Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ An Giang , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 3
Số lượng câu trả lời 612
Điểm GP 194
Điểm SP 1453

Người theo dõi (343)

hung
duy tân nguyễn
Mây Xinh

Đang theo dõi (24)


Câu trả lời:

Thấy dừa thì nhớ Bến Tre
Thấy bông sen nhớ đồng quê Tháp Mười

Bao giờ hết cỏ Tháp Mười
Nước Nam mới hết những người đánh Tây!

Bước cẳng xuống tàu, tàu khua rổn rổn
Tàu Nhựt Bổn lấy nước Châu Thành
Anh với em phải nói cho rành
Để anh lên xuống nhọc nhằn thân anh.

Ai sang về miệt Tháp Mười
Cá tôm sẵn bắt, lúa trời sẵn ăn

Cần Thơ là tỉnh Cao Lãnh là quê
Anh đi lục tỉnh bốn bề,
Mải lo buôn bán không về thăm em

Đèn nào cao bằng đèn Thủ Ngữ
Gió nào dữ bằng gió Ðồng Nai
Trai nào khôn bằng trai Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Ba Tri

Gà nào hay bằng gà Cao Lãnh
Gái nào bảnh bằng gái Tân Châu
Anh thương em chẳng ngại sang giàu
Mứt hồng đôi lượng, trà Tàu đôi cân

Đồng Tháp Mười cò bay thẳng cánh
Nước Tháp Mười lóng lánh cá tôm
Muốn ăn bông súng mắm kho
Thì vô Đồng Tháp ăn no đã thèm

Chiếc tàu xanh đề chữ đỏ
Chiếc tàu nhỏ đề chữ Châu Thành
Gặp mặt anh đây mần lẻ không đành
Sợi chỉ tơ thắt ruột, sợi chỉ mành thắt gan.

Đất Châu Thành anh ở
Xứ Cần Thơ nọ em về
Bấy lâu sông cận biển kề
Phân tay mai trúc dầm dề hột châu

Hò ơ Dõi dõi theo anh
Về nơi Châu thành
Coi nam thanh nữ tú
Ở chi đất này... (ờ)
Hò ơ... ở chi đất này vượn hú chim kêu

Đèn nào sáng bằng đèn Sa Đéc
Gái nào đẹp bằng gái Nha Mân
Anh thả ghe câu lên xuống mấy lần
Thương em đứt ruột, nhưng tới gần lại run

chúc bạn học tốt

Câu trả lời:

1.

Ầu ơ Gió đưa bụi chuối sau hè
Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ
Con thơ tay ẵm tay bồng
Tay dắt mẹ chồng đầu đội thúng bông.

2. Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa
Con ngựa chết chương
Ba vương thượng hạ
Ba cạ đi tìm
Ú tim oà ập.
3.

Chim khuyên ăn trái nhãn lồng
Lia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi

4.

Giãi sông Ngân mây rầu rầu chuyển
Một bước đường trời biển chia hai
Hỡi nàng nàng ơi!
Anh dặn một lời xưa nhớ đừng quên.

5.

Ðầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc
Ai nấy vui mưng thiếp bặt mắt trông
Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở
Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông,

6.

Ai đem con sáo sang sông
Ðể cho con sáo sổ lồng bay xa.

7.

Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Hình tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Ðúng là bắp nấu
Hình thù xâu xấu
Trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê
Là trái mắt mèo

8.

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

9.

Thả đỉa ba ba

Chớ bắt đàn bà

Phải tội đàn ông

Cơm trắng như bông

Gạo thuyền như nước

Đổ mắm đổ muối

Đổ tưới hạt tiêu

Đổ niêu phân gà

Đổ phải nhà nào

Nhà ấy phải...Chịu.

10.

Hò ớ ơ.... Xứ nào vui cho bằng xứ Cù Lao, ớ ơ... Hò ớ ơ.....

Tiếng muỗi kêu như ống sáo thổi

Bông mọc như hàng rào sương lý, ớ ơ...

Hoặc xuyên qua câu hò, chúng ta có thể biết người hò thuộc địa phương nào như:

Hò, ớ ơ... Ghe anh nhỏ mũi trắng lườn

Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em, ớ ơ...

11.

Thì thuồm! Thì thuồm !

Tát nước ao chuôm

Bóng trăng soi xuống,

Trăng suông soi vào !

Thì thào ! Thì thào !

Nước chảy ào ào !

Cầu trời cho trận mưa rào tháng năm !

12.

Đầu tháng giêng mãn thiên xuân sắc

Ai nấy vui mưng thiếp bặt mắt trông

Qua tháng hai bông hoa nhài ướm nở

Thiếp luống trông chàng vừa trở gió đông

13.

Anh ở bên Nam

Sang bán hàng thuốc Bắc,

Chữa con gái Đông phòng cảm bệnh miền Tây

Ông Tơ Hồng , bà Nguyệt Lão như anh sang đây kết nguyền.

14.

Tiếng ai nói với bên non

Muốn sang coi thử có dòn hay không?

Có hỏi thì có trả lời:

Một ngày hai bận trèo non

Lấy gì mà đẹp mà dòn hỡi anh !

15.

Vừa ra vừa gặp anh đây

Một là duyên kỳ ngộ, hai trời xây đất vần.

Đến khi phải từ giã nhau, hát những lời bịn rịn thương nhớ.

Vì cam nên quít đèo bồng

Vì anh cần mẫn nên lòng em mơ.

16.

Trăng khuya soi bóng anh đi

Thấy chân anh bước rọt (ruột) em thì quặn đau.

17.

Bảo này Hỡi người đi đường cái quan

Dừng chân đứng lại em than vài lời

Đi đâu vội mấy anh ơi,

Công việc đã có chị tôi ở nhà.

Anh Cả anh Hai đó ơi !

18.

Nghe vẻ nghe ve

Nghe vè trái cây

Dây ở trên mây

Là trái đậu rồng

Có vợ có chồng

Là trái đu đủ

Chặt ra nhiều mủ

Lá trái mít ướt

Hình tựa gà xước

Vốn thiệt trái thơm

Cái đầu chơm bơm

Đúng là bắp nâú

Hình thù xâu xấu

Trái cà dái dê

Ngứa mà gãi mê

Là trái mắt mèo

Mình chỉ tìm được có nhiêu thôi, mình không biết mấy câu này mình tìm có đúng không nữa, bạn tham khảo nhé ^^

Câu trả lời:

Soạn bài: Sự giàu đẹp của tiếng việt - Đặng Thai Mai

Đọc hiểu văn bản

Câu 1: Đây chỉ là một đoạn trích nên bố cục không hoàn chỉnh. Có thể chia thành các phần như sau:

- Phần mở đầu (đoạn 1, 2): Nêu luận điểm khái quát.

- Phần khai triển (còn lại): Vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt. Phần này gồm hai ý:

Từ "Tiếng Việt, trong cấu tạo của nó" đến "rất ngon lành trong những câu tục ngữ": Tiếng Việt trong con mắt người nước ngoài;

Từ "Tiếng Việt chúng ta gồm có" đến hết: Những yếu tố tạo nên vẻ đẹp và sức sống của tiếng Việt.

Câu 2: Trình tự lập luận và chi tiết để giải thích"Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay"

Ở đoạn 1, câu mở đầu khẳng định giá trị và địa vị của tiếng Việt, từ đó đưa ra luận điểm cơ bản bao trùm: Tiếng Việt có những đặc sắc của một thứ tiếng đẹp, một thứ tiếng hay.

Tiếp theo, tác giả giải thích ngắn gọn, rõ ràng về đặc tính đẹp và hay của tiếng Việt.

Câu 3: Những chứng cứ để chứng minh cho vẻ đẹp của tiếng Việt với cách lập luận chặt chẽ theo trình tự lập luận như sau:

Tiếng Việt là một thứ tiếng đẹp, đẹp trước hết ở mặt ngữ âm.

Nêu ý kiến của người nước ngoài, một giáo sĩ thạo tiếng Việt, để khẳng định lí lẽ.

Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm và phụ âm phong phú, giàu thanh điệu.

Câu 4: Sự giàu có và khả năng phong phú của tiếng Việt được thể hiện ở những phương diện:

Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm phụ âm phong phú, giàu thanh điệu (6 thanh).

Uyển chuyển, cân đối, nhịp nhàng về mặt cú pháp.

Câu 5: Điểm nổi bật trong nghệ thuật nghị luận ở bài văn:

Kết hợp giải thích với chứng minh, bình luận.

Lập luận chặt chẽ: nêu nhận định ngay ở phần Mở bài, tiếp theo là giải thích và mở rộng nhận định ấy, sau đó dùng các chứng cứ để chứng minh.

Các dẫn chứng khá toàn diện, bao quát, không sa vào trường hợp quá cụ thể, tỉ mỉ.

Về cấu trúc câu, tác giả thường sử dụng biện pháp mở rộng câu, vừa nhằm làm rõ nghĩa, vừa để bổ sung các khía cạnh mới hoặc mở rộng thêm ý.

Từ vựng dồi dào giá trị thơ, nhạc, hoạ.

Có khả năng dồi dào về cấu tạo từ ngữ và hình thức diễn đạt.

Có sự phát triển qua các thời kì lịch sử về cả hai mặt từ vựng và ngữ pháp. Có khả năng thích ứng với sự phát triển liên tục của thời đại và cuộc sống.