Bếp lửa- Bằng Việt

Nội dung lý thuyết

Các phiên bản khác

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Bằng Việt (1941)

- Tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất - Hà Nội.

- Ông thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Ông là một luật sư.

- Thơ của Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỷ niệm, ước mơ của tuổi trẻ, gần gũi với người đọc trẻ tuổi, bạn đọc trong nhà trường.

2. Tác phẩm

a. Xuất xứ

Bài thơ Bếp lửa được viết năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang du học ở Liên Xô và mới bắt đầu đến với thơ.

b. Bố cục

Bài thơ chia làm 4 phần:

- Ba dòng đầu (khổ thứ nhất): Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà.

- Bốn khổ tiếp theo ("Lên bốn tuổi... chứa niềm tin dai dẳnh"): Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

- Khổ thứ sáu ("Lận đận đời bà...thiêng liêng - bếp lửa"): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

- Khổ cuối: Người cháu đã trưởng thành, đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà.

@91543@@91544@

II. Đọc - hiểu văn bản

1. Khổ thơ 1: Những hồi tưởng về bà và tình bà cháu

- Sự hồi tưởng được bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa:

       Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

- "Bếp lửa chờn vờn sương sớm" là một hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình từ bao đời. "Ấp iu" gợi nhớ đến bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm lửa, lại rất chính xác với mỗi công việc nhóm bếp cụ thể.

@91545@

2. Bốn khổ thơ tiếp theo: Kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa

- "Lên bốn tuổi", "Tám năm ròng", "Giặc đốt làng",... Đó là thời điểm từ bé đến lớn, ký ức về nỗi cơ cực, đói nghèo.

 - Từ đó, bài thơ gợi lại cả một thời ấu thơ bên người bà. Tuổi thơ ấy nhiều gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

  Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy

- Tuổi thơ ấy có bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945, có mối lo giặc tàn phá xóm làng "giặc đốt làn cháy tàn cháy rụi", có những hoàn cảnh chung của nhiều gia đình Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp: Mẹ và cha đi công tác bận không về, cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà, sớm phải có ý thức tự lập, sớm phải lo toan.

- Kỉ niệm về bà và những năm tháng tuổi thơ luôn gắn bó với hình ảnh bếp lửa: "Chỉ nhớ khói hun nhoèn mắt cháu - Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay", "Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen". Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà ("bà bảo cháu nghe", "bà dạy cháu làm", "bà chăm cháu học").

- Bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu lại gợi thêm một liên tưởng khác - sự xuất hiện của tiếng chim tu hú. Tiếng chim quen thuộc của những cánh đồng quê mỗi độ vào hè, tiếng chim như giục giã, như khắc khoải một điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong.

- Tiếng chim còn gợi ra tình cảnh vắng vẻ và nhớ mong của hai bà cháu.

@91546@@91547@

3. Khổ thơ thứ sáu: Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà

- Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ và bà, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà. Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa, có thể nói bà là người nhóm lửa, lại cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng trong mỗi gia đình.

- Sự tần tảo, đức hi sinh chăm lo cho mọi người của bà được tác giả thể hiện trong một chi tiết rất tiêu biểu:

       Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

- Bếp lửa tay bà nhóm lên mỗi sớm mai là nhóm lên niềm yêu thương, niềm vui sưởi ấm, san sẻ và còn "Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ".

@91548@

4. Khổ thơ cuối: Người cháu đã trưởng thành, đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà

- Đứa cháu năm xưa giờ đã khôn lớn, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những khung cảnh rộng lớn, những niềm vui rộng mở ở chân trời xa: "Có ngọn khói trăm tàu - Có ngọn lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả" nhưng vẫn không quên ngọ lửa của bà, tấm lòng đùm bọc ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài. Người cháu yêu bà, nhờ hiểu bà mà thêm hiểu dân tộc mình, nhân dân mình.

- Hình ảnh bà luôn gắn liền với hình ảnh bếp lửa. Trong bài thơ, có tới mười lần tác giả nhắc tới bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, người phụ nữa Việt Nam muôn thưở với vẻ đẹp tảo tần, nhẫn nại và đầy yêu thương. Bếp lửa là tình bà ấm nóng, bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với những khó khăn, gian khổ đời bà. Người cháu dù ở có nơi đâu cũng luôn nhớ về bà, nhớ về bếp lửa bà nhen. Bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm lên niềm vui, sự sống, niềm yêu thương chi chút dành cho con cháu và mọi người.

III. Tổng kết

1. Nghệ thuật

- Sáng tạo: hình ảnh thơ vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

- Biểu cảm, miêu tả, tự sự, bình luận.

- Giọng điệu phù hợp với cảm xúc hồi tưởng suy ngẫm.

2. Nội dung

Bài thơ nói về những kỷ niệm rất giản dị gắn bó sâu sắc, gần gũi trong đời sống, tình cảm của con người, những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người suốt hành trình dài rộng của cuộc đời, tình yêu thương, biết ơn với bà chính là biểu hiện cụ thể của tình yêu thương, sự gắn bó với gia đình, với quê hương và đó cũng là sự khởi đầu của tình người, tình yêu đất nước.

@91549@@91551@

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN