Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Nghệ An , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 42
Số lượng câu trả lời 944
Điểm GP 168
Điểm SP 1037

Người theo dõi (234)

Quỳnh Đào
Lê Minh Nhật
Vi Yến
 thanh thùy
nguyen dam

Đang theo dõi (42)

Phùng Khánh Linh
Akai Haruma
Mai Hà Chi
Linh Chi

Câu trả lời:

I.* Tìm ý:
Em hiểu ăn quả trồng cây và uống nước nhớ nguồn là gì?
- Giải thích đạo lý ăn quả nhớ kẻ trông cây và uống nước nhớ nguồn.
Tìm những biểu hiện của đạo lý ăn quả nhớ kẻ trồng cây và uống nước nhớ nguồn.
- Tác dụng của đạo lý trong cuộc sống.
Nghị luận chứng minh
Lòng biết ơn những người đã tạo ra thành quả để mình được hưởng
II- Lập dàn bài:
a- Mở bài:
- Giới thiệu chung về truyền thống đạo lí của người Việt Nam
- Trích hai câu tục ngữ.
Đạo lý của dân tộc Việt Nam đề cao tình nghĩa thuỷ chung. Trong đó, lòng biết ơn là một trong những bài học về tình nghĩa, về cách ứng xử, cách ăn, ở mà ông bà, cha mẹ ta rất quan tâm nhắc nhở, dạy bảo con cháu. Lòng biết ơn đã được nhân dân ta đúc kết, gửi gắm vào ca dao, tục ngữ với bao lời hay, ý đẹp, tiêu biểu là câu tục ngữ "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" và "Uống nước nhớ nguồn"
b- Thân bài:
- Giải thích nghĩa đen và nghĩa bóng của câu tục ngữ.
- Từ xưa dân tộc Việt Nam ta đã luôn nhớ về cội nguồn.
+ Dẫn chứng:
. Thờ cúng tổ tiên
. Lễ hội hằng năm
Ngày nay, đạo lý ấy vẫn được phát huy
+ Dẫn chứng:
. Ngày thương binh, liệt sĩ; ngày nhà giáo VN...
. Con ngoan trò giỏi, hiếu thảo với ông bà, bố mẹ, biết ơn thầy cô giáo...
c- Kết bài:
- Khẳng định lại truyền thống đạo lý dân tộc
- Liên hệ
Hai câu tục ngữ "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" và "uống nước nhớ nguồn" đã nêu một bài học luân lý sâu sắc. Nó giáo dục chúng ta đạo lý làm người, sống có tình nghĩa. Nó nhắc nhở chúng ta về đạo lí làm con, đạo thầy trò, nghĩa vụ của người công dân với Tổ quốc. Đối với người học sinh lòng biết ơn phải được khắc sâu vào tâm hồn, phải được biểu hiện bằng những việc làm tốt đẹp hằng ngày.

Câu trả lời:

Bạn dựa vào tư liệu này nhé !

Đồng chí Lê Duẩn sinh ngày 7/4/1907 trong một gia đình thợ thủ công nghèo tại làng Hậu Kiên, xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Lớn lên chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, cuộc sống nhân dân chịu cảnh đọa đày, lao khổ bởi ách nô lệ của thực dân, phong kiến, đồng chí Lê Duẩn đã nung nấu ý chí quyết tâm đi làm cách mạng để cứu nước, cứu dân. Tham gia cách mạng từ tuổi 20 cho tới khi trút hơi thở cuối cùng. 60 năm bền bỉ phấn đấu cho lý tưởng và con đường cách mạng.

Thoát ly gia đình tham gia hoạt động cách mạng từ khi mới 20 tuổi, đồng chí đã sớm trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Xứ ủy và Trung ương Đảng; bị thực dân Pháp bắt và lưu đày trong nhiều nhà tù khét tiếng, tàn bạo. Kiên cường, bất khuất, vượt qua mọi gian khổ, hy sinh, tranh thủ thời gian học tập lý luận chính trị, tiếp cận với mọi thông tin về tình hình quốc tế, thế giới, đường lối của Quốc tế cộng sản và Trung ương Đảng. Năm 1936 ra tù đồng chí Lê Duẩn trở về quê hương truyền bá đường lối mới của Đảng, lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân tỉnh Quảng Trị đòi quyền dân sinh, dân chủ.

Vận dụng sáng tạo chủ trương của Quốc tế cộng sản và Trung ương Đảng vào thực tiễn. Đồng chí Lê Duẩn đã nhanh chóng tìm hiểu phong trào, tập hợp lực lượng, tổ chức tuyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân đoàn kết trong mặt trận dân chủ, đấu tranh đòi các quyền dân chủ, dân sinh. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí, Đảng bộ Quảng Trị nhanh chóng phục hồi. Để củng cố tổ chức Đảng đủ sức chỉ đạo phong trào, tháng 6 năm 1937, đồng chí triệu tập Hội nghị toàn tỉnh Đảng bộ, cử Ban chấp hành, bầu bí thư Tỉnh ủy, quyết định các chủ trương công tác của Đảng. Nhờ đó phong trào cách mạng Quảng Trị tiếp tục dâng cao, cơ sở Đảng phát triển rộng khắp. Từ năm 1939 tình hình thế giới có những chuyển biến mới bất lợi cho phong trào cách mạng thế giới. Là người lãnh đạo dày dạn kinh nghiệm, đồng chí Lê Duẩn đã kịp thời chỉ đạo Đảng bộ Quảng Trị chuyển hướng công tác, kịp thời bảo toàn lực lượng, giữ gìn cơ sở Đảng, bảo vệ bí mật cho Đảng. Trong lúc kẻ địch ráo riết khủng bố. Nhờ đó mà phong trào cách mạng của tỉnh Quảng Trị không bị kẻ thù dập tắt, mà còn bảo vệ an toàn cho cán bộ, tiếp tục chỉ đạo cho đến ngày tổng khởi nghĩa.

Chín năm kháng chiến, cho đến hiệp định Giơnevơ trên cương vị mới, đồng chí Lê Duẩn luôn luôn quan tâm đến phong trào cách mạng của tỉnh nhà. Tháng 10/1957 Đảng bộ Quảng Trị tổ chức hội nghị Tỉnh ủy mở rộng tại Hà Nội, để học tập Đề cương cách mạng Miền Nam, nhằm tìm ra con đường và hình thức đấu tranh thích hợp, đồng chí Lê Duẩn đã đến truyền đạt tinh thần Đề cương cách mạng Miền Nam. Hội nghị này là bước ngoặc quan trọng cho phong trào cách mạng chống Mỹ và tay sai ở tỉnh Quảng Trị, mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng DTDC ở tỉnh nhà. Trải qua 20 năm chống Mỹ và bè lũ tay sai, Quảng Trị đã được giải phóng, sau bao nhiêu năm xa quê hương đồng chí Lê Duẩn đã trở về. Đứng trên mảnh đất chứa chan ân tình đồng chí nói: "Đối với tất cả chúng ta, quê hương biết bao tình sâu nghĩa nặng! Riêng tôi, ngoài công việc chung của cả nước vẫn thường nghĩ đến tỉnh nhà và tự hỏi không biết đồng bào trong tỉnh từ ngày giải phóng đến nay sống như thế nào". (1)

Nhiều buổi nói chuyện với bà con, đồng chí luôn luôn ân cần, chỉ bảo bà con làng xóm phải đoàn kết thương nhau, giúp đỡ nhau, không như trước kia một làng mà chia bè phái, phải thực hành tốt chính sách hòa hợp, lao động sản xuất giỏi, xây dựng quê hương giàu đẹp. Đồng chí căn dặn:"Bất cứ ngành nào cũng phải có lao động, phải có tình thương, phải đi vào lẻ phải, có lẻ phải. Như vậy một người phải có 3 cái: Lao động, tình thương và lẻ phải". (2)

Vui với niềm vui tỉnh nhà từng bước đi lên, từng bước khởi sắc, thay da đổi thịt. Đứng trên bờ kênh công trình thủy nông Nam Thạch Hãn, tràn đầy xúc động, đồng chí nói: "Lần này tôi về mừng nhất là làng ta có nhiều nước và không đói nữa. Bây giờ có nước của công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, ông bà chúng ta chưa bao giờ nghĩ ruộng đất làng ta có nước đầy đủ như hiện nay. Hạnh phúc có rồi, dân ta cần cù nhất định làm nên giàu có". (3)

Cứ mỗi lần đồng chí về thăm quê là mỗi lần Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị được tiếp thêm sức mạnh mới. Phấn khởi, thi đua thực hiện bằng được những lời căn dặn của đồng chí quyết tâm xây dựng tỉnh Quảng Trị giàu đẹp, văn minh. Trên con đường đổi mới phát triển hôm nay, quê hương Quảng Trị đã mang một vóc dáng mới, phố xá mới, khắp nẻo đường làng quê cuộc sống đầm ấm yên vui, đời sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, hộ đói nghèo ngày càng giảm, nhiều công trình mới được mọc lên. Đó là kết tinh nguyện ước và những lời căn dặn của đồng chí với quê hương.

Kỷ niệm 105 năm ngày sinh Tổng bí thư Lê Duẩn, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Trị mãi mãi xứng đáng với lời căn dặn và nguyện ước của đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn, xây dựng quê hương Quảng Trị giàu đẹp, văn minh.

Câu trả lời:

Trong cuộc sống hiện tại cũng như thời xưa, vẻ đẹp bên ngoài là vốn quý, là niềm tự hào của mỗi con người. Song phẩm chất bên trong còn quý giá hơn nhiều. Trong kho tàng tục ngữ, cao dao Việt Nam có rất nhiều câu tục ngữ thể hiện điều đó. Và một tiêu biểu, điển hình, phổ biến nhất đó chính là câu tục ngữ: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.

Câu tục ngữ có hai vế, đối rất chỉnh. tác giả dân gian đã mượn những thứ gần gũi, thiết thực với đời thường để biểu lộ những tư tưởng, quan điểm của những người dân lao động. Câu tục ngữ này mượn hình ảnh “đói” và “rét” để nói lên hoàn cảnh nghèo khổ, thiếu thốn của cuộc sống bấy giờ. “Sạch” và “thơm” là cách sống trung thực, không tham lam, biết giữ gìn phẩm chất trong sạch, không sa vào tội lỗi. Hai chữ “cho” có nghĩa là giữ lấy. Hai động từ đó là hai động từ quan trọng nhất trong bài, thể hiện hành động, thói quen, những biểu lộ của người dân lao động. Phải biết giữ gìn phẩm giá, nhân cách đó chính là bài học của câu tục ngữ trên. Đó cũng chính là quan điểm sống của người dân lao động hoàn toàn trái nghịch với cách sống của giai cấp thống trị.
Thời phong kiến xưa, xã hội đầy rẫy những bất công, rối ren, giai cấp thống trị nghiệt ngã, bóc lột nhân dân ta dưới nhiều hình thức, coi thường, khinh rẻ những người dân lao động. Theo bản năng của con người, “con giun xéo lắm cũng quằn”, đến mức đường cùng thì tự nhiên phải biết chống lại bằng bất cứ hành động nào, có mấy ai nghĩ đến việc giữ gìn phẩm chất, thanh danh. Ấy vậy mà những người dân lao động, đối với họ điều đó là quan trọng nhất, là mục tiêu để hướng tới, là động lực thúc đẩy để sống. Dù có bần cùng, đói khổ đến đâu thì ý chí kiên cường của họ vẫn luôn chiến thắng, niềm tin của họ vẫn không bao giờ tàn lui. Từ xa xưa, nước ta vốn dĩ là một nước gắn liền với đồng ruộng, nhân dân ta lam lũ cùng nắng mưa, giai cấp thống thị vẫn vắt kiệt sức của họ bởi những sưu thuế nặng nề, chính sách áp bức đến tận xương tuỷ. Trong hoàn cảnh như vậy, con người mà không có lập trường thì rất dễ bị nhơ bẩn về đạo đức. Những người dân lao động chỉ biết dựa vào nhau, thốt nên lời những kinh nghiệm của cuộc sống để khuyên nhủ nhau sống sao cho khỏi hổ thẹn với trời đất, sao cho khỏi cắn rứt lương tâm, danh dự, ám ảnh bới những tội lỗi xấu xa mà mình đã gây ra.
Nói kết lại, đối với người lao động thời xưa, vật chất không có gì, họ chỉ biết sống dựa vào ý chí, niềm tin, sự nỗ lực, phấn đấu. Nhờ vào những yếu tố đó mà họ đã vượt lên được số phận, biết sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, không một sự bóc lột nào có thể tước đi được tinh thần, lý trí của họ. Điều đó đã được đúc kết qua quá trình lao động sản xuất, cô đọng được qua từng suy nghĩ của mỗi con người. Quan niệm sống ấy thật cao đẹp, nó không chỉ là kinh nghiệm mà nó còn là lời dạy dỗ, khuyên răn, chỉ bảo, áp dụng cho tất cả mọi người.