Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bình Định , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 18
Số lượng câu trả lời 1208
Điểm GP 552
Điểm SP 1826

Người theo dõi (377)

Minz Ank
phamvanhung
Vy Vy
Saimin kusuri
Lê Thu Hằng

Đang theo dõi (32)

Quang Duy
Nguyễn Anh Thư
Kagamine Len

Câu trả lời:

Trong đầm gì đẹp bằng sen?

Lá xanh,bông trắng,lại xen nhị vàng

Nhị vàng,bông trắng , lá xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Không hiểu bài ca dao xuất hiện từ bao giờ nhưng có nhiều ý kiến cho rằng đây là bài ca dao mà nghệ thuật tuyệt vời và ý nghĩa triết lí nhân sinh sâụ sắc gắn liền với nhau, tạo nên giá trị muôn đời.

Hình ảnh cây sen được miêu tả vừa cụ thể, chân thật vừa mang tính tượng trưng và khái quát rất cao. Ca ngợi vẻ đẹp của hoa sen, tác giả dân gian nhằm phản ánh niềm tự hào của con người Việt Nam là luôn giữ được tâm hồn trong sáng, phẩm chất thanh cao, dù hoàn cảnh sống có nghiệt ngã đến mức nào.

Ở câu mở đầu:

Trong đầm gì đẹp bằng sen.

Tác giả đã khẳng định hoa sen đẹp nhất so với tất cả các loài hoa nở trong đầm bằng một câu hỏi tu từ khéo léo, lôi cuốn người nghe, đặt họ vào vị trí và tâm thế thưởng thức cùng với mình. Để rồi sau khi so sánh, cân nhắc họ sẽ rút ra kết luận không thể khác.

Câu thứ hai:

Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng.

Để chứng minh cho lời khẳng định ở trên là có cơ sở, tác giả tuần tự miêu tả vẻ đẹp của cây sen, từ lá xanh qua bồng trắng đến nhị vàng. Trên nền xanh của lá, nổi bật màu trắng tinh khiết của hoa; giữa màu trắng của hoa lại chen chút sắc vàng của nhị. Từ lại được dùng rất tài tình, có tác dụng nhấn mạnh sự đa dạng màu sắc của hoa sen, từ chen nói lên sự kết hợp hài hoà giữa hoa và nhị, tất cả như cùng đua đẹp, đua tươi. Cảnh đầm sen giống như một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp hiện lên dưới ngòi bút chấm phá thần tinh.

Câu thứ ba.

Nhị vàng bông trắng lá xanh,

Câu này có vị trí đặc biệt trong toàn bài vì nó là câu chuyển (chuyển vần, chuyển nhịp, chuyển ý) để chuẩn bị cho câu kết.

Từ câu thứ hai sang câu thứ ba có sự đột ngột, khác thường trong cách gieo vần {ang, anh) nhưng nhiều người không để ý. Sở dĩ như vậy là do sự chuyển vần và sự thay đổi trật tự các từ ngữ và hình ảnh đã được thực hiện một cách khéo léo, tự nhiên, hợp lí vể cả nội dung và hình thức.

Hai chữ nhị vàng ở cuối câu thứ hai được lặp lại ở đầu câu thứ ba tạo nồng tính liên tục trong tư duy, cảm xúc và sự liên kết chặt chẽ giữa nội dung với hình thức trong toàn bài.

Câu đầu và câu cuối là nhận định, đánh giá về vẻ đẹp và phẩm chất cao quý của cây sen. Hai câu giữa tả thực đến từng chỉ tiết: lá xanh, bông trắng, nhị vàng (tả đi); rồi tả lại: Nhị vàng, bông trắng, lá xanh. Tả từ dưới lên trên, từ trên xuống dưới. Dường như người tả đang cố chứng minh bằng được vẻ đẹp của sen: đẹp từ sắc lá đến màu hoa, màu nhị. Sau đó lại nhấn mạnh thêm bằng cách đảo ngược: đẹp từ màu nhị đến màu hoa, sắc lá. Nghệ thuật miêu tả ở đây mới đọc qua tưởng chừng đơn giản, song thực sự đã đạt tới trình độ điêu luyện, tinh vi. Nghệ thuật ấy đã tôn vinh hoa sen lên hàng hoa quý, xứng đáng tượng trưng cho vẻ đẹp của con người chân chính.

Đọc mấy câu ca dao trên, chúng ta liên tưởng tới hình dáng thanh tao, kiêu hãnh của hoa sen và trong tâm tưởng cũng bừng nở một đóa sen tuyệt đẹp!
Câu thứ tư:

Gần bùn mà chẳng hồi tanh mùi bùn.

Dù mang tính chất ẩn dụ tượng trưng nhưng trước hết vẫn là tả thực về môi trường sống của cây sen. Sen thường sống ở trong ao, trong đầm lầy, nơi có nhiều bùn. Ấy vậy má hoa sen lại rất thơm, một mùi thơm thanh khiết lạ lùng! Có thể coi đây là cái nút của toàn bài ca dao. Thiếu câu ca dao này, hình tượng của hoa sen vẫn tồn tại nhưng không có linh hồn và ý nghĩa.

Nếu câu ca dao mở đầu là luận để mang ý nghĩa khái quát về hình tượng của hoa sen thì đến câu kết của bài thơ, hình tượng bông sen trong tự nhiên đã chuyển sang hình tượng bông sen trong cuộc đời một cách uyển chuyển, nhẹ nhàng, không có một sự gượng ép nào, do đó mà nghĩa bóng của hoa sen cũng mở rộng không giới hạn.

Chính vì vậy mà tính chất tượng trưng, ẩn dụ của hình tượng thơ nổi lên, lấn át hình ảnh thực. Nó tựa hồ như một cánh cửa kì diệu, khép nghĩa đen lại và mở nghĩa bóng ra một cách thần tình.

Và thế là trong phút chốc, sen hóa thành người, bùn trong đầm (nghĩa đen) biến thành bùn trong cuộc đời (nghĩa bóng). Rồi cả hình ảnh cái đầm cùng mùi hôi tanh của bùn cũng được coi là ẩn dụ tượng trưng vì nó được hiểu theo, nghĩa bóng với những mức độ rộng hẹp, xa gần khác nhau, tuỳ theo trình độ mỗi người.

Câu trả lời:

Bài thơ số 3 trong "Nhật kí trong tù" với nhan đề "Bị bắt ở phố Túc Vinh", Bác Hồ viết:

"Túc Vinh mà để ta mang nhục,

Cố ý làm cho chậm bước mình;

Bịa đặt vu ta là gián điệp,

Không dưng danh dự phải hi sinh".

(Nam Trân dịch)

Trên đường sang Trung Quốc công tác, Bác Hồ đã bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ. Phố Túc Vinh trên tỉnh Quảng Tây là khởi điểm hành trình đày đọa, khổ nhục trong suốt "Mười bốn trăng tê tái gông cùm" mà Bác phải nếm trải từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943. Tập "Nhật kí trong tù" gồm có 133 bài thơ chữ Hán được Người viết ra trong những tháng ngày đen tối ấy để "Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do". Nó đã phản ánh một tăm hồn lớn, một dũng khí lớn, một trí tuệ lớn của người chiến sĩ vĩ đại về phương diện thể hiện tâm hồn phong phú, cao đẹp, "có thể xem "Nhật kí trong tù" như một bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại (Văn 12).

"Nhật kí trong tù" chủ yếu mang tính hướng nội trữ tình, thể hiện một cách chân thực cảm động bức chân dung tinh thần tự họa của Bác trong chốn ngục tù. Đó là hình ảnh một con người có trái tim mênh mông "yêu nước, yêu người, yêu cỏ hoa". Là một bậc đại dũng kiên cường, bất khuất, ung dung, tự tại, lạc quan và yêu đời trong cảnh tù đày: "Kiên trì và nhẫn nại - Không chịu lùi một phân - Vật chất tuy đau khổ - Không nao núng tinh thần" (Bốn tháng rồi). Là một bậc đại trí hiểu sâu, hiểu rộng nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề, sắc sảo, tinh tế và mẫn cảm... Những phẩm chất cao đẹp ấy đều bắt nguồn từ bản chất của một tâm hồn yêu nước lớn, một tấm lòng nhân đạo lớn, một cốt cách nghệ sĩ lớn.

Bài thơ "Chiều tối" và "Cảnh chiều hôm" chỉ thể hiện một vài nét rất đẹp "bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại.

"Chiều tối" là bài thơ số 31 trong "Nhật kí trong tù” ghi lại cảm xúc của Bác vào lúc ngày tàn nơi xóm núi xa lạ, khi Người bị giải từ nhà tù Thiên Bảo đến nhà ngục Long Tuyền vào tháng 10 năm 1942. Mặc dù chân tay bị trói nhưng Người vẫn ngắm cảnh, dõi theo một áng mây lẻ loi lơ lửng trên bầu trời, một cánh chim mỏi mệt bay về rừng tìm cây trú ẩn:

"Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không".

Cánh chim thì mệt mỏi (quyện điểu), áng mây thì lẻ loi, cô đơn (cô vân): ngoại cảnh như đồng điệu với tâm cảnh của người tù sau một ngày dài bị giải đi. Cách nhìn, cách cảm và cách tả thể hiện một tâm hồn tinh tế giàu tình yêu thiên nhiên tạo vật. Cảnh vật thiên nhiên thoáng buồn nhưng rất đẹp, trở thành nơi nương tựa tâm hồn nhà thơ trên chặng đường khổ ải. Không có một đời sống tinh thần phong phú không thể viết được vần thơ mang màu sắc cổ điển như thế!

Từ bức tranh thiên nhiên chiều tối, nhà thơ nói đến cảnh đời thường dân dã nơi xóm núi. Hai câu cuối thể hiện sự vận động của thời gian và không gian:

"Cô em xóm núi xay ngô tối,

Xay hết lò than đã rực hồng".

Thiếu nữ xay ngô, một hình ảnh trẻ trung, cần mẫn. Chữ "ma" nghĩa là xa trông? câu thơ chữ Hán đưực điệp lại 2 lần "ma bao túc... bao túc ma hoàn... " đã làm nổi bật đức tính siêng năng cần mẫn của cô thiếu nữ xóm núi. Không phải là bếp lạnh tro tàn mà là “ bếp than đã rực hồng" gợi lên một cảnh đời ấm áp, đoàn tụ, no ấm và yên vui. Người chiến sĩ đi đày đã hướng tới con người lao động và ánh lửa hồng lò than, tìm thấy ít nhiều niềm tin yêu, xua đi sự cô đơn lẻ loi và mệt mỏi trên bước đường khổ ải. Chữ "hồng" nằm ở vị trí cuối bài tứ tuyệt, làm sáng bừng bài thơ "Chiều tối", là một nhãn tự mang ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc. Nhà thơ từ bóng tối đang hướng về ánh sáng và cuộc sống mà đi tới với sức mạnh của niềm tin và hi vọng. Chữ "hồng" tỏa sáng vần thơ và tâm hồn thi nhân biểu lộ một tinh thần lạc quan trong đày đọa. Nó là "màu đỏ" của tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh; nó cho thấy "Ngục tối trái tim càng cháy lửa" (Hoàng Trung Thông).

Từ cánh chim, áng mây trên bầu trời đến hình ảnh thiếu nữ xay ngô và "lò than đã rực hồnỊg”, ta cảm nhận được sự vận động trong tâm hồn, tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh. Đó là sự vận động từ bóng tối đến ánh sáng, từ buồn đến vui, từ lẻ loi cô đơn hướng về sự sống chứa chan niềm tin và hi vọng. Bài thơ "Chiều tối" gợi tả một nét vẽ đẹp, một gam màu sáng, bức chân dung tự họa của người tù vĩ đại.

Đọc bài thơ "Cảnh chiều hôm" ta cảm nhận thêm một nét đẹp nữa trong "bức chân dung tự họa" cùng tinh thần của Bác. Đây là bài thơ số 114 trong "Nhật kí trong tù" được Người viết vào mùa xuân 1943 tại nhà ngục Cục chính trị chiến khu IV thuộc Liễu Châu, Trung Quốc, cảm hứng thiên nhiên trữ tình và cảm hứng tự do dào dạt bài thơ.

Hai câu thơ đầu cho thấy một con người giàu tình yêu thiên nhiên, nâng niu quý mến cái đẹp, cảm thương cho một kiếp hoa nở và tàn trước sự vô tình trong cõi đời:

"Hoa hồng nở, hoa hồng lại rụng,

Hoa tàn hoa nở cũng vô tình".

Hoa hồng tượng trưng cho cái đẹp. Hoa "sớm nở tối tàn", một kiếp hoa ngắn ngủi đáng thương! Cái đẹp sớm bị tàn tạ, hủy diệt. Đang sống trong cảnh cay đắng, tủi nhục tù đày, nhà thơ hướng tới cái đẹp bị tàn tạ với bao day dứt cảm thương. Nhà thơ với trái tim nhân đạo và tâm hồn nhân văn, vô cùng áy náy, không thể lạnh lùng dửng dưng. Tạo hóa và ai đó có thể vô tình, nhưng nhà thơ Hồ Chí Minh cảm thấy không thể vô tình với hoa, với cái đẹp đang tàn tạ. Tình thương của Người thật mênh mông.

Một tứ thơ mới xuất hiện. Hoa hồng tàn và rụng rồi, nhưng "linh hồn" hoa thì bất diệt, hương thơm của hoa vẫn tồn tại giữa đất trời. Cái đẹp được nâng niu. Cái đẹp được tái sinh và vĩnh hằng. Hương hoa đã tìm được khách thưởng thức, tri âm. "Một lòng đau tìm đến một lòng đau" (Lưu Trọng Lư), để cảm thông, để san sẻ và chia sẻ:

"Hương hoa bay thấu vào trong ngục,

Kể với tù nhân nỗi bất bình".

Hương hoa được nhân hóa cùng với nhà thơ bất bình cho cái đẹp bị hủy diệt trước sự vô tình của tạo hóa, bất bình vì cái ác đang chà đạp, đang tước đoạt mất tự do. Sáns tạo ra hình tượng hương hoa, nhà thơ đã bày tỏ một cách chân thành, một tấm lòng nhân hậu bao dung chan hòa với tạo vật, yêu thương nâng niu cái đẹp, thiết tha tự do. Một tấm lòng nhân đạo, một cốt cách thi sĩ, nghệ sĩ là những nét vẽ có thần hiện lên "bức chân dung tự họa" người chiến sĩ vĩ đại Hồ Chí Minh qua bài thơ "Cảnh chiều hôm". Có hương hoa đẹp trong thơ vì có tâm hồn nhân văn đẹp, thanh cao trong cuộc sống. Sen tỏa hương ngào ngạt trong tâm hồn Người.

"Nhật kí trong tù" sáng mãi trong lòng ta "trăm bài trăm ý đẹp". Cho rằng tập thơ nhật kí bằng thơ của Bác là "bức chân dung tự họa" của người tù vĩ đại là một nhận xét đúng đắn, sâu sắc. Một tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp, một tấm lòng thiết tha với tự do, gắn bó cuộc sống bằng niềm tin và yêu đời - đó là những biểu hiện cao đẹp của nhân cách Hồ Chí Minh mà chúng ta cảm nhận được qua hai bài thơ "Chiều tối" và "Cảnh chiều hôm". Phẩm chất thi sĩ lồng trong phẩm chất chiến sĩ đã được thể hiện tinh tế thần tình, được chiếu sáng trên "bức chân dung tự họa" tinh thần Hồ Chí Minh.

Câu trả lời:

hai câu đầu : -nghệ thuật so sánh:

con là lửa ấm quanh đời mẹ mãi\(\rightarrow\)con là nguồn sống ấm nóng xua đi những giá lạnh, tối tăm của cuộc đời mẹ, luôn gần gũi, chở che bên mẹ. Con là niềm tin, hi vọng của cuộc đời mẹ.

- Điệp ngữ: con là : nhấn mạnh ý nghĩa lớn lao của con đối với cuộc đời mẹ.

hai câu thơ sau:

câu 3: "Mẹ nâng niu " tiếp nói ý thơ của hai câu trên thể hiện tình yêu, sự quý trọng, giữ gìn, chăm chút của mẹ dành cho con. Con là vật báu thiêng liêng của cuộc đời mẹ.

Dấu chấm (.) ngắt câu thơ thành hai câu. Nó như bản lề khép mở hai thế giới : một thế giớ đầy tình yêu thương của con và mẹ, một thế giới bình yên hạnh phúc. Gio đây thế giới ấy đang bị xáo trộn bởi" giặc Mĩ đến nhà". Dấu chấm ấy còn là một phút lặng ngừng đau đớn trước cảnh quê hương đang bị tàn phá của mẹ.

câu 4: Hình ảnh ẩn dụ:

-Nắng đã chiều: mẹ đã già, mong manh, yếu ớt.

-Hắt tia xa: vẫn muốn đóng góp công sức của mình trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

\(\rightarrow\)Thể hiện ước vọng, hi sinh lớn lao của mẹ.Vì đất nước, mẹ đã dâng hiến cả cuộc sống, niềm tin, hi vọng, vật báu thiêng liêng nhất của cuộc đời là con trai của mình cho đất nước.

Hai câu thơ đầu làm nền cho hai câu thơ dưới : mẹ hết mực thương con nhưng đồng thời cũng rất giàu lòng yêu nước. Mẹ đã đặt tình yêu đất nước trên tình cảm cá nhân của mình. Đó là những phẩm chất truyền thống của người mẹ Việt Nam anh hùng.