Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bà Rịa - Vũng Tàu , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 49
Số lượng câu trả lời 610
Điểm GP 87
Điểm SP 1473

Người theo dõi (318)

Đang theo dõi (10)

Won Ji Young
Isolde Moria
minh vu

Câu trả lời:

Thiên nhiên trong thơ Bác luôn dạt dào vô tận, có biết bao những bình minh tinh khôi trong thơ Bác, cũng có biết bao nhiêu bóng chiều đã ngả xuống với hình ảnh của những cánh chim nghiêng. Và đặc biệt không thể nào quên nhắc đến ánh trăng trong thơ Bác. Tiêu biểu nhất phải kể đến hai bài thơ cảnh khuya và rằm tháng riêng. Có thể nói qua hai bài thơ ấy hình ảnh thiên nhiên hiện lên đẹp vô cùng.

Trước hết nó là một cảnh khuya với đêm trăng cùng tiếng suối nghe sao êm tai ngọt ngào trong bài cảnh khuya:

“Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

Bức tranh thiên nhiên có cả âm thanh, có cả màu sắc hình ảnh đường nét, có cả những tâm tư tình cảm có thể gọi là họa tình. Âm thanh ấy chính là tiếng suối ngọt ngào vang vọng cao vút như tiếng hát của người con gái ở đằng xa hát vọng lại như thầm thì dủ dỉ. Màu sắc kia chính là màu của ánh trăng vàng lung linh tỏ, nó có sức chiếu in cái tán cây kia xuống mặt đất như những bông hoa lớn. Tâm trạng của Người khi ấy thì đang thao thức không thể ngủ được vì lo nỗi nước nhà. Nếu như không lo thì cảnh tượng yên bình kia cũng không mấy chốc mà thành ra cái bãi chiến trường. Bốn câu thơ mang đến một bức tranh đêm khuya dịu dàng nhẹ nhàng, ánh trăng kia là ánh trăng của hòa bình yên ổn, tiếng hát kia như tiếng hát của ân tình thiết tha.

Thế còn đến với Nguyên Tiêu ta lại thấy được một bức tranh đẹp không kém hơn thế nữa nó còn ngập tràn ánh trăng vàng nữa:

“Rằm xuân lồng lộng trăng soi, 
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân. 
Giữa dòng bàn bạc việc quân, 
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền. ”

Cũng là nước là trăng đấy nhưng đến với bài thơ này ta thấy được hình ảnh thiên nhiên lung linh huyền ảo hơn. Nó không có những âm thanh của tiếng suối, sông, trời, nước đều nhuốm màu trăng và đó chính là màu xuân. Ánh trăng ấy còn ngân đầy thuyền nữa. Khá hay khi bác sử dụng từ ‘ngân” trong câu thơ cuối. Hình ảnh ánh trăng vàng soi tỏa hết cả thuyền mà khiến cho người ta thấy rằng trăng như tỏa bóng mình trên tất cả không chỉ sông nước, bầu trời mà còn ở trên thuyền nữa. Và trong bức tranh thiên nhiên ấy thì chúng ta cũng bắt gặp công việc của người chiến sĩ cộng sản ấy.

Như vậy có thể thấy rằng thiên nhiên trong thơ Bác qua hai bài thơ này đều tràn ngập ánh trăng và cảnh sông nước trong những cánh rừng cũng là nơi làm việc của Người và Đảng. Cả hai bức tranh đều gắn liền với những công việc tâm hồn nỗi lòng người chiến sĩ cách mạng, lo lắng cho vận mệnh của quốc gia dân tộc, bàn bạn việc quân.

Qua đây ta thấy hai bài thơ khác nhau nhưng lại có những nét tương đồng về thiên nhiên cũng như tâm trạng của tác giả. Có thể nói tất cả những điều đó đều giúp chúng ta thấy được vẻ đẹp tâm hồn bác. Đó chính là lòng yêu thiên nhiên vô cùng và nỗi thương dân, yêu quê hương đất nước của Hồ Chí Minh.

 

 

Câu trả lời:

1. Khái quát:

Trưng bày tem 1 trang là thể loại trưng bày mới được phát minh trong những năm gần đây, đã được trưng bày thử nghiệm tại Nhật Bản và Trung Quốc. Thể loại trưng bày này đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa chơi tem của đông đảo quần chúng. 

Thực hiện bộ trưng bày tem 1 trang không tốn nhiều thời gian và tiền bạc nên phù hợp với những người mới sưu tập tem, nhất là thanh thiếu niên.

Mỗi bộ trưng bày tem 1 trang là một đề tài nhỏ được trưng bày trên một trang trưng bày tiêu chuẩn có khuôn khổ 23 x 29 (cm); sử dụng số lượng tem và vật phẩm bưu chính hạn hẹp, bám sát đề tài. 

Mỗi bộ trưng bày tem 1 trang là một tác phẩm tem chơi hoàn chỉnh truyền tải ý tưởng của tác giả một cách cô đọng, mang lại sự hứng thú cho người xem.

Mục đích của việc trưng bày tem 1 trang nhằm thu hút đông đảo người sưu tập tem tham gia triển lãm, giúp người sưu tập tem từ chỗ biết thực hiện bộ trưng bày 1 trang tiến tới thực hiện được bộ trưng bày nhiều trang (1 khung hoặc nhiều khung). Các nhà sưu tập tem lâu năm có thể thực hiện bộ trưng bày tem 1 trang để trưng bày những đề tài rất sâu bằng tem và vật phẩm bưu chính quý hiếm. 

Bộ trưng bày tem 1 trang có thể trình bày theo nhiều dạng: sưu tập truyền thống, sưu tập lịch sử bưu chính, sưu tập chuyên đề, sưu tập mở, sưu tập bưu thiếp cực đại (thiếp maxima)…

2. Chọn đề tài: 

Chọn đề tài nhỏ đến mức không thể nhỏ hơn. Chọn đề tài nhỏ càng độc lập với đề tài lớn càng tốt. Tên đề tài cần ngắn gọn, dễ hiểu, bao hàm đủ nội dung sẽ trình bày. 

Ví dụ: Bưu chính Việt Nam phát hành nhiều tem danh nhân nhưng chỉ có 1 tem về nhà thơ Tú Xương, có thể chọn đề tài “Nhà thơ Tú Xương” để thực hiện bộ trưng bày tem 1 trang. Qua ví dụ này chúng ta thấy rằng: đề tài “Nhà thơ Tú Xương” là đề tài nhỏ, độc lập với đề tài lớn “Danh nhân Việt Nam”.

3. Thu thập tem và vật phẩm bưu chính:

Vì bộ trưng bày tem 1 trang có diện tích trưng bày hạn hẹp nên phải chọn tem và vật phẩm bưu chính thật sát với đề tài, tránh sử dụng trùng lập tem và vật phẩm bưu chính. 

Những loại tem có thể sử dụng trong bộ trưng bày tem 1 trang: tem sống, tem chết (chất lượng tốt), tem không răng, tem specimen, tem dị bản…

Những loại vật phẩm bưu chính có thể sử dụng trong bộ trưng bày tem 1 trang: phong bì ngày phát hành đầu tiên (FDC), bưu thiếp cực đại (thiếp maxima), bưu giản (aerogramme), phong bì thực gửi, phong bì kỷ niệm, dấu bưu điện, dấu kỷ niệm…

Nếu sử dụng tem và vật phẩm bưu chính quý hiếm sẽ làm cho bộ trưng bày tem 1 trang có chiều sâu về kiến thức sưu tập. 

4. Dàn dựng:

Trình bày trên 1 trang trưng bày tiêu chuẩn có kích thước 23 x 29 (cm), bỏ trang vào túi nylon dán kín để bảo vệ tem và vật phẩm bưu chính. 

Trên đầu trang là tên đề tài in chữ to, đậm nét. Tiếp đến là tên dạng trưng bày, ví dụ: “Trưng bày tem 1 trang truyền thống” hoặc “Trưng bày tem 1 trang chuyên đề”. Tiếp đến là tên tác giả. 

Căn cứ vào ý tưởng đã có, tác giả sắp xếp tem và vật phẩm bưu chính lên trang cho cân đối, hợp lý, nhớ dành chỗ cho lời thuyết minh. Nếu phải xếp chồng những vật phẩm bưu chính lên nhau vẫn phải đảm bảo tính thẩm mỹ, không che lấp thông tin cần thiết.

5. Thuyết minh

Lời thuyết minh cần ngắn gọn, phối hợp hài hòa trong bộ trưng bày. Tuy nhiên, tránh thuyết minh quá sơ lược. Bộ trưng bày tem 1 trang là một tác phẩm tem chơi hoàn chỉnh để người xem thưởng thức nên lời thuyết minh phải nói rõ những hiểu biết cần thiết, không nên cho rằng những gì tác giả biết thì người xem cũng phải biết. Lời thuyết minh phải thể hiện sự am hiểu đề tài và kiến thức sưu tập của tác giả.

Ngoài lời thuyết minh, có thể viết chú thích dưới tem hay vật phẩm bưu chính nếu thấy cần làm rõ hơn các chi tiết quan trọng của tem hay vật phẩm bưu chính, hoặc nhấn mạnh tính độc đáo và quý hiếm của tem hay vật phẩm bưu chính.

Cỡ chữ lời thuyết minh cần lớn hơn cỡ chữ lời chú thích. Có thể in nghiêng lời chú thích để phân biệt với lời thuyết minh.

Câu trả lời:

“Áo đỏ em đi giữa phố đông

Cây xanh như cũng ánh theo hồng

Em đi lửa cháy trong bao mắt

Anh đứng thành tro em biết không?”

Câu thơ đầu tiên “Áo đỏ em đi giữa phố đông” như một lời giới thiệu nhân vật, một cô gái mặc áo đỏ trong môi trường là “giữa phố đông”. Đề tài của bài thơ được tập trung ngay từ câu đầu tiên là “áo đỏ”. Tuy nhiên, mạch chuyển sang câu thơ thứ hai đã được mở rộng thêm sang phía thiên nhiên với “Cây xanh như cũng ánh theo hồng”. Cây xanh ở đây đại diện cho thiên nhiên, và cây vốn dĩ có màu xanh, nhưng rồi khi cô gái mặc áo đỏ đi qua, ta thấy, cái cây ấy, cũng là cái thiên nhiên ấy đã bị chi phối bởi màu áo đỏ ra sao. Đến câu thơ thứ ba, ta thấy “tầm ảnh hưởng” của cái màu áo đỏ ấy đã tiếp tục lan rộng từ thiên nhiên tới con người nói chung: “Em đi lửa cháy trong bao mắt”. Ở đây, ta cần lưu ý thêm một chút về bối cảnh ra đời của bài thơ Áo đỏ. Bài thơ này ra đời sau chiến tranh, khi đất nước đã hoàn toàn thống nhất, nhưng tất cả đều còn đang rất ngổn ngang, bề bộn. Và trên phố Khâm Thiên, trong một trưa ngày thường, giữa những màu áo xanh cỏ úa của quần áo bộ đội, màu xanh của quần áo người thợ và màu ka ki của quần áo cán bộ, bỗng nhiên có một cô áo đỏ xuất hiện, và điều đó không thể không gây chú ý với tất cả mọi người. Và và màu đỏ cũng rất gần với màu lửa nên “em đi lửa cháy trong bao mắt” là vì thế. Cho đến cuối cùng, tốc độ câu thơ lại chuyển tiếp tới một nấc nữa là chuyển sang tâm trạng tác giả. Người viết đã dụng ý miêu tả sự chuyển biến cảm xúc với một ấn tượng về cô áo đỏ từ hàng cây (thiên nhiên) đến con người nói chung, và sau cùng là đến tác giả: “Anh đứng thành tro em biết không?” Ở đây, có thể thấy, bên cạnh một mạch thơ xuyên suốt, người làm thơ tứ tuyệt còn phải dụng công để tạo nên một cái tứ đặc trưng, cô đọng trong bài thơ. Nhà thơ Vũ Quần Phương đã nhìn ra cái tứ đó từ cái mạch tăng tiến của độ ảnh hưởng. Từ hình ảnh của cô gái mặc áo đỏ đi giữa phố đông, hàng cây thì “ánh theo hồng”, những người khác thì “lửa cháy trong mắt”, còn tác giả, cái tôi trữ tình phải ở một cấp độ cao hơn nữa: “thành tro”. Chính các tầng bậc trong cấp độ “ảnh hưởng” của cảm xúc đó đã làm nên sự thú vị của bài thơ. Tuy nhiên, các tầng bậc này cũng phải được xây dựng trên một sự tương hợp về hình ảnh. Phải là áo đỏ thì mới có sự liên hệ với ngọn lửa, tiếp đó mới có “ánh”, mới có “lửa cháy” và sau cùng, mới có “thành tro”.