Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 36
Số lượng câu trả lời 27
Điểm GP 13
Điểm SP 38

Người theo dõi (10)

Ann Đinh
♥_Hikari_♥
boy like you
dinh thi phuong

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

          Có thể nói chủ đề của truyện ngắn Chữ người tử tù và vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao đã được bộc lộ sáng ngời trong cảnh Huấn Cao cho chữ viên quản ngục, bởi đây không đơn thuần là cảnh cho chữ, mà "đây là sự chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn, của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ".

          Chính Nguyễn Tuân đã viết trong truyện, cảnh cho chữ là ”một cảnh tượng xưa nay chưa từng có". Vì sao vậy? Bình thường thì nói không có cảnh cho chữ đẹp đẽ và trang nghiêm trong chốn tù ngục tăm tối và nhơ bẩn này. Nhưng ở đây .lại có, bởi vì ở đây có sự chiến thắng của "thiên lương" con người. Và nhà văn, với nghệ thuật đặc tả tài tình, với thủ pháp tương phản sắc sảo, đã dựng lên những cảnh tượng đối lập để nêu bật ý nghĩa sâu xa và thâm thúy của sự chiến thắng đó. 

           “Cảnh cho chữ diễn ra vào lúc đêm khuya trong nhà ngục. Nhà ngục vốn đã tối tăm, lại vào đêm khuya khoắt, càng dày đặc bóng tối. Nhưng "trong một không khí khói tỏa như đám cháy nhà, ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc tẩm dầu rọi lên ba cái đầu người đqng chăm chú trên một tấm lụa bạch còn nguyên vẹn lần hồ" và "lửa đóm cháy rừng rực, lửa rụng xuống nền đất ẩm phòng giam, tàn lửa tắt nghe xèo xèo". Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Tuân đã miêu tả đến hai lần cái "ánh sáng đỏ rực", cái "lửa đóm cháy rừng rực” đã xua tan và đẩy lùi cái bóng tối dày đặc trong phòng giam. Nhấn mạnh đến cái ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu ấy, rõ ràng đó là dụng ý nghệ thuật của nhà văn.    

           Ở đây, không chỉ là sự đối lập của ánh sáng và bóng tối theo ý nghĩa sắc màu vật lí, mà sâu xa hơn và khái quát hơn, đây là sự đối lập mang ý nghĩa nhân sinh của con người: ánh sáng của lương trí, thiên lương và bóng tối của tàn bạo, độc ác. Ánh sáng của thiên lương đã xua tan và đẩy lùi bóng tốì của tàn bạo chính tại nơi tù ngục này. Ánh sáng ấy đã khai tâm, đã cảm hóa con người lầm đường trở về với cuộc sống lương thiện.

          Sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn. Sự phàm tục, sự nhơ bẩn ở đây được biểu thị rất rõ trong cảnh "một buồng chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, tổ rệp, đất bừa bãi phân chuột, phân gián"; còn cái đẹp, cái cao thượng lại được nói đến sâu sắc trong hai chi tiết mang ý nghĩa tượng trưng: màu trắng tinh của phiến lụa óng và mùi thơm từ châu mực bốc lên – điều dường như không thể có trong chốn tù ngục. Màu trắng của phiến lụa tượng trưng cho sự tinh khiết còn mùi thơm của thoi mực là hương thơm của tình người, tình đời.

         Sự đốì lập nói trên đã nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp, cái cao thượng đối với sự phàm tục, sự nhơ bẩn. Tâm hồn Huấn Cao bát ngát đến chừrig nào khi ông nói về mùi thơm của mực: "Thoi mực, thầy mua ở đâu tốt và thơm quá. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không?…”. Thế là, không có nhà ngục nào tồn tại nữa, chẳng còn bóng tối, cũng chẳng còn mạng nhện, phân chuột, phân gián nữa. Chỉ còn lại sự thơm tho của mực, sự tinh khiết của lụa – nó là sự thơm tho và tinh khiết của thiên lương con người.

         Sự chiến thắng của tỉnh thần bất khuất trước thải độ cam chịu nô lệ. Đây là sự phối hợp giữa những con người trong cảnh cho chữ, và ở đây, ta thấy có sự thay bậc đổi ngôi: người tù lại như người làm chủ (đường hoàng, hiên ngang, ung dung, thanh thản); còn bọn quản lí nhà ngục lại khúm núm, sợ hãi và xúc động trước những lời khuyên dạy của tù nhân (viên quản ngục "khúm núm cất những đồng tiền kẽm đánh dấu ô chữ", thầy thơ lại "run run bưng chậu mực").

         Sự chiến thắng của tinh thần bất khuất trước thái độ cam chịu nô lệ đã được khắc họa đậm nét trong cảnh cho chữ và những con người trong cảnh ấy. Không còn là cảnh cho chữ bình thường mà là một cảnh thọ giáo thiêng liêng giữa ngựời cho chữ và người nhận chữ. Lời khuyên dạy đĩnh đạc của Huấn Cao có khác gì một chúc thư về lẽ sống trước khi ông đi vào cõi bất tử. Và lời khuyên đầy tình người ấy đã có sức mạnh cảm hóa một tâm hồn bấy lâu vẫn cam chịu nô lệ, một con người lầm đường trở về với cuộc sống lương thiện. Câu nói nghẹn ngào trong nước mắt của viên quản ngục đã nêu bật sự chiến thắng của cái đẹp, cái thiện, của thiên lương con người: "Kẻ mê muội này xin bái lĩnh".

         Tóm tắt lại những sự chiến thắng trong cảnh cho chữ đã phân tích trên đây. Ý nghĩa nhân văn và giá trị nhân đạo gâu sắc của sự chiến thắng đó (lúc bấy giờ và bây giờ).

 

Câu trả lời:

Trong số hàng nghìn di tích lịch sử của Hà Nội, hơn 500 di tích đã được xếp hạng, thì Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một di tích gắn liền với sự thành lập của kinh đô Thăng Long dưới triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang bề thế nhất, tiêu biểu nhất cho Hà Nội và cũng là nơi được coi là biểu tượng cho văn hóa, lịch sử Việt Nam.

 

Theo Đại Việt sử ký, vào mùa thu năm Canh Tuất - 1070, Vua Lý Thánh Tông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc tiên thánh tiên hiền, các bậc nho gia có công với nước, trong đó có thờ Khổng Tử - người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam. Sáu năm sau - năm 1076, Vua Lý Nhân Tông quyết định khởi xây Quốc Tử Giám - một trường Nho học cao cấp nhất hồi bấy giờ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước. Đây là một sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự chọn lựa đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về vấn đề giáo dục, đào tạo con người Việt Nam theo mô hình Nho học châu Á.

 

Hiện trong di tích còn có 82 tấm bia đá, trên đó được khắc tên của 1306 vị đã từng đỗ tiến sĩ trong 82 kỳ thi từ giữa năm 1484 và 1780. Cũng trên các tấm bia này đã ghi lại người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang. Ông đỗ tiến sĩ khi 82 tuổi. Người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê Nam Trực (Nam Định), đậu trạng nguyên năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên ứng Chính bình thứ 16 (tức năm 1247) dưới triều Trần Thái Tông khi đó mới 13 tuổi. Từ đó Văn Miếu cùng Quốc Tử Giám - được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại đến thế kỷ 19.

 

Tọa lạc trên khuôn viên hơn 54.000m2, khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm giữa bốn dãy phố, cổng chính ở đường Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc giáp đường Nguyễn Thái Học, phía Đông giáp phố Tôn Đức Thắng, phía Tây là phố Văn Miếu. Bên ngoài có tường vây bốn phía, bên trong chia làm 5 khu vực. Khu vực 1 gồm có Văn hồ (hồ văn); Văn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng, cổng có ba cửa, cửa giữa to cao và xây hai tầng, tầng trên có ba chữ Văn Miếu môn. Khu vực thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ hai là Đại Trung môn, bên trái là Thánh Dực môn, bên phải có Đạt Tài môn. Tiếp trong là Khuê Văn Các (được xây dựng vào nǎm 1805). Khu vực 3 là giếng Thiên Quang (Thiên Quang Tỉnh có nghĩa là giếng trời trong sáng). Tại khu vực này có 82 bia Tiến sĩ dựng thành hai hàng, mặt bia quay về giếng, là một di tích thật sự có giá trị. Qua cửa Đại Thành là vào khu vực thứ 4, cửa Đại Thành cũng mở đầu cho những kiến trúc chính như hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, chính giữa là Toà Đại Bái đường, tạo thành một cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và truyền thống. Xưa, đây là nơi thờ những vị Tổ đạo Nho. Khu trong cùng là nơi giảng dạy của trường Quốc Tử Giám thời Lê, nhiều thế hệ nhân tài "nguyên khí của nước nhà" đã được rèn giũa tại đây. Khi nhà Nguyễn dời trường Quốc học vào Huế, nơi đây dùng làm đền thờ Khi Thánh (cha mẹ Khổng Tử), nhưng ngôi đền này đã bị hư hỏng hoàn toàn trong chiến tranh...

 

Điều đáng mừng là trong nǎm 2000, Chính phủ Việt Nam đã quyết định khởi công xây dựng Thái học đường với giá trị 22 tỷ đồng. Dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2003 nhằm làm cho khu di tích Vǎn Miếu - Quốc Tử Giám ngày càng hoàn chỉnh hơn, đúng với tầm cỡ và vị trí của di tích. Công trình này mang tính yêu cầu của thời đại, đó là công trình mới nhằm tôn vinh nền văn hoá của dân tộc. Những người đời sau đến đây có được những giây phút tưởng niệm những người đã có công sáng lập và xây dựng nền giáo dục Việt Nam.

 

Trải qua bao thăng trầm và những biến cố của lịch sử, Văn Miếu - Quốc Tử Giám không còn nguyên vẹn như xưa. Những công trình thời Lý, thời Lê hầu như không còn nữa. Song Văn Miếu - Quốc Tử Giám vẫn giữ nguyên được những nét tôn nghiêm cổ kính của một trường đại học có từ gần 1000 năm trước của Hà Nội, xứng đáng là khu di tích vǎn hoá hàng đầu và mãi là niềm tự hào của người dân Thủ đô khi nhắc đến truyền thống ngàn năm văn hiến của Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội.

 

 

 

Câu trả lời:

        Trong cuộc sống lao động và học tập, con người ai cũng gặp phải khó khăn, gian nan, thử thách và sẽ có lần vấp ngã. Có người có thể tự đứng lên được, nhưng cũng có người ngã quỵ dưới thất bại của chính mình. Để khuyên bảo, động viên, nhắc nhở con cháu, ông cha ta đã có câu:" Thất bại là mẹ thành công".

        "Thất bại là mẹ thành công" có nghĩa là gì? Thất bại chính là những lần vấp ngã, là khi công việc của ta gặp khó khăn, không có kết quả tốt như chúng ta mong đợi. Còn thành công thì ngược lại. Thành công có nghĩa là đạt được những kết quả mà ta mong muốn và hoàn thành công việc ấy một cách thuận lợi và tốt đẹp. Mẹ là những người sinh ra con, nhờ có mẹ mới có con cũng như có thất bại mới có thành công. " Thất bại là mẹ thành công mang một ngụ ý đó là: đừng nản lòng trước thất bại mà phải học tập rút kinh nghiệm thì " thất bại" sẽ dạy cho ta cách đạt kết quả cao hơn.

          Vì sao nói " Thất bại là mẹ thành công"? Mới đầu ta thấy câu nói trên có vẻ mâu thuẫn với nhau. Thất bại và thành công là hai chuyện trái ngược nhau hoàn toàn, không hề có liên hệ gì với nhau cả. Nhưng sau một hồi suy ngẫm, ta thấy được rằng câu tục ngữ này chẳng hề vô lý chút nào cả mà trái lại, nó rất liên kết với nhau. Bởi vì sau khi mỗi lần thất bại, ta sẽ tìm ra nguyên nhân dẫn đến những sai sót của ta, từ đó rút ra được những kinh nghiệm quý báu, giúp ta tránh phạm những sai lầm đó nữa và ngày càng tiến tới bước đường thành công hơn.

           Đối với những người sợ thất bại thì điều này hoàn toàn không đúng với họ, bởi vì họ không có ý chí để vươn lên, lúc nào cũng muốn mình sống trong một cuộc đời không phạm sai lầm nào cả thì đó là người ảo tưởng hay hèn nhát đối mặt với cuộc sống. Còn những người mà khi ngã gục giữa đường đời thì họ lại dũng cảm đứng dậy, càng quyết tâm làm lại từ đầu. Biết phân tích, mổ xẻ nguyên nhân thất bại để tìm cách tránh sai lầm lần nữa. Và qua đó người ta có được những bài học cũng như kinh nghiệm quý báu để công việc trở nên tiến triển tốt hơn. Như thế câu tục ngữ mới có giá trị, ý nghĩa với họ. 

           Vậy tại sao ta phải kiên trì bền bỉ trước những khó khăn thất bại? Đó là vì cuộc sống khó tránh khỏi những khó khăn. Khi ta làm một việc lớn thì khó khăn lại càng lớn. Khó khăn có thể do chủ quan hoặc khách quan gây nên. Khi gặp khó khăn, thất bại mà ngã lòng thì sẽ thất bại hoàn toàn, mất hết ý chí, ảnh hưởng đến công việc và cuộc đời. Ngược lại, nếu vững vàng, lấy thất bại làm bài học để rút kinh nghiệm thì ý chí vững vàng, kinh nghiệm dày dặn hơn, tiếp tục vươn lên và đạt được thành công.

           Không chỉ vậy, thất bại còn là động lực để chúng ta tiếp tục tìm tòi, học hỏi. Những người thực sự khao khát học hỏi, khám phá thế giới thường có lòng tự trọng rất cao. Trong số họ, ít ai dễ dàng chịu đầu hàng. Thất bại khiến niềm kiêu hãnh và lòng tự trọng của họ bị tổn thương. Chính điều đó thúc đẩy họ tìm tòi, học hỏi và làm việc nhiều hơn nữa để thực hiện bằng được công việc của mình. Ngoài ra thất bại còn rèn luyện cho con người ý chí quyết tâm.

           Thực tế trong cuộc sống, có rất nhiều tấm gương không sợ thất bại. Điển hình như: Thomas Edison từng thất bại cả trăm lần trước khi sáng tạo ra bóng đèn điện; trước khi sáng lập ra Disneyland, Walt Disney đã từng bị tòa báo sa thải vì thiếu ý tưởng; Lép Tôn-xtôi tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Chiến tranh và hòa bình từng bị đình chỉ học tập vì vừa không có năng lực và thiếu ý chí học tập;...

           Vậy xin chớ lo thất bại. Điều đáng sợ hơn là chúng ta bỏ qua nhiêù cơ hội chỉ vì không cố gắng hết mình. Lời khuyên đó giúp ta vững vàng trong cuộc sống. Chúng ta cần phải rèn luyện ý chí, sự kiên trì ngay từ khi còn nhỏ, cả những việc bình thường trong cuộc sống.

 

Câu trả lời:

Cảm nghĩ về người thân – đôi bàn tay của mẹ

Con vẫn thường hay tự hào nhiều lắm vì đôi bàn tay trắng trẻo, mịn màng của mình. Thỉnh thoảng con còn khoe với bạn bè những ngón tay thon nhỏ với móng tay dài có phủ một lớp sơn bóng hồng thật đẹp. Nhìn đôi bàn tay ấy, khối đứa bạn cùng lớp phải ghen tị với con vì đôi bàn tay đã cho mọi người biết rằng con rất được cưng chiều và không phải làm nhiều việc.

Thế rồi tới ngày Nhà giáo Việt Nam 20-11 vừa rồi, nhìn đôi bàn tay Mẹ uyển chuyển, nhanh nhẹn bọc quà hàng cho khách con mới biết rằng đôi bàn tay con làm sao sánh nổi đôi bàn tay mẹ.

Tay con nhỏ xinh và ngày càng đẹp trong khi con quá vô tâm để đến tận bây giờ mới nhận ra đôi bàn tay mẹ đang ngày càng thô ráp, chai sạn và to hơn.

Chính bàn tay ấy đã cho con được sống trong tình yêu thương và sự chăm sóc của mẹ.

Đôi bàn tay ấy làm đồ ăn, chải đầu, gấp chăn màn cho con mỗi sáng.

Cũng chính đôi bàn tay ấy, hằng ngày nấu cơm, dọn nhà, trồng rau, nuôi gà.

Đôi bàn tay ấy không ngần ngại nhúng xuống làn nước lạnh giá để quần áo con được thơm tho, sạch sẽ. Mặc dù nhà mình có máy giặt nhưng mẹ bảo giặt máy quần áo dễ hư và bạc màu lắm.

Đôi bàn tay ấy ngày ngày cân đo đong đếm từng chút mắm muối, bạc tiền.

Đôi bàn tay ấy đặt lên vai con mỗi khi con làm được một điều tốt và ôm con thật chặt khi con vấp ngã trên đường đời.

Đôi bàn tay em chỉ biết tới những đồ ăn ngon. Đôi bàn tay con chỉ biết cặm cụi trên sách vở và những bộ quần áo đẹp. Đôi bàn tay cha ngày đêm miệt mài bên bàn vi tính. Còn đôi bàn tay mẹ ngày ngày làm những việc nhỏ nhưng đã cho con biết bao điều lớn lao, cao cả.

Trong khi đôi bàn tay con chỉ biết bấm lia lịa trên bàn phím máy tính hay điều khiển ti vi, đôi bàn tay mẹ lại tính từng con số xem tiền điện tháng này đã vượt mức chưa.

Trong khi bố vừa đi uống bia với bạn bè về thì trên tay mẹ là một ly nước chanh mát lành.

Trong khi trời nóng nực lại mất điện, đôi bàn tay mẹ phe phẩy chiếc quạt nan cho con giấc ngủ ngon.

Đã bao lần mẹ ngồi nhìn con sơn móng tay và lần nào như thế con cũng muốn làm đẹp cho mẹ nhưng mẹ đều từ chối. Và đến bây giờ con đã hiểu, là phụ nữ mẹ cũng muốn làm đẹp lắm chứ nhưng vì con, vì bao việc vẫn đang chờ đôi bàn tay mẹ nên mẹ sẵn sàng hi sinh tất cả vì con, vì chồng. Trải qua bao tháng năm thăng trầm, đôi bàn tay ấy hẳn đã mệt mỏi nhiều thế nhưng vẫn chưa một ngày được ngơi nghỉ, chưa một ngày con nắm thật chặt đôi bàn tay ấy mặc dù có khi con dành cả buổi để chơi game, đọc truyện.

Mẹ à, con đã quá vô tâm, quá ích kỷ khi chỉ biết đón nhận những ân cần, chăm lo từ đôi bàn tay mẹ và cho rằng đó là điều dĩ nhiên bà mẹ nào cũng dành cho con cái của mình. Đôi khi con làm mẹ hạnh phúc vì những thành tích mà con đạt được nhưng cũng có quá nhiều lần con để sự vô tâm và những niềm vui của cá nhân khiến mẹ buồn, khiến đôi tay mẹ phải đặt lên lau nước mắt.

Ôi! Đôi tay mẹ tôi! Con yêu đôi bàn tay ấy biết bao nhiêu. Đôi bàn tay xương xương, chai sạn vì chồng con. Đôi bàn tay không ngừng vun vén cho gia đình một hạnh phúc vẹn tròn.Với con, mãi mãi đó vẫn là đôi bàn tay đẹp nhất, thân thương nhất trong cuộc đời mình!

Câu trả lời:

Truyện ngắn Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn được in trên báo Nam Phong, số 18, năm 1918. Đến năm 1989, Nhà xuất bản khoa học xã hội tuyển chọn đưa vào tập Truyện ngắn Nam Phong. Tác phẩm được xem là “bông hoa đầu mùa” của truyện ngắn Việt Nam hiện đại bởi lẽ nó là một trong những truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ, mặc dù cách diễn đạt vẫn còn lưu lại khá rõ dấu ấn của văn học trung đại (lối văn biền ngẫu).

Nội dung truyện kể về sự kiện vỡ đê, nhân vật chính của truyện là viên quan phủ. Cốt truyện gồm ba cảnh, diễn tiến theo trình tự thời gian: Cảnh 1: Mưa to gió lớn, nước lũ dâng cao, đê sắp vỡ, dân chúng hối hả đắp đất giữ đê. Cảnh 2: Đám quan lại, nha lệ, lính tráng mải mê đánh tổ tôm trong đình. Cảnh 3: Vỡ đê. Tác giả đã vẽ nên bức tranh tương phản giữa sự ăn chơi hưởng lạc của những kẻ cầm quyền với nỗi cơ cực, thê thảm của dân chúng. Thông qua đó lên án gay gắt giai cấp thống trị thối nát, bất tài và vô trách nhiệm trước tài sản, tính mạng của dân nghèo, đồng thời bày tỏ mối cảm thương sâu sắc của mình trước những đau thương, hoạn nạn của đồng bào.

Mở đầu thiên truyện là tình thế vô cùng hiểm nguy của khúc đê sông Nhị. Thế đê được nhà văn tả bằng nhiều chi tiết cụ thể về thời gian, không gian: Gần một giờ đêm. Trời mưa tầm tã. Nước sông Nhị Hà lên to quá. Khúc sông làng X, thuộc phủ X xem chừng núng thế lắm, hai ba đoạn đã thẩm lậu rồi, không khéo thì vỡ mất.

Cảnh hàng trăm nghìn con người hốt hoảng, lo lắng, tất bật… tìm mọi cách để giữ cho con đê không bị vỡ trước sức tấn công khủng khiếp của nước lũ được tác giả miêu tả bằng ngòi bút hiện thực thấm đẫm cảm xúc xót thương:… kẻ thì thuổng, người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp, nào cừ, bì bõm dưới bùn lầy ngập quá khuỷu chân, người nào người nấy lướt thướt như chuột lột. Tình cảnh trông thật thảm.

Không khí căng thẳng, hãi hùng. Sự đối lập giữa sức người với sức nước đã lên tới điểm đỉnh: Tuy trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai cù củng mệt lử cả rồi. Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống, dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên. Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước ! Lo thay! Nguy thay! Khúc đê này hỏng mất. Cảnh dân phu đang loay hoay, tuyệt vọng chống chọi với nước để cứu đê là để chuẩn bị cho sự xuất hiện của cảnh tượng hoàn toàn trái ngược diễn ra trong đình:

Ấy, lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to nước lớn, để bảo thủ lấy tính mạng gia tài, thế thời nào quan cha mẹ ở đâu ?

Thưa rằng: Đang ở trong đình kia, cách đó chừng bốn năm trăm thước. Đình ấy củng ở trên mặt đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì.

Ở cảnh hai này, tác giả kể chuyện viên quan phủ mải mê chơi tổ tôm với đám quan lại dưới quyền và được lũ sai nha, lính lệ hầu hạ, cung phụng đến nơi đến chốn. Giọng văn tường thuật khách quan cụ thể, chi tiết nhưng đằng sau nó chứa chất thái độ mỉa mai, châm biếm và phẫn uất.

Trước nguy cơ đê bị vỡ, bậc “phụ mẫu chi dân” cũng đích thân ra “chỉ đạo” việc hộ đê, nhưng trớ trêu thay, chỗ của ngài không phải là ở giữa đám dân đen đang vất vả, lấm láp, ra sức cứu đê mà là ở trong đình với không khí, quang cảnh thật trang nghiêm, nhàn hạ: đèn thắp sáng trưng; nha lệ, lính tráng, kẻ hầu người hạ, đi lại rộn ràng. Chân dung của quan lớn được hiện lên thật cụ thể, sắc nét: Trên sập; mới kê ở gian giữa, có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chệ ngồi. Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi. Một tên lính lệ đứng bên, cầm cái quạt lông, chốc chốc sẽ phẩy… Đặc biệt là quanh quan có đủ thầy đề, thầy đội nhất, thầy thông nhì và chánh tổng cùng ngồi hầu bài. Quan nhàn hạ, ung dung, không mảy may quan tâm đến tình cảnh thảm thương của dân chúng đang diễn ra trên đê. Trong đình vẫn duy trì cái không khí uy nghiêm của chốn công đường, không hề có một chút liên hệ nào với cảnh hộ đê tất bật ngoài kia của dân phu. Dựng lên hai cảnh đôi lập tác giả có dụng ý tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm, sống chết mặc bay của bọn quan lại phong kiến đương thời.

Trên cái nền là cảnh trăm họ lo toan chống giặc nước, chân dung “quan phụ mẫu” hiện lên rõ ràng qua những nét vẽ sinh động về hình dáng, cử chỉ, lời nói và diễn biến tâm lí nhân vật. Người đọc không thể tưởng tượng nổi là trong tình cảnh nước sôi lửa bỏng, tính mạng và của cải của hàng nghìn con người đang bị đe dọa từng giờ từng phút, vậy mà “quan phụ mẫu” vẫn điềm nhiên vui chơi, hưởng lạc. Xung quanh hắn bầy biện đủ thứ sang trọng, xa hoa: Bên cạnh ngài, mé tay trái, bát yến hấp đường phèn để trong khay khảm, khói bay nghi ngút, tráp đồi mồi chữ nhật để mở, trong ngăn bạc đầy những trầu vàng, cau đậu, rễ tía, hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt.

Quả là hoàn toàn trái ngược với hình ảnh: … mưa gió ầm ầm, dân phu rối rít… trăm họ đang vất vả lấm láp, gội gió tắm mưa, như đàn sâu lũ kiến ở trên đê… Sự đối lập đó càng làm nổi bật tính cách ích kỉ, độc ác, vô nhân đạo của tên quan phủ và thảm cảnh của dân chúng; đồng thời góp phần gia tăng ý nghĩa phê phán gay gắt của truyện.

Trong khi thảm họa vỡ đê khủng khiếp đang đập vào mắt dân chúng thì bọn nha lại tay chân vẫn cúc cung hầu hạ quan lớn đánh bạc. Tuy chỉ là một cuộc chơi, lại chơi trong khi làm nhiệm vụ đôn đốc dân phu hộ đê nhưng quan lớn vẫn giữ cái trật tự trên dưới và không khí tôn nghiêm, nghi vệ như ở chốn công đường: Chung quanh sập, bắc bốn ghế mây, bắt đầu từ phía hữu quan thì có thầy đề, rồi lần lượt đến thầy đội nhất, thầy thông nhì, sau hết giáp phía tay tả ngài, thì đến chánh tổng sở tại cùng ngồi hầu bài. Mặc cho dân tình nháo nhác, khổ sở, quan vẫn mải mê dồn hết tâm trí vào các quân bài tổ tôm. Cung cách ấy tố cáo bản chất xấu xa cùng thái độ vô trách nhiệm đến mức vô nhân đạo của hắn.

Nếu ở trên mặt đê, không khí sôi động, nhốn nháo, hối hả với công việc cứu đê thì trong đình không khí cũng rộn ràng với những lời lẽ xoay quanh ván bài đen đỏ: Bát sách ! Ăn; Thất văn,… Phỗng, lúc mau, lúc khoan dung, êm ái, khi cười, khỉ nói vui vẻ, dịu dàng… Ngoài kia, đê vỡ mặc đê, nước sông dù nguy không bằng nước bài cao thấp .

Sự đam mê cờ bạc của tên quan phủ với đám nha lại dưới quyền diễn ra ngay trên mặt đê, trong hoàn cảnh ngặt nghèo đã nói lên sự tàn ác, vô liêm sỉ của kẻ cầm quyền. Những lá bài tổ tôm có một ma lực lớn đến độ nào mà khiến cho tên quan phủ quên hết trách nhiệm của mình, quên cả mối hiểm nguy, chết chóc đang đe dọa sinh mạng, tài sản của bao người? Phải! Hắn ta đâu cần biết những điều đó vì quanh hắn lúc nào cũng có bọn tay sai nịnh nọt, hầu hạ, dạ vâng… Chúng thi nhau tỏ ra cho quan biết là: Mình vào được, nhưng không dám cố ăn kìm, rằng: Mình có đôi, mà không dám phỗng qua mặt. Thì ra chúng cố ý nhường cho quan thắng bài liên tiếp để lấy lòng quan lớn. Sau khi quan xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh rung đùi, vuốt râu mắt đang mải trông đĩa nọc, bỗng ngoài xa, tiếng kêu vang trời dậy đất. Mọi người đều giật nảy mình, duy quan vẫn điềm nhiên, chỉ lăm le chực người ta bốc trúng quân mình chờ mà hạ. Có người bẩm báo là có khi đê vỡ, hắn trả lời thật phũ phàng: Mặc kệ! Sau đó lại tiếp tục đánh bài.

Thú cờ bạc và những đồng tiền vơ vét được từ ván bài đã làm cho hắn mất hết lương tri: Ngài mà còn dở ván bài, hoặc chưa hết hội thì dẫu trời long đất lở, đê vỡ dân trôi, ngài cũng thây kệ.

Tính cách của tên quan phủ được tác giả miêu tả khá tỉ mỉ qua các cử chỉ, lời nói thật tiêu biểu, về cử chỉ: Khi đó, ván bài quan đã chờ rồi. Ngài xơi bát yến vừa xong, ngồi khểnh vuốt râu, rung đùi, mắt đang mải trông đĩa nọc… Về lời nói: Tiếng thầy đề hỏi: Dạ bẩm bốc tiếng quan lớn truyền: ừ. Khi có người chạy vào báo tin đê vỡ, quan đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng: Đê vỡ rồi ! Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày! Có biết không? Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy ? Không còn phép tắc gì nữa à ? Khi chơi bài, quan lớn tỏ ra vô cùng thành thạo: ù Ị Thông tôm, chi chi nảy!… Điếu, mày !

Hàng loạt hình ảnh tương phản được tác giả sử dụng rất tài tình trong đoạn văn trên: Tiếng kêu vang trời dậy đất ngoài đê tương phản với thái độ điềm nhiên hưởng lạc của tên quan phủ. Lời nói khe khẽ sợ sệt của người hầu: Bẩm, có khi đê vỡ tương phản với lời gắt của quan cùng cái cau mặt: Mặc kệ ! Hình ảnh người nhà quê, mình mẩy lấm láp, áo quần ướt đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra hơi báo tin đê vỡ tương phản với hình ảnh quan lớn đỏ mặt tía tai quay ra quát rằng: Đê vỡ rồi… thời ông cách cổ chúng mày.

Trong khi miêu tả và kể chuyện cảnh hộ đê, tác giả thể hiện nỗi xót thương và đồng cảm với nỗi khổ của dân chúng:

Than ôi ! Cứ như cái cách quan ngồi ung dung như vậy, mà hai bên tả hữu, nha lại nghiêm trang, lính hầu rầm rập, thì đố ai dám bảo rằng: gần đó có sự nguy hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thảm, trừ những kẻ lòng lang dạ thú, còn ai nghĩ đến, mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch!…

 Thiên truyện khép lại bằng cảnh đê vỡ: Ấy, trong khi quan lớn ù ván bài to như thế, thì khắp mọi run miền đó, nước tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nước, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm sầu, kể sao cho xiết !

Ở đoạn cuối truyện, tác giả vừa dùng ngôn ngữ miêu tả, vừa dùng ngôn ngữ biểu cảm để tả cảnh tượng vỡ đê và tỏ lòng ai oán cảm thương của mình đối với những người nông dân khốn cùng. Nhà văn muốn nhấn mạnh rằng: Cuộc sống lầm than đói khổ của nhân dân không phải chỉ do thiên tai gây nên mà trước hết và trực tiếp hơn cả là do thái độ thờ ơ vô trách nhiệm, vô nhân đạo của những kẻ cầm quyền đương thời.

Về nghệ thuật, trong toàn bộ tác phẩm, bên cạnh phép tương phản thì phép tăng cấp đã được nhà văn sử dụng một cách tài tình, có tác dụng nhấn mạnh ý nghĩa của tác phẩm và khắc hoạ rõ nét tính cách của nhân vật chính là tên “quan phụ mẫu”.

Phép tăng cấp thể hiện rõ trong việc miêu tả cảnh hộ đê dưới trời mưa mỗi lúc một dồn dập: Nước sông Nhị Hà lên to quá… Ấy vậy mà trên trời thời vẫn mưa tầm tã trút xuống… Dưới sông thời nước cứ cuồn cuộn bốc lên giữa tiếng trống, tiếng tù và tiếng người gọi nhau sang hộ đê mỗi lúc một ầm ĩ, náo động.

Phép tăng cấp còn được vận dụng vào việc miêu tả cảnh tên quan phủ cùng đám nha lại đánh bài tổ tôm trong đình. Thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm của tên quan phủ mỗi lúc một tăng. Mê bài bạc mà bộ nhiệm vụ đôn đốc hộ đê đã đành. Đến khi có người dân phu vào báo tin đê vỡ mà vẫn thờ ơ, lại lên giọng quát nạt bọn tay sai rồi quay lại tiếp tục đánh bài và vui sướng reo to: ù ! Thông tôm, chi chi nảy ! thì độ say mê cờ bạc quả đã làm cho “quan lớn” mất hết tính người. Nói theo lời bình của nhà văn là loại lòng lang dạ thú.

Nhờ khéo léo kết hợp thủ pháp nghệ thuật tương phản và tăng cấp trong miêu tả, kể chuyện nên tác giả truyện ngắn Sống chết mặc bay đã đạt được mục đích lên án gay gắt tên quan phủ tàn ác và bày tỏ niềm cảm thương sâu sắc trước cảnh nghìn sầu muôn thảm của nhân dân do thiên tai và do thái độ vô trách nhiệm của kẻ cầm quyền gây nên.

 

Câu trả lời:

    Bây giờ, tôi với Linh là đôi bạn thân. Đi đâu ai cũng thấy tôi với Linh như hình với bóng. Đâu ai biết rằng tình bạn thân của chúng tôi bắt đầu từ một việc hiểu lầm. Và chính quyển nhật kí của Linh đã là nhịp cầu nối chúng tôi lại với nhau trong một lần tôi trót xem nhật kí của Linh.
   Tôi vốn là học sinh giỏi của lớp 9A. Thầy cô và bạn bè rất yêu thương và quý mến tôi. Cuộc sống thật tươi đẹp và vui vẻ. Mỗi ngày tôi đến trường là một niềm vui. Tôi thấy mình thật quan trọng với mọi người.
    Mọi chuyện sẽ chẳng có gì thay đổi nếu không xuất hiện cái Linh trong lớp tôi. Nó học đều các môn và môn nào cũng giỏi cả. Trước kia, tôi học khá các môn nên được bạn bè và cô giáo rất quý. Bây giờ thì ai cũng quây quanh nó và như quên lãng tôi. Cũng phải thôi, vì nó đã học giỏi lại xinh xắn dễ thương và đặc biệt là rất khiêm tốn và nhiệt tình giúp đỡ bạn bè. Chẳng như tôi lúc trước, cậy được thầy cô thương, các bạn quý mến nên đôi khi tôi cũng quá quắt.   Nhưng trong lòng tôi lúc ấy nào chịu hiểu điều đó. Chỉ thấy căm tức cái Linh vì nó chiếm vị trí ưu ái của tôi trong lòng thầy cô và bạn bè. Lúc ấy trong lòng tôi nghĩ: “Tự nhiên xuất hiện một con nhỏ thật là đáng ghét. Từ khi nó xuất hiện mình trở thành người thừa. Mọi người đã quên mất mình rồi. Ước gì… ước gì… nó biến mất đi nhỉ?”.
    Lúc ấy, tôi thấy thật lạ, nó chẳng bao giờ ra vẻ “ta đây”, lúc nào cũng chăm chú học bài, giờ ra chơi nó cũng ít ra ngoài đùa nghịch cùng các bạn. Nó càng ngoan hiền, tôi càng thấy ganh ghét nó. Có lần tôi giải mãi không ra một bài toán khó, thấy thế, bạn Thủy bảo tôi ra hỏi Linh, tôi bĩu môi quay ra ngoài lầm bầm: “Ai thèm hỏi, làm như nó giỏi lắm”.
    Sáng hôm ấy, đang thong dong trên đường đến lớp, tôi sực nhớ ra: “Thôi chết, hôm nay mình trực nhật mà quên mất”. Tôi đạp một mạch đến trường rồi chạy ngay vào lớp. Lạ thật, lớp học đã được quét dọn sạch sẽ, bàn ghế được kê ngay ngắn,…Linh nhìn tôi cười thân mật: “Mình đến sớm nên đã trực nhật dùm bạn rồi.” Tôi không một lời cảm ơn mà quay ngoắt đi thẳng ra ngoài, trong bụng thầm nghĩ: “Lại làm ra vẻ chăm chỉ, ngoan hiền để mọi người khen ngợi đây mà”…. Thắm thoắt, chỉ còn hai ngày nữa là chúng tôi nghỉ hết học kì I.
    Tôi vẫn đến lớp như mọi khi, hôm nay có việc gì mà bọn con gái lớp tôi đứng túm tụm vào chỗ ngồi của Linh. Chẳng biết chúng nó đang làm gì, hình như đang đọc cái gì đó bí mật lắm thì phải. Tôi quan sát không thấy Linh ở đó. Thủy nhìn thấy tôi, nó mỉm cười tinh quái. Nó bảo bọn con gái bày trò rủ Linh đi chơi để xem trộm nhật kí của Linh.Tôi không ưa trò này của bọn con gái. Tôi thầm nghĩ: “Bọn nó chơi trò này với Linh thật là ác, bạn bè với nhau mà lại đối xử như vậy thì còn gì là bạn bè. Linh mà biết được chắc là buồn lắn đây. Mình có nên ngăn cản bọn này không? Thôi kệ nó. Ai biểu nó chảnh chẹ, kênh kiệu làm chi. Từ đây hết ra vẻ ta đây rồi nhé!” Tôi sung sướng nghĩ thầm nhưng lòng cũng có điều gì đó bất nhẫn lắm. Nhưng sự ích kỷ, hả hê khi nhìn “kẻ thù” của mình gặp nạn đã che mất những suy nghĩ tốt đẹp, tích cực trong tôi.
    Xem xong, bọn chúng đi ra ngoài, còn mình tôi trong lớp. Tôi không cưỡng được sự tò mò: “Không biết Linh viết gì trong ấy, chắc là nó cũng chẳng ưa gì mình đâu? Mình có nên xem không? Không nên đâu, xem trộm nhật kí của người khác là xấu lắm. Nhưng có ai biết đâu mà sợ? Giờ này các bạn trong lớp đã đi chơi cả rồi. Với lại mình cũng muốn biết Linh nghĩ gì về mình?” Để có câu trả lời đâu khó. Tôi nhanh chóng quyết định.
  Tôi cầm quyển nhật kí lên và đọc lướt qua.
“Tình hình vẫn chẳng có gì thay đổi, các bạn trong lớp vẫn quý mến mình, chỉ có bạn Hồng hình như không hài lòng. Bạn ấy không hiểu mình nhưng cũng chẳng nên trách bạn ấy làm gì. Chắc vì bạn ấy hiểu lầm mình điều gì đó nên mới tỏ thái độ thiếu thiện cảm với mình như thế. Mình cũng rất quý bạn ấy. Bạn ấy học giỏi, tính tình thẳng thắn dễ mến. Mình chỉ muốn các bạn trong lớp chơi thân thiết, vô tư với nhau, giúp nhau cùng học tốt. Mình tin rằng rồi một ngày không xa Hồng sẽ hiểu mình, mình cũng thật lòng quý mến bạn ấy,….Có lẽ hết học kì I mình sẽ chuyển trường,…” Đọc đến dòng này tôi thật sự bối rối. “Trời, vậy là lâu nay mình nghĩ oan cho Linh ư? Linh đâu xấu như mình nghĩ. Mình thật là đáng trách. Linh ơi, mình xin lỗi bạn. Đúng là sự ích kỷ sẽ làm con người ta xấu xa hơn. Cảm ơn bạn đã đánh thức mình.”
Linh còn viết nhiều nữa xoay quanh chuyện học hành, bạn bè, trường lớp,…Tôi rất ân hận và thái độ vừa qua đối với Linh. Tôi sẽ gặp Linh, sẽ xin lỗi bạn về những việc đã xảy ra. Mong rằng bạn sẽ ở lại cùng học với chúng tôi.
   Sau đó tôi đã tìm cơ hội và nói chuyện thẳng thắn với Linh. Mọi hiểu lầm, ấn tượng xấu đều được xóa bỏ, hai đứa dần dần gần gũi nhau và thân thiêt với nhau lúc nào không biết. Tuy tình bạn hai đứa bắt nguồn từ sự việc không hay nhưng tôi phải cảm ơn nó rất nhiều. Nhờ nó mà tôi mới gặp và có được người bạn tốt như Linh. Mong rằng tình bạn của chúng tôi sẽ kéo dài mãi mãi.

Câu trả lời:

Thời gian cứ vô tình trôi, muốn cuốn đi tất cả. và bụi thời gian cứ phủ lên, cứ muốn xóa nhòa kí ức. Không biết sóng gió cuộc đời đánh ta đi về đâu. Trong cuộc đời, bao sự việc xảy ra,bao người bạn mới đến với ta. Và có thể: ta đã lãng quên quá khứ. Nhưng khi ta bỗng chững lại, bỗng gặp lại bản thân ta, khi mọi kí ức bỗng tràn về, ta giật mình, khẽ gọi: bạn.

"Hẹn gặp cậu trong mơ"- lời tôi thường nói. Nhưng điều ấy chưa bao giờ thành hiện thực. Phải chăng vì tôi đã quá vô tâm, đã tụ tha hóa bản thân, tự thay đổi mình? Nên bà tiên đã đến, vung cây đũa thần, hóa phép nhiệm màu, đi tôi đi tìm tôi, tìm lại kí ức.

Trong mơ, tôi đứng lặng giữa một cơn phòng lớn, rông thênh thang, thẫm một màu u uất. Tôi mệt mỏi bởi cứ phải lê gót, lê gót giữa bãi cát dài. Biết đâu tâm hồn mình đã hóa thành cát bụi.

Trong mơ, tôi co người vì lạnh. Lạnh da lạnh thịt, buốt giá tâm can. trong mơ, lòng tôi thổn thức, biết đâu là đích đến của cuộc hành trình, biết nơi nao dừng lại?? Tôi buồn, tôi cô đơn, tôi trống rỗng. Tôi đang đi trong căn phòng kín của tâm hồn mình- nơi tôi đã tự chôn vùi kí ức!!

Trong mơ, bạn xuất hiện. Trong mơ, Sử - bạn của tôi vẫn vậy. Vẫn nước ra ngăm đen vì nắng cháy; vẫn bàn tay khô ráp, đã sẫm lại do nhựa cỏ; vẫn dôi mắt đày tự tin, đầy nghị lực. Và nụ cười vẫn chưa hề nở trên môi tới một lần. Tôi chạy tới, muốn ôm chạt lấy bạn, muốn được bạn trở che. Bạn của tôi- sóng gió cuộc đời không đánh gục được. Bạn của tôi- vẫn mãi như Asin kiên cường.

Tôi từng là một cô bé hồn nhiên, sống trong vòng tay ấm áp của mẹ, của cha. Tôi luôn nghe lời, luôn biết : không được chơi với thằng Sử chăn trâu. Và cứ thế, cứ thấy bạn từ xa, lũ trẻ chúng tôi chạy xa. "Phải "cạch" thằng Sử". Cuộc đời tôi- phẳng lặng.

Bạn- một số phận bất hạnh. Bất hạnh ngay từ cái tên: thằng không cha. Bạn bất hạnh vì không phải là dân bản địa, không có ruông đất. Bạn bất hạnh vì con mắt người đời: "Bố nó chết vì AIDS, anh nó đi tù". Cuộc đời bạn- đầy bão tố.

Nhưng bạn hiên ngang đi ra từ bão tố, hiên ngang kéo tôi ra khỏi bàn tay tử thần dưới dòng ông Hồng đục đỏ. Tại tôi ham chơi, ham hái hoa rau muống tím biếc mọc sát bờ sông. Tin con bé sém bị chết đuối khi cả vùng ai cũng biết. Còn bạn- vị anh hung thì mãi mãi vô danh.

Và tôi lần đầu tiên cãi lại lời mama: kết bạn với bạn. Có thể với bạn, tôi chỉ là cơn gió nhẹ. Nhưng với tôi, bạn còn mạnh hơn cả giông tố cuộc đời mình. Bạn đến, tôi nhận ra được nhiều điều. Nhờ có bạn, tôi yêu hơn biết bao điều giản dị quanh mình.

Quên sao được những buổi chiều lộng gió, nằm giữa một rừng hoa đồng nội, lắng nghe tiếng sáo diều vi vu vi vu. Quên sao đượcniềm vui khi chạy trên triền đê, khi cỏ may bám đầy áo, và hét to: "Tôi yêu quê tôi"

Niềm hạnh phúc của cô bé vùng quê Bác Bộ đâu chỉ có vậy. Bạn tối ngày đi làm thuê cho cả làng, quần quật suốt ngày, nhọc nhằn lẫn nhục nhằn, bạn vẫn không thể hiện chút cảm xúc nào trên nét mặt. Xã cho con trâu, bạn làm bạn với nó. Vậy thôi!! Tôi dậy bạn chữ, dạy bạn làm toán. Nhưng biết không Sử ơi: bạn cũng chính là một người thầy của tôi đó. Cuộc đời bạn là một thiên truyên dài. bạn kể nhiều, nhiều lắm, nhiều hơn rất nhiều tôi có thể nghĩ về cuộc đời của cậu bé 12 tuổi. Bạn rất mong ước có một gia đình. bạn ước được như tôi, mong một lần được cất tiếng gọi mẹ. Nhưng đâu có được. "Đời là vậy. Sóng gió đánh có chọn ai đâu." Tôi biết được giá trị của đồng tiền; biết thương giọt mồ hôi rơi trên má mẹ, yêu giọt nứơc mắt cay khóe mi cha hơn, biết cha mẹ phải vất vả như thế nào để nuôi "2 cô vịt giời" khôn lớn. Tôi hối hận vì đã bỏ cơm vì không có con búp bê. Tôi hiểu hơn giá trị của hạnh phúc gia đình. Tôi hối hân, tôi giận mình vì đã trốn học đi chơi, đâu biết đó là ước mơ , là nỗi khao khát lớn của bạn.

Nhưng đúng thật: "Sóng gió cuộc đời có chọn ai đâu". Do làm ăn tốt, cả nhà tôi đã rời khỏi miền quê nghèo ấy. Biết tin, bạn chỉ ừ. Và hôm tôi đi, tôi không gặp lại bóng dáng thuở nào. Thời gian trôi, thấm thoắt đã 6 năm, tôi gần như đã quên: mình có một người bạn.

Trong mơ - bạn gặp tôi. Vẫn vậy. Tôi bỗng ngưộng ngùng, bẽn lẽn, xấu hổ.. Vẫn cái nhìn ấm áp. Bạn của tôi- Bạn mỉm cười. Và tôi bừng tỉnh.

Hôm nay, trên chuyến xe này, tôi trở lại quê hương, tìm lại tuổi thơ, tìm lại một người bạn. Và tìm lại một miền kí ức.

 

Câu trả lời:

* Qua phân tích các nguồn lực tự nhiên, kinh tế xã hội ở TN ta thấy TN có những thế mạnh chính trong phát triển kinh tế xã
hội như sau:

-Thế mạnh phát triển cây công nghiệp và chế biến sản phẩm cây công nghiệp

-thế mạnh phát triển lâm nghiệp và công nghiệp khai thác gỗ lâm sản

-thế mạnh phát triển thuỷ điện.

* Thế mạnh phát triển cây công nghiệp (giống như câu 2)
(bổ sung thêm vào ý cuối cùng.)
Các nhà máy chế biến sản phẩm cây công nghiệp :
chế biến cà phê hiện nay mới ở trình độ sơ chế chủ yếu ở Buôn ma Thuật và ngoài ra còn chế biến ở đà lạt, Plây cu.
- Chế biến cao su cũng sơ chế chủ yếu ở Plâycu, Buôn ma Thuật.
- Chế biến chè búp ở Bầu cạn, biển Hồ ở Gia lai và ở Bảo Lộc Lâm đồng.
Chế biến tơ tằm ở Bảo lộc, Lâm đồng, đã hình thành liên hợp chế biến tơ tằm hiện đại nhất Đông nam á.

*Thế mạnh phát triển lâm nghiệp và công nghiệp khai thác gỗ lâm sản.
- phát triển lâm nghiệp ở TN được coi như là một hướng mũi nhọn trong kinh tế TN. Vì phát triển lâmnghiệp ở TN có lien
quan tới hiệu quả kinh tế của nhiều ngành kinh tế khác trong cơ cấu kinh tế TN.

+ trước hết phát triển lâm nghiệp sẽ tạo ra hiệu quả kinh tế rừng cao: do rừng của Tây nguyên được coi là có S lớn nhất cả
nước- Khoảng 3,3 tr ha rừng trong tổng số hơn 9 tr ha rừng cả nước.

+Rừng ở TN có độ che phủ rừng lớn nhất cả nước 60% trong khi đó ở tây bắc chỉ có dưới 10%.

+S rừng ở TN so với các nước chiếm tới 36% trong khi đó Duyên hải miền Trung có nhiều rừng, nhưng chỉ chiếm 30%.

+Trữ lượng gỗ và sản lượng gỗ của TN hiện nay lớn nhất cả nước: trữ lượng gỗ có khoảng 180 tr m3 với sản lượng gỗ,
chiếm 52% sản lượng gỗ cả nước. Những chỉ tiêu đó khẳng định rằng rừng ở TN được coi là có thế mạnh nhất, có ý nghĩa nhất
trong cơ cấu kinh tế của TN và có S quy mô rừng lớn nhất cả nước.

+Rừng ở TN không những có S và trữ lượng lớn mà có nhiều loại gỗ quý đặc sản không vùng nào trong cả nước có cả (đó là
Cẩm lai, Giáng Hương Kiền, Kiền... ) trong đó nổi tiếng nhất là gỗ Cẩm Lai có giá trị xuất khẩu cao nhất cả nước. Trong rừng còn
có nhiều loại thú quý như Voi, Gấu, Bò tót, Tê Giác... mà các loài thú rừng quí hiếm này đang được bảo tồn ở khu vườn quóc gia
Cát Tiên và OK Đon (Đắc Lác). Như vậy, tài nguyên khoáng sản ở tây nguyên không những có giá trị kinh tế lớn mà còn có giá trị
về sinh thái, môi trường và du lịch.

+phát triển lâm nghiệp ở TN trên cơ sở có trữ lượng gỗ lớn như vậy, nên vùng này đã và đang hình thành nhiều liên hiệp
lâm nghiệp, công nghiệp có quy mô vào loại nhất cả nước, điển hình như liên hiệp EA Súp (Đắc Lắc) Kon Hà Nừng, Buôn Gia vằn
(Gia lai). Những liên hiệp lâm công nghiệp này phải gắn kết chặt chẽ giữa trồng rừng, tu bổ rừng, khoanh nuôi rừng và khai thác gỗ
lâm sản có kế hoạch cùng với các nhà máy chế biến. TN hiện nay vẫn là vùng cho sản lượng khai thác lớn nhất cả nước nhưng
nhiều năm qua sản lượng khai thác gỗ của TN có xu thế giảm dần. Nếu như thời kỳ 90- 95 sản lượng gỗ khai thác TB năm 700.000
m3 gỗ nhưng từ năm 95-99 sản lượng khai thác gỗ trung bình năm chỉ đạt 200- 300000 m3 gỗ, đó là kết quả của việc khai thác rừng
ở TN nhiều năm qua vẫn còn bừa bãi lãng phí.

Việc phát triển lâm nghiệp của TN ngoài ý nghĩa kinh tế to lớn như nêu trên còn có ý nghĩa to lớn là bảo vệ môi trường sinh
thái cho TN và cho DHNTB và ĐNB vì rừng của T N chính là rừng đầu nguồn của các sông Đồng Nai, sông Đà Rằng, sông La
Ngà. Cho nên, việc khai thác và bảo vệ rừng, trồng rừng ở TN có ảnh hưởng lớn tới quá trình sản xuất nông lâm ngư nghiệp ở miền
Trung và ĐNB , Sự ảnh hưởng đó biểu hiện có tác dụng giữ cân bằng sinh thái điều tiết mực nước ngầm hạn chế xói mòn đất, hạn
chế lũ lụt ở Duyên hải NTB và TN cho nên phát triển lâm nghiệp ở TN không những có ý nghĩa kinh tế to lớn mà còn có tầm quan
trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái cho cả NTB và ĐNB. Qua những điều phân tích trên chứng tỏ lâm nghiệp ở TN phải
được coi là mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế .

-Để tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế rừng ở TN cần phải thực hiện những hướng chính sau:

+ Phải ngăn chặn mọi hình thức khai thác rừng bừa bãi. Vận động dịnh canh định cư chống du canh, du cư, chống đốt rừng
làm rẫy. Phải đẩy mạnh trồng rừng kết hợp tu bổ, khoanh nuôi và tập trung đầu tư xây dựng nhiều lâm trường mới nhiều liên hiệp
lâm công nghiệp mới như Easup, Kon Ha Nừng...

+Qui hoạch mở rộng vườn quốc gia là qui hoạch vùng đệm ở các khu bảo tồn quốc gia này (Cát Tiênvà OKđôn)

+đẩy mạnh thực hiện chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ nông dân, tạo cho đất có chủ.

+đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến gỗ tại chỗ, hạn chế xuất khảu gỗ tròn và tận dung các phế liệu của gỗ để sản
xuất hàng tiêu dùng và dồ mỹ nghệ xuất khẩu có giá trị.

-Thế mạnh phát triển thuỷ điện: do TN có độ cao TB 400- 500 m trở lên mà từ TN, bắt nguồn nhiều sông chảy ra biển Đông
và chảy sang CPC như sông Đà Rằng, sông Đồng Nai, sông Xêxan, sông Xêrêpok... Do các sông này bắt nguồn từ độ cao lớn, nên
tạo ra trữ năng thuỷ điện lớn. Đây là vùng có trữ năng thuỷ điện lớn thứ 2 cả nước sau Tây bắc, chiếm 19% trữ năng cả nước. Vì
vậy, trên địa bàn TN và những vùng phụ cận cho phép xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện lớn và cỡ trung bình:
Thuỷ điện Ialy trên sông Xê san với công suất 700.000 kw;thuỷ điện Đrây H’Linh 12.000 kW trên sông Xêrêpok,thuỷ điện
đa nhim trên sông đa Nhim (Lâm đồng)

- Hiện nay đang chuẩn bị xây dựng 2 nhà mày thuỷ điện là Bonzon và ĐạI Ninh

- Việc đầu tư xây dựng nhiều nhà máy thuỷ điện ở TN sẽ đem lại nhiều ý nghĩa lớn : trước hết là cung cấp nguồn năng
lượng điện cho sự nghiệp công nghiệp hoá TN trong đó gắn chặt với triển vọng khai thác và chế biến quặng bô xít ở Lâm Đồng.
Đồng thời cũng là để điều tiết các nguồn nước tưới trên sông ngòi TN và tạo điều kiện giữ cân bằng hệ sinh thái và giảm sự khắc
nghiệt về thiếu nước vào mùa khô của TN.