Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 1
Số lượng câu trả lời 558
Điểm GP 94
Điểm SP 1979

Người theo dõi (73)

Nguyễn Duy Quang
Dinh Quang Vinh
Luuhuyentrang
Trang Trang
Nguyễn Gia	Bảo

Đang theo dõi (4)

Chu Diệu Linh
Lê Văn Hải
Luong Gia Khiem
Mai Hà Chi

Câu trả lời:

Mùa thu vốn là một đề tài quen thuộc trong thơ ca Việt Nam. Thu thường mang đến cho thi sĩ một nỗi buồn man mác, gợi nhớ hay nuối tiếc về một cái gì đó xa xôi, đầy bí ẩn. Dường như không ai vô tình mà không nói đến cảnh thu, tình thu khi đã là thi sĩ! Đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta sẽ thấy được điều đó. Cảnh mùa thu trong thơ ông không phải là mùa thu ở bất cứ miền nào, thời nào, mà là mùa thu ở quê ông, vùng đồng chiêm Bắc Bộ lúc bấy giờ. Chỉ với bầu trời “xanh ngắt” (Thu vịnh), với cái nước “trong veo” của ao cá (Thu điếu), và cái “lưng giậu phất phơ màu khói nhạt, làn ao lóng lánh bóng trăng loe” ( Thu ẩm). Nguyễn Khuyến đã làm say đắm lòng bao thế hệ! Khi nhận xét về bải thơ Thu điếu của Nguyễn Khuyến, Xuân Diệu có viết: “Bài thơ thu vịnh là có thần hơn hết, nhưng ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vậy ta thử tìm hiểu xem thế nào mà “Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”? Nếu như ở Thu vịnh, mùa thu được Nguyễn Khuyến đón nhận từ cái không gian thoáng đãng, mênh mông, bát ngát, với cặp mát hướng thượng, khám phá dần các tầng cao của mùa thu để thấy được: “ Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao”, thì ở Thu điếu, nhà thơ không tả mùa thu ở một khung cảnh thiên nhiên rộng rãi, không phải là trời thu, rừng thu hay hồ thu, mà lại chỉ gói gọn trong một ao thu: ao chuôm là đặc điểm của vùng đồng chiêm trũng, vùng quê của Nguyễn Khuyến: Ao thu lạnh lẽo nước trong veo / Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. Câu thơ đầu tồn tại hai vần “eo”, câu thơ thể hiện sự co lại, đọng lại không nhúc nhích, cho ta một cảm giác lạnh lẽo, yên tĩnh một cách lạ thường. Không có từ “lẽo” và từ “veo” cũng đủ cho ta thấy cảnh tĩnh, nhưng thêm hai từ này lại càng thấy cảnh tĩnh hơn nữa. Khung ao tuy hẹp nhưng tác giả lại không bị giới hạn mà mở rộng ra nhiều chiều, trong cái không khí se lạnh đó dường như làm cho làn nước ao ở độ giữa thu, cuối thu như trong trẻo hơn. Những tưởng trong “ao thu lạnh lẽo” ấy, mọi vật sẽ không xuất hiện, thế mà thật bất ngờ: Khung ao không trống vắng mà có “một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”. Có khung cảnh thiên nhiên và có dấu vết của cuộc sống con người, khiến cảnh thu thêm được phần nào ấm cúng. Chiếc thuyền “tẻo teo” trông thật xinh xắn. Câu thơ đọc lên, làm cho đối tượng miêu tả trở nên gần gũi và thân mật biết bao!Với hai câu mở đầu, nhà thơ sử dụng những từ ngữ gợi hình ảnh, tạo độ gợi cao: “lẽo”, “veo”, “tẻo teo” mang đến cho người đọc một nỗi buồn man mác, cảnh vắng vẻ, ít người qua lại. Và rồi hình ảnh: Sóng biếc theo làn hơi gợn tí / Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo… Càng làm cho không khí trở nên tĩnh lặng hơn, nhà thơ đã dùng vcái động của “lá vàng trước gió” để miêu tả cái tĩnh của cảnh thu làng quê Việt Nam. Những cơn gió mùa thu đã xuất hiện và mang theo cái lạnh trở về, khiến ao thu không còn “lạnh lẽo”, không còn tĩnh lặng nữa vì mặt hồ đã “gợn tí”, “lá vàng khẽ đưa vèo”, cảnh vật dường như đã bắt đầu thay đổi hẳn đi! Cơn “sóng biếc” nhỏ “hơi gợn tí” và chiếc lá “trước gió khẽ đưa vèo” tưởng như mâu thuẫn với nhau, nhưng thật ra ở đây Nguyễn Khuyến đã quan sát kĩ theo chiếc lá bay trong gió, chiếc lá rất nhẹ và thon thon hình thuyền, chao đảo liệng đi trong không gian, rơi xuống mặt hồ yên tĩnh. Quả là phải có một tâm hồn yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống thật sâu sắc thì Nguyễn Khuyến mới có thể cảm nhận được những âm thanh tinh tế, tưởng chừng như chẳng ai để ý đến như thế! Như trên đã nói: mở đầu bài thơ, tác giả sử dụng vần “eo” nhưng tác giả không bị giới hạn mà đã mở rộng không gian theo chiều cao, tạo nên sự khoáng đạt, rộng rãi cho cảnh vật: Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt / Ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Bầu trời thu xanh ngắt xưa nay vẫn là biểu tượng đẹp của mùa thu. Những áng mây không trôi nổi bay khắp bầu trời mà “lơ lửng”. Trước đây Nguyễn Du đã từng viết về mùa thu với: Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng. Nay Nguyễn Khuyến cũng thế. Mở ra không gian rộng, cảm hứng Nguyễn Khuyến lại trở về với khung cảnh làng quê quen thuộc cũng vẫn hình ảnh tre truc, vẫn bầu trời thu ngày nào, vẫn ngõ xóm quanh co…tất cả đều thân thương vè nhuốm màu sắc thôn quê Việt Nam. Chỉ đến với Nguyễn Khuyến, chúng ta mới thấy được những nét quê tĩnh lặng, êm ả như vậy. Trời sang thu, không khí giá lạnh, đường làng cũng vắng vẻ. “Ngõ trúc quanh co” cũng “vắng teo” không bóng người qua lại. Sau này Xuân Diệu trong bài Đây mùa thu tới cũng đã bắt đựơc những nét điển hình đó của sông nước ở vùng quê, khi trời đã bắt đầu bước vào những ngày giá lạnh:
Những luồng run rẩy rung rinh lá…/ … Đã nghe rét mướt luồn trong gió / Đã vắng người sang những chuyến đò. Cùng với: Cành biếc run run chân ý nhi (Thu)
Thế rồi trong cái không khí se lạnh đó của thôn quê, những tưởng sẽ không có bóng dáng của con người, ấy vậy mà thật bất ngờ đối với người đọc: Tựa gối buông cần, lâu chẳng được / Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Hai câu thơ kết thúc đã góp phần bộc lộ đôi nét về chân dung tác giả. Tôi nhớ không lầm dường như đã có tài liệu cho rằng: “tựa gối, ôm cần lâu chẳng được”, “ôm” chứ không phải là “buông”. Theo Việt Nam tự điển thì “buông” hay hơn, phù hợp với tính cách của nhà thơ hơn. Trong những ngày từ quan lui về ở ẩn, mùa thu câu cá, đó là thú vui của nhà thơ nơi làng quê để tiêu khiển trong công việc, để hoà mình vào thiên nhiên, mà quên đi những bận lòng với nước non, cho tâm hồn thanh thản. “Buông”: thả lỏng, đi câu không cốt để kiếm cái ăn (hiểu theo đúng nghĩa của nó), mà để giải trí, cho nên “ôm” không phù hợp với hoàn cảnh. Từ “buông” mang đến cho câu thơ hiệu quả nghệ thuật cao hơn.
Tóm lại, qua Thu điếu, ta phần nào thấy được tấm lòng của nhà thơ đối với thiên nhiên, đối với cuộc sống: chỉ có những ao nhỏ, những “ngõ trúc quanh co”, màu xanh của bầu trời, cũng đã làm say đắm lòng người. Thì ra mùa thu ở thôn quâ chẳng có gì là xa lạ, mùa thu ở thôn quê chính là cái hồn của cuộc sống, cái duyên của nông thôn. Câu cuối này là thú vị nhất, vừa gợi được cảm giác, vừa biểu hiện đựơc cuộc sống ngây thơ nhất với sự việc sử dụng những âm thanh rất trong trẻo có tính chất vang ngân của những cặp vần, đã chiếm được cảm tình của độc giả, đã đọc qua một lần thì khó mà quên đựơc.

​Chúc bn học tốt hehe

Câu trả lời:

Bài làm :

Cách đây đã lâu, vào thời vua Hùng Vương thứ XVII, vua có một người con gái tên là Mị Nương nổi tiếng là xinh đẹp nết na.

Khi nàng đến tuổi lấy chồng Hùng Vương đã truyền tin kén rể. Tin loan truyền đi khắp nơi một cách nhanh chóng.

Tất cả các chàng trai tới đều đến để xin cầu hôn với Mị Nương. Nhưng vua chẳng vừa ý ai cả. Ta liền chọn một ngày đẹp trời xin cầu hôn. Hôm đó, ta tưởng như chỉ có mình ta nhưng lại có một người nữa đã đến trước ta, người này tên là Thuỷ Tinh. Tài của hắn là: gọi gió, gió đến, hô mưa, mưa về. Nhưng tài của ta cũng không kém. Ta vẫy tay về phía đông thì mọc lên cồn cát, vẫy tay về phía tây thì mọc lên những dãy núi đồi. Vua Hùng băn khoăn không biết chọn ai bèn mời các Lạc hầu vào bàn bạc và phán:

- Cả hai người đều ngang sức, ngang tài và đều vừa ý ta, nhưng ta chi có một đứa con gái mà thôi. Cho nên ngày mai, hễ ai đem sính lễ đến trước thì ta gả con gái cho.

Sính lễ gồm: Một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi.

Sáng hôm sau, khi trời vừa tờ mờ sáng ta đã đến trước và đem đầy đủ lễ vật. Sau đó ta được rước Mị Nương về núi. Thuỷ Tinh đến sau không lấy được vợ hắn tức giận sai quân đuổi theo đánh ta hòng cướp lấy Mị Nương. Trận đấu giữa ta và hắn rất quyết liệt. Hắn hô mưa, gọi gió, lẩm thành giông bão rung chuyển đất trời, nước dâng cao mãi tràn ngập cả nhà cửa, ruộng nương. Nước lên đến lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu lúc bấy giờ nổi lềnh trên một biển nước.

Sau đó ta mới dùng phép bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi để ngăn chặn dòng nước. Thuỷ Tinh dâng nước cao bao nhiêu thì ta lại biến phép cho đồi núi cao bấy nhiêu. Cuộc đọ sức giữa ta và hắn kéo dài mấy tháng liền. Sau đó Thuỷ Tinh thua cuộc đành rút quân về. Từ đó trở đi cứ hằng năm hắn lại làm mưa gió, bão lụt để đánh ta. Lần nào cũng thua cuộc nhưng có lẽ mối thù xưa mà hắn không thể nào quên được nên hàng năm hắn vẫn thường làm giông bão, dâng nước làm các dòng sông lũ lớn để báo thù ta.

​ Chúc bn học tốt banh


Câu trả lời:

Ta là Thuỷ Tinh,một người đã năm lần bảy lượt đánh nhau với Sơn Tinh để cướp Mỵ Nương,nhưng chẳng hiểu vì sao mỗi lần ta đánh nhau với Sơn Tinh ta đều thua.Nguyên nhân là do hôm đó,ta nghe bọn thuỷ binh và các loài vật dưới biển nói rằng:”Vua Hùng thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tuyệt trần,tính nết hiền hậu,dịu dàng và muốn kén cho con một người chồng xứng đáng để làm rể.”:M02: Nghe vậy,không đợi chờ gì nữa,ta liền đến xin cầu hôn nàng. Nhưng không biết ý trời thế nào,ta và một người nữa đến thành Phong Châu để xin cầu hôn nàng. Anh ta mặc bộ áo giáp,bước đi mạnh mẽ,hùng dũng và cũng có sức mạnh chẳng thua kém gì ta:vẫy tay về phía Đông,phía Đông nổi cồn bãi,vẫy tay về phía Tây,phía Tây mọc lên từng dãy núi đồi,mọi người đều gọi anh ta là Sơn Tinh. Sau đó,ta cũng trổ tài:ta vung tay,miệng cất tiếng oang oang,rồi một luồn gió mạnh nổi lên,mây đen đua nhau kéo đến,mưa trút xuống ào ào .Vua Hùng băn khoăn không biết chọn ai và từ chối ai,bèn cho mời các lạc hầu đến bàn bạc. Xong,vua phán:_Hai ngươi đều vừa ý ta,nhưng ta chỉ có một người con gái,biết gả cho người nào. Thôi thì…ngày mai,ai đem sính lễ đến trước thì sẽ được vợ.Chúng ta tâu hỏi đồ sính lễ,vua nghĩ ngợi một lúc rồi nói:_Một trăm ván cơm nếp,một trăm nệp bánh chưng,voi chín ngà,gà chín cựa,ngựa chín hồng mao,mỗi thứ phải đủ một đôi.Nghe vua phán như vậy ta cũng hơi lo vì những thứ vua ra đều là những sản vật ở rừng,Sơn Tinh dễ dàng kiếm được,nhìn mặt thằng Sơn Tinh cười hí hí trong miệng là thấy ghét.Còn ta lại ở dưới nước thì làm sao đây ,lấy đâu ra những thứ ấy. Nếu vua yêu cầu cá,tôm hay rồng cũng được,như thế thì quá dễ.Phen này khó mà lấy được vợ.Sáng hôm sau,từ lúc mặt trời còn ngáy ngủ,Sơn tinh đã đem lễ vật đến. Ta đến sau,không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đánh ghen với Sơn Tinh. Vừa đuổi theo,ta vừa hét:”Sơn Tinh trả Mỵ Nương lại cho ta,trả vợ yêu cho ta.”Trận đánh giữa ta và Sơn Tinh diễn ra rất ác liệt.Ta hô mưa,gọi gió,làm thành giông bão rung chuyển cả đất trời,dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nước ngập ruộng đồng,tràn vào nhà cửa,dâng lên lưng đồi,sườn núi,tưởng như cả thành Phong Châu đang nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Ta biết ,nàng Mỵ Nương đang lo lắng cho cha và các thần dân,nhưng ta không thể nào làm khác được,lí do là một điều vô cùng đơn giản vì ta muốn chiếm lại nàng. Nghĩ rằng có thể chiếm được Mỵ Nương nên tôi rất đắc chí và đánh đến cùng.Nhưng thằng Sơn Tinh chẳng hề nao núng vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra. Ta dâng nước cao lên bao nhiêu,nó lại làm núi đồi cao bấy nhiêu. Đánh ròng rã mấy tháng trời,ta vẫn không thắng thằng Sơn Tinh đáng ghét,cuối cùng sức ta đã kiệt đành phải rút quân về.Từ đó oán nặng thù sâu,năm nào ta cũng làm mưa đẻ đánh Sơn Tinh nhưng lần nào cũng vậy,ta đánh đến mỏi mệt,chán chê nhưng vẫn không thắng nó để cướp Mỵ Nương và rút quân về. Ta phải lủi thủi ra về tay không khi trong lòng đầy oán hận. Từ đó,nhân dân đã chế nhạo ta vì đã làm hại dân lành

​Chúc bn học tốt hihi