Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 12
Số lượng câu trả lời 1292
Điểm GP 145
Điểm SP 869

Người theo dõi (79)

khánh my
Luong Duong
Cao ngocduy Cao
mattroicuabe
kayuha

Đang theo dõi (1)

phuongenglish

Câu trả lời:

Bài làm:

“Trâu ơi ta bảo trâu này

Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta.”

Vâng, chúng tôi chính là những anh trâu, chị trâu bước ra từ những câu ca dao trên. Không biết từ bao giờ mà người nông dân đã quí và gọi loài trâu chúng tôi một cách tha thiết, trìu mến đến như thế. Hình ảnh của những chú trâu như tôi đây đã trở nên quen thuộc với xóm làng, quê hương người Việt từ bao đời nay.

Chúng tôi là động vật thuộc họ nhà Bò, là lớp thú có vú và là một loài gia súc có ích. Chúng tôi được người nông dân nâng niu, chăm sóc bởi chính đặc điểm “trời cho” của loài trâu chúng tôi. Đó là một thân hình lực lưỡng, bốn chân chắc chắn như bốn cái cột nhà nhỏ, vai u những bắp thịt bởi trời sinh ra chúng tôi là để kéo cày đó các bạn. Ngoài kéo cày, chúng tôi có thể kéo xe, kéo gỗ giúp con người…Thân hình chúng tôi vạm vỡ, nặng chừng 350 – 700 ki lô gam. Bao toàn cơ thể chúng tôi là một bộ lông màu xám hoặc xám đen, cũng có khi màu trắng, dù có mọc dày đến mấy thì chiếc áo choàng lông của chúng tôi cũng vẫn bị mai một đi bởi thời gian và sự cọ xát rất phong trần vì công việc trên đồng ruộng. Thấp thoáng trong bộ áo đẹp đẽ của chúng tôi là một làn da căng bóng mỡ. Phía sau thân hình tôi là cái duôi ngoe nguẩy theo nhịp bước chân, thỉnh thoảng chúng tôi lại dùng cái đuôi này quất mạnh vào lưng để xua ruồi, đuổi muỗi. Người nông dân có thể nhận biết sự lành, dữ ở loài trâu chúng tôi một phần nhờ vào đặc điểm của đôi sừng trên đầu chúng tôi. Đôi sừng cũng góp phần làm đẹp cho họ hàng nhà trâu chúng tôi đấy, mỗi chúng tôi đều có một đôi sừng dài, uốn cong như hình lưỡi liềm trên đỉnh đầu, giúp chúng tôi làm dáng và chống lại kẻ thù. Chúng tôi có đôi mắt to, long lanh như những viên bi chai, có khi hiền từ nhưng cũng có khi hung dữ, cần sự thuần phục của con người. Đến 3 tuổi, chúng tôi có thể đẻ lứa đầu, một đời trâu cái chúng tôi có thể cho 5 đến 6 nghé con. Nghé sơ sinh nặng 22 đến 25 ki lô gam.

Bước chân đến mỗi cánh đồng hay thôn xóm, làng bản Việt Nam, bạn sẽ thấy chúng tôi hiện ra thật thân thuộc như một dấu ấn báo hiệu xứ sở quê hương. Vào những ngày nông nhàn tháng 3 hay tháng 8, giữa biển lúa xanh rờn, trên cánh đồng quê, bạn sẽ thấy từng đàn trâu chúng tôi tung tăng gặm cỏ, thỉnh thoảng còn ngóng đầu ngơ ngác lắng nghe tiếng sao du dương của các chú bé chăn trâu.

“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu

Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.”

Chúng tôi gắn bó thân thiết với người nông dân tần tảo sớm khuya như thế đấy. Dù là giữa buổi trưa hè mồ hôi thánh thót hay trong cái rét buốt xương thì chúng tôi vẫn cần cù nhẫn nại, mải miết làm việc cùng người nông dân để làm ra hạt lúa, hạt gạo. Không chỉ giúp người nông dân kéo cày, chúng tôi còn có thể kéo xe, kéo gỗ. Khả năng kéo xe của chúng tôi rất tốt. Ở đường đất tốt, chúng tôi có thể kéo với tải trọng 700 – 800 kilôgam và trên đường nhựa với bánh xe hơi có thể kéo trên một tấn. Ở đường đồi núi, khi cần kéo gỗ về xuôi ai có thể thay thế được chúng tôi? Chính vì thế người nông dân vẫn coi chúng tôi là “đầu cơ nghiệp” của họ.

Đến mỗi làng quê Việt, bạn cũng có thể được thưởng thức món thịt trâu xào sả ớt hay nấu với lá lốt, lá trưng. Thịt trâu chúng tôi có thể chế biến được rất nhiều món ăn ngon, hấp dẫn. Đặc sản đấy! Chúng tôi cũng có thể cung cấp sữa cho con người. Mỗi con trâu chúng tôi có thể cho 400 – 500 lít sữa trong một chu kì vắt Da trâu chúng tôi tuy không tham gia vào việc làm ra những sản phẩm độc đáo như giày dép, túi xách như một số loài da khác vì đặc điểm da chúng tôi cứng nhưng có thể làm mặt trống, những chiếc trống gắn bó thân thiết với học sinh, với nhà trường và các lễ hội.

Ừ, mà nói đến lễ hội các bạn có biết đến câu ca dao:

“Dù ai đi đâu về đâu

Nhớ ngày lễ hội chọi trâu mà về.”

Là câu ca nói đến lễ hội “Chọi trâu Đồ Sơn” đấy các bạn ạ. Trong những khoảng khắc đó, chúng tôi tự hào trở thành niềm vui và vật thiêng của con người dâng lên tổ tiên.

Như vậy, chúng tôi không chỉ gắn bó với người nông dân trên đồng ruộng mà còn gắn bó với họ trong đời sống tinh thần của họ. Đã từ lâu, chúng tôi bước vào ca dao, dân ca gần gũi, thân thiết với người nông dân như các bạn đã thấy đó. Chúng tôi còn bước vào tranh dân gian Đông Hồ cùng với hình ảnh của những chú bé để tóc ba chỏm thổi sáo trên lưng. Tuổi thơ nông thôn Việt Nam từ bao đời nay đã thân thuộc với chúng tôi như những người bạn.

“Thưở còn thơ ngày hai buổi đến trường,

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ.

Ai bảo chăn trâu là khổ

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.”

Cứ như thế chúng tôi đi vào thơ ca, nhạc họa và đặc biệt các bạn có biết không, chúng tôi đã trở thành linh vật của Seagame 22 tổ chức tại Việt Nam. Hình ảnh những chú Trâu vàng chúng tôi đã được cả thế giới biết đến với biết bao tự hào đấy các bạn ạ.

Biết bao thế kỉ đã trôi qua, có lẽ từ khi nền văn minh lúa nước của người Việt khởi nguồn thì loài trâu chúng tôi cũng đã trở thành báu vật của người nông dân và trên nền bức tranh thiên nhiên của làng quê Việt, bên những cánh đồng xanh tốt, thẳng cánh cò bay, dưới lũy tre làng luôn có hình ảnh quen thuộc của chúng tôi hiện diện.

Ngày nay, khoa học kĩ thuật đã phát triển vượt bậc, máy cày, máy kéo trở nên quen thụôc trên mỗi cánh đồng, làng quê và chắc các bạn sẽ ít gặp lại hình ảnh “con trâu đi trước, cái cày theo sau”. Nhưng chúng tôi vẫn tin tưởng rằng tình cảm của những người nông dân đối với chúng tôi cũng không vì thế mà thay đổi và chúng tôi vẫn luôn có ích cho họ.

Câu trả lời:

Văn học trung đại Việt Nam trải qua mười hai thế kỉ từ thế kỉ Xuân Hương đến hết thế kỉ XIX. Đây làthời kì dân tộc ta đã thoát khỏi ách thống trị nặng nề của phong kiến phương Bắc hơn một ngàn năm.Nền văn học trung đại Việt Nam gắn liền với quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của dântộc. Về nội dung văn học thời kỳ này mang hai đặc điểm lớn đó là: Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo.
Cảm hứng yêu nước và cảm hứng nhân đạo thực ra không hoàn toàn tách biệt nhau. Bởi yêu nước cũng là phương diện cơ bản của nhân đạo.Tuy vậy cảm hứng nhân đạo cũng có những đặc điểm riêng. Nó bao gồm những nguyên tắc đạo lílàm người, những thái độ đối xử tốt lành trong các mối quan hệ giữa con người với nhau, những khát vọng sống, khát vọng về hạnh phúc. Đó còn là tấm lòng cảm thương cho mọi kiếp người đau khổ,đặc biệt là với trẻ em, với phụ nữ và những người lương thiện bị hãm hại, những người hồng nhanmà bạc mệnh, những người tài hoa mà lận đận…Những nội dung nhân đạo đó đã được thể hiện ởtrong toàn bộ văn học trung đại, những biểu hiện tập trung nhất là ở trong các tác phẩm văn học nửasau thế kỉ XVIII và nửa đầu thế kỉ XIX, đặc biệt là trong những tác phẩm thơ.
Nội dung cảm hứng nhân đạo của văn học trung đại có ảnh hưởng sâu sắc từ tư tưởng từ bi bác áicủa đạo phật và học thuyết nhân nghĩa của đạo Nho.
Trong thơ trung đại Việt Nam có thể kể ra rất nhiều những tác phẩm mang nội dung nhân đạo như:Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của NguyễnGia Thiều, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn ĐìnhChiểu,...
Trong Bình ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đó là tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với tư tưởngyêu nước và độc lập tự do của Tổ quốc:
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
Nhà nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Trước hết đó là tấm lòng cảm thông của tác giả dành cho những con người nhỏ bé bất hạnh trong xã hội đã bị bọn giặc ngoại xâm đàn áp dã man:
Nướng dân đen lên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.
Ở Truyện Kiều của Nguyễn Du, Cung oán ngâm khúc của Nguyền Gia Thiều đó là việc lên án chế độphong kiến chà đạp lên quyền sống cảu người phụ nữ, lên những số phận tài hoa. Xã hội đó đã tướcđoạt đi những quyền sống thiêng liêng mà lẽ ra con người phải có. Đặc biệt các tác giả nói lên tiếngnói bênh vực người phụ nữ những người chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người mà các tác giả còn cất lên tiếngnói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đoạt đi những quyền sống thiêngliêng mà lẽ ra con người phải có. Đặc biệt các tác giả nói lên tiếng nói bênh vực người phụ nữ nhữngngười chịu nhiều thiệt thòi trong xã hội.
Không chỉ lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người mà các tác giả còn cất lên tiếngnói nhân đạo phản đối những cuộc chiến tranh phi nghĩa đã cướp đi biết bao nhiêu cảnh sống yênvui, chia lìa bao nhiêu đôi lứa. Qua lời của người chinh phụ trong tác phẩm Chinh phụ ngâm - ĐặngTrần Côn muốn lên án cuộc chiến tranh phong kiến phi nghĩa đó là nỗi nhớ người chồng nơi chiến trường gian khổ.
Buồn rầu nói chẳng nên lời
Hoa đèn kia với bóng người khá thương.
Gà eo éc gáy sương năm trống
Hòe phất phơ rủ bóng bốn bên
Khắc giờ đằng đẵng như niên
Nỗi sầu dằng dặc tựa miền biển xa.
Những cuộc chiến tranh này thực chất chỉ là việc tranh quyền đoạt lợi của các tập đoàn phong kiếnvà phủ lên nó là một bầu trời đầy tang thương. Thế lực đồng tiền cũng đã phủ mờ đi những néttruyền thống tốt đẹp của xã hội đó là với trường hợp nàng Kiều. Trong xã hội trung đại, thế lực đồngtiền cũng rất đáng lên án vì nó đã vùi lấp và nhấn chìm đi biết bao những con người tài hoa, những con người có khát vọng hoài bão lớn muốn đem sức lực nhỏ bé của mình cống hiến cho sự nghiệpcủa dân tộc.
Văn học trung đại đã chứng minh cho tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộc Việt Nam. Đó là mộtdân tộc có những truyền thống tốt đẹp. Quay trở lại với bài Đại cáo bình Ngô sau khi đánh thắngquân xâm lược nhà Minh, quân và dân ta đã mở đường hiếu sinh cho kẻ thù chứ không phải đuổicùng giết tận, việc làm nhân đạo đó chẳng những đã thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộcmà còn thể hiện niềm khát vọng được sống trong hòa bình của nhân dân.
Nhìn chung cảm hứng nhân đạo trong thơ trung đại chủ yếu được thể hiện qua những nét chủ yếu sau:
Trước hết đó là tiếng nói của tác giả, đó là tình cảm của tác giả dành cho những con người nhỏ béchịu nhiều thệit thòi trong xã hội qua đó mà đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho họ, có được tìnhcảm như vậy, các tác giả thơ thời kì này mới viết được những dòng thơ, trang thơ xúc động đến nhưthế.
Thơ trung đại còn thể hiện ở tiếng nói bênh vực giữa con người với con người, đề cao tình bạn, tìnhanh em, tình cha con, thể hiện mong muốn được sống trong hòa bình.
Thơ trung đại đã thể hiện bước đi vững chắc của mình trong hơn mười thế kỉ, đó là sự tiếp nối bướcđi của nền văn học dân gian. Tuy văn học dân gian thời kì này vẫn phát triển nhưng dấu ấn khôngcòn như trước. Thơ trung đại đã thể hiện những truyền thống tốt đẹp của dân tộc đó là chủ nghĩa yêunước và tinh thần nhân đạo qua đó mà làm tiền đề cho sự phát triển văn học các thời kì tiếp theo.