt quốc hiệu. Bấy giờ bên Trung Quốc cũng đang loạn to, chính quyền trung ương còn mải lo đánh dẹp nên chưa thể nhòm ngó xuống mạn cực nam, chỉ có nước Nam Hán kế cận thỉnh thoảng xung đột mà thôi. Đến thời nhà Đinh, đối với thần dân trong nước, các vua người Việt đã xưng hoàng đế và đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, gặp lúc nhà Tống cũng mới chấm dứt cục diện Ngũ đại thập quốc nên sai sứ sang sắc phong vua Đinh làm Giao Chỉ quận vương, từ đó nền quân chủ Việt Nam mới được xác lập.

Sau các cuộc tấn công thất bại của nhà Tống, người Hoa đã phải công nhận quyền lực của người Việt ở Thăng Long. Nước Việt được xem như một dạng chư hầu đặc biệt mà Trung Quốc không thể sát nhập bằng vũ lực nhưng, ngược lại, người Việt cũng phải công nhận Trung Quốc là một nước lớn, về phương diện ngoại giao phải chịu lép nhường thần quyền con trời, mạng trời cao hơn cho vua Trung Quốc, tuy vua Việt vẫn có quyền xưng là con trời và vâng mạng trời cai trị dân đối với dân nước Việt. Vua Việt Nam tự ví mình với Mặt Trời như vua Trung Quốc. Từ đây mô hình chính trị Trung Hoa đã được Việt hóa và phát triển để khẳng định ngai vua ở Thăng Long là ngai vàng của Hoàng đế nước Nam người trị vì "Đế quốc phương Nam" theo mệnh trời. Hệ thống triều đình của các vua nước Việt cũng tương tự các triều đình của vua chúa Trung Quốc, các nghi thức và danh phận của các vị quan cũng tương tự như quan lại Trung Quốc.

Các vị vua nước Việt đã sử dụng rất nhiều nghi thức, biểu tượng chỉ dành riêng cho vua Trung Quốc như áo long bào màu vàng có rồng 5 móng, giường long sàng, ngôi cửu ngũ, khi chết thì dùng từ "băng hà" và xây lăng có đường hầm dẫn xuống huyệt. Các vua nước Việt được chính thức dùng các nghi thức đặc biệt nhạy cảm với vua Trung Quốc như thờ trời, tế trời ở đàn Nam Giao, được quyền cai quản các thần linh ở nước Việt, được quyền phong chức tước cho các thánh, thần, sông núi ở nước Việt, có lẽ chỉ ngoại trừ vua Đồng Khánh là vị vua Việt Nam duy nhất chịu làm em của một nữ thần mà thôi...; có vua Việt Nam còn mượn cớ đau chân để khỏi quỳ gối trước chiếu chỉ vua Trung Quốc để chứng tỏ mình không phải là cấp dưới của vua Trung Quốc. Tóm lại, các vị vua của Việt Nam là các vị vua thực sự như các vua Trung Quốc.

Các vua Việt Nam đã dùng gần như đầy đủ các nghi thức thần quyền quân chủ dành riêng cho vua chúa Trung Quốc, chỉ có cái khác duy nhất là quyền lực thần quyền này không được phép áp đặt lên dân Trung Quốc, ngược lại, quyền lực thần quyền của vua chúa Trung Quốc cũng không áp đặt được lên vua quan và dân nước Việt, các quan của triều đình Việt Nam thì chỉ tuân lệnh và trung thành với vua Việt Nam mà thôi.

Thiên mệnh của vua Trung Quốc chỉ kéo dài đến biên giới Việt-Hoa. Theo ý thức thần quyền của hai chế độ quân chủ thì biên giới này do Trời vạch sẵn và được Trời cũng như các thần bảo vệ. Cả hai nước đều ý thức được tầm quan trọng của đường biên giới này trong việc duy trì quyền lực giữa hai nước và đã giữ được sự cố định truyền thống của nó trong một thời gian rất dài trong lịch sử. Quan hệ triều cống với Trung Quốc được coi là lựa chọn thay thế duy nhất cho đối đầu, chiến tranh hoặc cấm vận kinh tế với giá rẻ nhất.

Vì vậy Việt Nam trên danh nghĩa vẫn là một nước chư hầu của Trung Quốc, hầu hết các vị vua Việt Nam lên ngôi đều phải chịu sắc phong của Trung Quốc; hoặc phải để vua Trung Quốc hợp thức hóa vương vị và thần quyền của mình như vua Quang Trung. Vào lúc loạn lạc thay đổi triều đại ở Việt Nam là cơ hội tốt để các triều đại quân chủ và phong kiến phương bắc mượn cớ giúp vua triều trước, không chịu sắc phong cho vua mới hoặc đem quân qua can thiệp nhằm chiếm đóng và đô hộ lâu dài nước Việt như thời nhà Minh, nhà Thanh. Một số vua khác chỉ trị vì trên danh nghĩa, quyền lực thực sự lại nằm trong các vị chúa hoặc các đại thần và phe cánh. Hầu hết các vị vua đều được biết bằng Miếu hiệu hoặc Thụy hiệu và Tôn hiệu vắn tắt, những trường hợp vị quân chủ chỉ đặt một niên hiệu trong thời gian tại vị thì sẽ được biết đến bằng Niên hiệu.

Đối với Trung Quốc thì vua Việt Nam có tước hiệu là:

Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ: thời họ Khúc và nhà Ngô Giao Chỉ Quận Vương: thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê và gian đoạn đầu nhà Hậu Lý An Nam Quốc Vương: thời nhà Hậu Lý, nhà Trần, nhà Hậu Lê và nhà Tây Sơn An Nam Đô Thống Sứ Ty: thời nhà Mạc và giai đoạn đầu nhà Lê trung hưng Việt Nam Quốc Vương: thời nhà Nguyễn

Sau đây là danh sách các vị vua Việt Nam từ khi hình thành nhà nước đến hết thời kỳ quân chủ. Trong danh sách này, ngoài những vị vua còn liệt kê một số nhân vật không phải vua nhưng đã nắm giữ thực quyền cai trị tối cao lãnh đạo đất nước như: các vị Tiết độ sứ thời tự chủ, các chúa Trịnh và chúa Nguyễn thời Lê trung hưng...Những vị vua tự xưng chế độ chưa thực sự ổn định, nhưng do chống ngoại xâm nên cũng bỏ qua sự trung lập mà đưa vào để tôn vinh sự chính thống và độc lập dân tộc:

Thời kỳ sơ sử[sửa | sửa mã nguồn] Hồng Bàng[sửa | sửa mã nguồn]

Kỷ Hồng Bàng hiện vẫn còn gây tranh cãi về tính chính xác và thời điểm xuất hiện. Do đó giai đoạn này được xem có tính truyền thuyết nhiều hơn.

Chân dungVua[3]Miếu hiệu[1]Thụy hiệu[3]Niên hiệu[1]Tên húyThế thứ[1]Trị vì

Kinh Dương Vương không có Kinh Dương Vương[4] không có Lộc Tục[3] khai sáng triều đại, con thứ Đế Minh, em Đế Nghi 2879 TCN[1][5] ?
Lạc Long Quân & Âu Cơ - Tết 2009.jpg Lạc Long Quân không có Lạc Long Quân[6] không có Sùng Lãm[3] con Kinh Dương Vương ? ?
Hùng Vương (I) không có Hùng Vương[7] không có không rõ con trưởng Lạc Long Quân TK VII TCN[8][9][10] ?
Hùng Vương (II) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (III) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (IV) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (V) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Mausoleum of Hung King.JPG Hùng Vương (VI) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (VII) không có Hùng Vương[7] không có Lang Liêu[11] ? ?
Hùng Vương (VIII) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (IX) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (X) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XI) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XII) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XIII) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XIV) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XV) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XVI) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XVII) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? ?
Hùng Vương (XVIII) không có Hùng Vương[7] không có không rõ ? 258TCN[3]hoặc 208TCN
Nhà Thục (257-208 TCN, hoặc 207-179 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungVua[3]Miếu hiệu[3]Thụy hiệu[3]Niên hiệu[3]Tên húy[3]Trị vì

AnDuongVuong.jpg An Dương Vương không có An Dương Vương[12] không có Thục Phán 257TCN—208TCN[3]
hoặc 207TCN—179TCN[13]
Nhà Triệu (207-111 TCN)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungVua[3]Miếu hiệu[2]Thụy hiệu[3]Niên hiệu[2]Tên húyThế thứ[13]Trị vì[3]

Zhao Tuo(Heyuan).JPG Triệu Vũ Đế[2] không có Vũ Vương
Vũ Đế[14]
không có Triệu Đà[3] Khai sáng triều đại 207TCN 137TCN
Si lü yu yi.JPG Triệu Văn Đế[2] không có Văn Vương
Văn Đế[15]
không có Triệu Hồ[13]
Triệu Mạt[16]
Triệu Muội[3]
cháu nội Triệu Đà, con Triệu Trọng Thuỷ 137TCN 125TCN
Triệu Minh Vương[2] không có Minh Vương không có Triệu Anh Tề[3] con Triệu Hồ 125TCN 113TCN
Triệu Ai Vương[2] không có Ai Vương không có Triệu Hưng[3] con thứ Triệu Anh Tề 113TCN 112TCN
Thuật Dương Vương[2] không có Thuật Dương Vương
Vệ dương vương
Vệ dương hầu[17]
không có Triệu Kiến Đức[3] con trưởng Triệu Anh Tề, anh Triệu Hưng 112TCN 111TCN

Nhà Triệu nếu trung lập thì là một triều đại chính thống của Việt Nam, còn nếu bỏ qua sự trung lập thì sẽ bị quy thành kẻ xâm lăng. Hiện trường hợp này vẫn còn đang tranh cãi, có sách tính từ khi Triệu Đà diệt nước Âu Lạc bắt đầu thời Bắc thuộc, có sách lại tính từ khi nhà Hán diệt nước Nam Việt mới tính là Bắc thuộc. Vì người Trung Quốc cũng không coi chính thể này là triều đại của họ, cho nên tạm thời vẫn liệt kê ở đây như một triều đại nối tiếp hợp pháp của Việt Nam.

Chống Bắc thuộc lần I, II và III[sửa | sửa mã nguồn] Trưng Nữ Vương (40-43)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungVuaThụy hiệu[18]Tôn hiệuNiên hiệu[18]Tên húyTrị vì[18]

HaiBaTrung.JPG Trưng Vương[19] không có Trinh Linh Chi Phu Nhân[20] không có Trưng Trắc[18] 40 43

Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ngắn ngủi chưa kịp ổn định đã bị diệt vong, tuy nhiên vì do phụ nữ lãnh đạo hơn nữa lại chống ngoại xâm nên cũng được sử sách đưa vào thành một triều đại của Việt Nam.

Nhà Tiền Lý và Triệu Việt Vương (544-603)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungVua[21]Miếu hiệu[21]Thụy hiệuNiên hiệuTên húy[21]Thế thứTrị vì

Emperor Ly Nam De.jpg Lý Nam Đế không có Nam Đế
Nam Việt đế[22]
Thiên Đức (544-548)[21] Lý Bí
Lý Bôn
nổi dậy tự lập, khai sáng triều đại 544[21] 548[21]
Cuathanphu2.jpg Triệu Việt Vương không có Nam Việt quốc vương
Dạ Trạch Vương[23]
không có[21] Triệu Quang Phục con Thái phó Triệu Túc, được Lý Nam Đế giao toàn bộ quyền hành 548 571[21]
Hậu Lý Nam Đế[24] không có Nam Đế[25] không có[21] Lý Phật Tử người trong họ Lý Nam Đế 571[26] 602[21]
Lý Sư Lợi[27] không có không có không có Lý Sư Lợi con Hậu Lý Nam Đế 602 603
Họ Mai (713 - 723)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungVuaMiếu hiệu[28]Thụy hiệuNiên hiệu[28]Tên húyThế thứTrị vì

Mai Hắc Đế[29] không có Đại Đế
Hắc Đế[30]
không có Mai Thúc Loan[29]
Mai Lập Thành[31]
Mai Thúc Yên[32]
nổi dậy tự lập[29] chưa rõ[33] 722[29]
Mai Thiếu Đế[34] không có không có không có Mai Thúc Huy
Mai Bảo Sơn
con trưởng Mai Hắc Đế 722 723
Bạch Đầu Đế[34] không có không có không có Mai Kỳ Sơn[35] con thứ Mai Hắc Đế, em song sinh với Mai Thiếu Đế 723 723

Chính quyền họ Mai cũng là cuộc khởi nghĩa chưa kịp ổn định, sử sách chỉ ghi chép vài dòng sơ sài nhưng vì tôn vinh vấn đề chống ngoại xâm nên cũng được liệt vào danh sách vua Việt Nam.

Họ Phùng (779-791)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungThủ lĩnh[29]Miếu hiệuThụy hiệuNiên hiệuTên húy[29]Thế thứ[29]Trị vì

TuongPhungHung.jpg Phùng Hưng[36] không có Bố Cái Đại Vương[37] không có Phùng Hưng
Phùng Cự Lão
con Phùng Hạp Khanh, thế tập Biên Khố Di Tù Trưởng chưa rõ[38] 791[29]
Phùng An[39] không có không có không có Phùng An con Phùng Hưng 791 791
Thời kỳ tự chủ[sửa | sửa mã nguồn] Họ Khúc (905-923) hoặc (905-930)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungTiết độ sứ[40]Tôn hiệu[40]Thụy hiệu[40]Niên hiệu[40]Tên húyThế thứTrị vì

Khúc Tiên Chủ[41] Tiên Chủ[42] không có không có Khúc Thừa Dụ[40] Mở màn nền tự chủ[40] 905 907[40]
Khúc Trung Chủ[41] Trung Chủ[42] không có không có Khúc Hạo
Khúc Thừa Hạo[43]
con Khúc Thừa Dụ[40] 907 917[40]
Khúc Hậu Chủ[41] Hậu Chủ[42] không có không có Khúc Thừa Mỹ[43] con Khúc Hạo[43] 917 923[43]
930[44]
Dương Đình Nghệ và Kiều Công Tiễn (931-938)[sửa | sửa mã nguồn]

Chân dungTiết độ sứ[43]Tôn hiệu[43]Thụy hiệu[40]Niên hiệu[40]Tên húyThế thứ[40]Trị vì[40]

Dương Chính Công[41] không có không có không có Dương Đình Nghệ[40]
Dương Diên Nghệ[45]
Khôi phục nền tự chủ, nha tướng của Khúc Hạo 931 937
Kiều Công Tiễn[41] không có không có không có Kiều Công Tiễn[43]
Kiểu Công Tiễn[40]
Kiểu Công Hạo[45]
con nuôi và nha tướng của Dương Đình Nghệ 937 938
Thời kỳ độc lập
Minh thuộc Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn phân tranh Pháp thuộc
Trước độc lập Nhà Ngô Nhà Đinh Nhà Tiền Lê Nhà Lý Nhà Trần Nhà Hồ Nhà Hậu Trần Nhà Hậu Lê Nhà Mạc Nhà Hậu Lê Nhà Tây Sơn Nhà Nguyễn Việt Nam hiện đại
Chúa Trịnh
Chúa Nguyễn
939 1009 1225 1400 1427 1527 1592 1788 1858 1945

Nhà Ngô và Dương Tam Kha (939-965)
939 965 1945

Chân dungVua[40]Tôn hiệuThụy hiệu[40]Niên hiệu[40]Tên húyThế thứ[40]Trị vì[40]

Tượng Ngô Quyền.jpg Tiền Ngô Vương Tiên Chủ không có không có Ngô Quyền[40] Sáng lập triều đại, con rể Dương Đình Nghệ 939 944
Dương Bình Vương[46] không có không có không có Dương Tam Kha[40]
Dương Chủ Tướng[47]
Dương Thiệu Hồng[48]
Con trai Dương Đình Nghệ 944 950
Thiên Sách Vương[49] không có không có không có Ngô Xương Ngập[40] Con trưởng Ngô Quyền 951 954
Nam Tấn Vương[49] không có không có không có Ngô Xương Văn[40] Con thứ Ngô Quyền 950 965
Nhà Đinh (968-980)
939 968 980 1945

Chân dungVua[50]Miếu hiệu[50]Thụy hiệuNiên hiệu[50]Tên húy[50]Thế thứ[50]Trị vì[50]

VuaDinhTienHoang.jpg Đinh Tiên Hoàng[51] không có Tiên hoàng đế[52] Thái Bình (970-979) Đinh Bộ Lĩnh
Đinh Hoàn[53]
Sáng lập triều đại 968 979
Dinhtoan.jpg Đinh Phế Đế[54] không có Phế Đế[55] Thái Bình[56] (979-980) Đinh Toàn
Đinh Tuệ
Con út Đinh Tiên Hoàng 979 980
Nhà Tiền Lê (980-1009)
939 980 1009 1945

Chân dungVua[50]Miếu hiệuThụy hiệu[50]Niên hiệu[50]Tên húyThế thứ[50]Trị vì[50]

Le Dai Hanh.jpg Lê Đại Hành[57] không có Đại Hành hoàng đế[58] Thiên Phúc (980-988)
Hưng Thống (989-993)
Ứng Thiên (994-1005)
Lê Hoàn Sáng lập triều đại, Phó vương nhiếp chính thời Đinh Phế Đế 980 1005
Lê Trung Tông Trung Tông không có Ứng Thiên[56] (1005-1005) Lê Long Việt Con thứ Lê Đại Hành 1005 1005
Lelongdinh.jpg Lê Ngọa Triều không có Ngọa Triều hoàng đế[59] Ứng Thiên[56] (1005-1007)
Cảnh Thụy (1008-1009)
Lê Long Đĩnh[50]
Lê Chí Trung[48]
Con thứ năm Lê Đại Hành, 1005 1009
Nhà Lý (1010-1226)
939 1010 1226 1945

Chân dungVuaMiếu hiệuThụy hiệuNiên hiệuTên húyThế thứTrị vì

Tượng Lý Thái Tổ.jpg Lý Thái Tổ[60] Thái Tổ[61] Thần Vũ Hoàng Đế[61] Thuận Thiên (1010-1028)[61] Lý Công Uẩn[61] Sáng lập triều đại. Nguyên là Điện tiền chỉ huy sứ và là phò mã trưởng Lê Đại Hành[61] 1009[61] 1028[61]
LýTháiTông.jpg Lý Thái Tông[62] Thái Tông[61] không rõ[63] Thiên Thành (1028-1033)[61]
Thông Thụy (1034-1038)[61]
Càn Phù Hữu Đạo (1039-1041)[61]
Minh Đạo (1042-1043)[61]
Thiên Cảm Thánh Vũ (1044-1048)[61]
Sùng Hưng Đại Bảo (1049-1054)[61]
Lý Phật Mã[61]
Lý Đức Chính[61]
Con trưởng Lý Thái Tổ[61] 1028 1054[61]
Lý Thánh Tông.JPG Lý Thánh Tông Thánh Tông không có[64][65] Long Thụy Thái Bình (1054-1058)[65] Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065)[65]
Long Chương Thiên Tự (1066-1068)[65]
Thiên Huống Bảo Tượng (1068 - 1069)[65]
Thần Vũ (1069-1072)[65]
Lý Nhật Tôn[65] Con trưởng Lý Thái Tông[65] 1054 1072[65]
Lý Nhân Tông.JPG Lý Nhân Tông[66] Nhân Tông không có[67] Thái Ninh (1072-1076)
Anh Vũ Chiêu Thắng (1076-1084)
Quảng Hựu (1085-1092)
Hội Phù (1092-1100)
Long Phù (1101-1109)
Hội Tường Đại Khánh (1110-1119)
Thiên Phù Duệ Vũ (1120-1126)
Thiên Phù Khánh Thọ (1127-1127)
Lý Càn Đức[65] Con trưởng Lý Thánh Tông[65] 1072 1127
Lý Thần Tông Thần Tông không có[68] Thiên Thuận (1128-1132)
Thiên Chương Bảo Tự (1133-1138)
Lý Dương Hoán[65] con Sùng Hiền Hầu, cháu nội Lý Thánh Tông[65] 1127 1138
Lý Anh Tông[69] Anh Tông không có[70][71] Thiệu Minh (1138-1139)
Đại Định (1140-1162)
Chính Long Bảo Ứng (1163-1173)
Thiên Cảm Chí Bảo (1174-1175)
Lý Thiên Tộ[71] Con thứ Lý Thần Tông[71] 1128 1175
Lý Cao Tông Cao Tông không có[71][72] Trinh Phù (1176-1185)
Thiên Tư Gia Thuỵ (1186-1201)
Thiên Gia Bảo Hựu (1202-1204)
Trị Bình Long Ứng (1205-1210)
Lý Long Cán[73]
Lý Long Trát[71]
Con thứ 6 Lý Anh Tông 1176 1204
Lý Thẩm[74][75] không có không có không có Lý Thẩm Con thứ Lý Cao Tông 1209 1209
Den do.jpg Lý Huệ Tông[76] Huệ Tông không có[71][77] Kiến Gia (1211–1224) Lý Sảm
Lý Hạo Sảm
Con trưởng Lý Cao Tông[78] 1211 1224
Lý Nguyên Vương[79][75] không có Nguyên Vương[80] Càn Ninh (1214–1216)[78] không rõ[78] Con thứ Lý Anh Tông[78] 1214 1216[78]
Lý Chiêu Hoàng[81] không có Chiêu Hoàng[82] Thiên Chương Hữu Đạo (1224–1226)[78] Lý Phật Kim
Lý Thiên Hinh[78]
Con gái Lý Huệ Tông, vợ Trần Thái Tông[78] 1224 1226[78]
Nhà Trần (1226-1400)
939 1226 1400 1945

Chân dungVuaMiếu hiệuThụy hiệuNiên hiệuTên húyThế thứTrị vì

Trần Thái Tông[83] Thái Tông[84] Thống Thiên Ngự Cực Long Công Mậu Đức Hiển Hòa Hựu Thuận Thần Văn Thánh Vũ Nguyên Hiếu Hoàng Đế[84] Kiến Trung (1226-1237)[84]
Thiên Ứng Chính Bình (1238-1350)[84]
Nguyên Phong (1251-1258)[84]
Trần Cảnh[84]
Trần Bồ[84]
Trần Nhật Cảnh[85]
Trần Quang Bỉnh[85]
Sáng lập triều đại, chồng và anh họ Lý Chiêu Hoàng[84] 1226 1258[84]
Trần Thánh Tông[86] Thánh Tông[84] Huyền Công Thịnh Đức Nhân Minh Văn Vũ Tuyên Hiếu Hoàng Đế[84] Thiệu Long (1258-1272)[84]
Bảo Phù (1273-1278)[84]
Trần Hoảng[84]
Trần Uy Hoảng[85]
Trần Quang Bính[85]
Trần Nhật Huyên[85]
Con thứ hai Trần Thái Tông[84] 1258 1279[84]
Trần Nhân Tông.jpg Trần Nhân Tông[87] Nhân Tông[88] Pháp Thiên Sùng Đạo Ứng Thế Hóa Dân Long Từ Hiển Hiệu Thánh Văn Thần Vũ Nguyên Minh Duệ Hiếu Hoàng Đế[88] Thiệu Bảo (1278-1285)[88]
Trùng Hưng (1285-1293)[88]
Trần Khâm[88]
Trần Nhật Tuấn[85]
Con trưởng Trần Thánh Tông[88] 1278 1293[88]
Trần Anh Tông TLĐSXSĐ.jpg Trần Anh Tông[89] Anh Tông[88] Hiển Văn Duệ Vũ Khâm Minh Nhân Hiếu Hoàng Đế[88] Hưng Long (1293-1314)[88] Trần Thuyên[88]
Trần Nhật 㷃[85]
Trần Nhật

Câu trả lời:

Trái đất nghiêng do va chạm lớn giữa không trung đã xảy ra trong quá trình hình thành của hệ mặt trời. Tất cả các hành tinh của hệ thống năng lượng mặt trời nghiêng ở góc độ khác nhau. Độ nghiêng của Trái đất ở một góc đo là 23.439281 độ đi từ đường vuông góc (the perpendicular line) so với mặt phẳng quỹ đạo của hành tinh. Nếu bạn có một mô hình của hành tinh Trái đất, bạn sẽ thấy nó được cố định trên một trục nghiêng. Do độ nghiêng trục quay của Trái Đất, lượng ánh sáng Mặt Trời chạm tới một điểm cho trước trên bề mặt thay đổi liên tục trong một năm. Kết quả là tạo ra hiện tượng bốn mùa.

------------------------ oOo -------------------------

Chi tiết thêm: Hiện tại các nhà khoa học thiên văn chưa có câu trả lời chính xác vì không có sự chứng minh. Tuy nhiên, thiên văn học đã đưa ra giả thuyết về hiện tượng lý do trục trái đất nghiêng: Khi trái đất hình thành không lâu, có những hành tinh nhỏ, thể tích không giống nhau, thường xuyên rơi xuống bề mặt Trái đất. Lúc này, Trái đất chưa được lớp khí quyển che chở, nên đã va chạm gây chấn động mạnh. Trong đó, ngay từ thời kỳ đầu, một hành tinh nhỏ có thể tích bằng khoảng 1% thể tích trái đất, đường kính khoảng 1000km, khối lượng ước tính khoảng 1 tỉ tỉ tấn, bay với vận tốc 11km/giây, đột nhiên va mạnh vào Trái đất. Đòn chí mạng này đã làm cho trục của Trái đất bị nghiêng đi. Nhiệt lượng khi va chạm sinh ra, đã khiến cho nhiệt độ bề mặt Trái đất tăng lên đến 10000C.

Công ty cổ phần BINGGROUP © 2014 - 2026

Liên hệ: Hà Đức Thọ - Hotline: 0986 557 525

Kết nối:

Tải ứng dụng Hoc24

Tải ứng dụng Hoc24 trên Google Play Tải ứng dụng Hoc24 trên App Store