Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Lào Cai , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 95
Số lượng câu trả lời 228
Điểm GP 16
Điểm SP 209

Người theo dõi (42)

Vũ Kiều
Niệm An
jnfjnejf
Wendy

Đang theo dõi (2)

Wendy
Tạ Quang Minh

Câu trả lời:

cái này nên tra google ý,hoặc lên youtube

/ Cách 1

Cach lam goi ca me khoai khau cua vung thon da - Anh 1

Nguyên liệu cần có cho món ăn này:

+ 1 con cá mè to khoảng 4-5kg

+ 1 con cá chép đực 0,5kg

+ Riềng, nghệ

+ Cà chua

+ Hành

+ Gia vị các loại: Mắm, muối, bột nêm, dầu ăn tiêu…

+ Thính

+ Rượu

+ Các loại rau ăn kèm: lá mơ, lá ổi, diếp cá, ngò tàu, lá lộc vừng, lá sung, lá đinh lăng, vài quả sung

Cách làm gỏi cá mè như sau:

Bước 1:

- Cá mè sau khi làm sạch ta lọc lấy phần thịt hai bên thăn cá.

- Thái cá thành miếng mỏng theo chiều vát vừa ăn.

Bước 2: Cho cá mè đã thái miếng vào âu cùng với gừng giã nhỏ và chút rượu khoảng 45-50 độ cùng chút tiêu, đảo đều, đậy kín rồi ướp khoảng 40 phút.

Bước 3: Vớt cá trong âu ra cho ráo nước, khi cá khô bớt thì tẩm thính vào cá, xếp ra đĩa.

Bước 4: Cá chép đực sau khi làm sạch thì xắt khúc, cho riềng, nghệ, cà chua, bột ngọt vào ướp, rắc thêm tiêu và hành sau đó đun lửa liu riu.

Bước 5:

- Cá chín, ta vớt ra, bóc phần thịt, bỏ xương.

- Xay nhỏ thịt cá rồi cho vào nồi đun đến khi sôi thì cho lạc rang giã nhỏ vào trộn thành dung dịch sánh sền sệt là ta đã chuẩn bị xong nước chấm cho món ăn.

Bước 6: Chuẩn bị các loại rau ăn kèm: lá mơ, lá ổi, diếp cá, ngò tàu, lá lộc vừng, lá sung, lá đinh lăng, vài quả sung xanh để ăn kèm.

Bước 7: Bày đĩa cá đã ướp thính, nước chấm, các loại rau ăn kèm, bánh đa nem (bánh tráng) là món ăn đã sẵn sàng cho bạn thưởng thức.

Khi ăn, ta cuốn hết các nguyện liệu vào miếng bánh đa nem, chấm vào thứ nước chấm siêu đặc biệt, nhai thật từ tốn để cảm nhận hết vị ngọt của cá, vị bùi của lạc rang, cả vị thơm nồng béo ngậy.

2/ Cách 2

Cach lam goi ca me khoai khau cua vung thon da - Anh 2

Cách làm gỏi cá mè này cũng không kém phần đặc sắc.

Nguyên liệu cần chuẩn bị bao gồm:

+ Cá chép hay cá mè

+ Riềng già

+ Nước chấm

+ Lạc rang

+ Bánh đa nướng

+ Rau sống: lá mơ, lá đinh lăng, rau giấp cá, đọt sung, búp dâu, rau thơm, rau răm, rau mùi…

Cách làm như sau:

- Cá làm sạch, lọc lấy thịt ở hai bên lườn cá, cắt lát mỏng. Củ riềng giã vụn, ướp cho cá khỏi tanh.

- Ruột cá làm sạch, băm vụn với xương cá.

- Phi hành mỡ rồi cho xương cá băm vụn vào xào sơ. Hòa với nước giấm (nếu muốn có nước chấm chua) hay với mật mía (nếu muốn có nước chấm ngọt). Nếu không thích thì dùng mắm tôm vắt chanh hay mắm nêm.

- Ăn cá với rau sống và bánh đa nướng. Ăn món này không thể thiếu lá đinh lăng hay rau diếp cá.

3/ Ăn gỏi cá tốt như thế nào?

Cach lam goi ca me khoai khau cua vung thon da - Anh 3

Mỗi nguyên liệu có trong món ăn đều có một công dụng riêng trong việc bồi bổ sức khỏe.

- Cá mè có vị ngọt, tính ấm, không độc. Cá mè giúp điều hòa vệ khí, bổ trung khí, làm mát phổi.

- Cá chép có vị ngọt, tính bình, không độc. Cá chép có tác dụng hạ khí, tiêu thũng, làm tan máu ứ, trị ho đàm, an thần.

- Riềng làm ấm tỳ vị, tiêu thực. Riềng trị đầy bụng, ợ hơi, nôn mửa, giải độc.

- Lá mơ có tính giải độc, thanh nhiệt, trị sôi bụng và ăn không tiêu.

- Rau diếp cá có tính tán nhiệt, tiêu thực. Rau diếp cá làm cá hết tanh. Món này dùng cá sống nên rất cần rau diếp cá.

- Lá đinh lăng còn gọi là “lá gỏi cá”. Đây là loại đinh lăng lá nhỏ. Lá đinh lăng có tính giải nhiệt, thông tiểu, tiêu thực.

Ngoài ra, các rau sống khác thay đổi tùy theo địa phương, tuỳ mùa và thường là các cây có sẵn trong vườn. Các rau sống có thể phân loại nhu sau:

- Khử mùi tanh: riềng, rau giấp cá, lá đinh lăng

- Làm ấm bụng: húng quế, tía tô, gừng

- Tiêu thực: hành, tỏi, tiêu, sả.

- Giải độc: lá mơ, giá sống, khế

- Chất chát: chuối xanh, đọt xoài

- Chống khát: củ đậu, dưa chuột, xà lách

Tuy là món cá sống, nhưng nhờ các món rau mà cá không tanh, ăn vào không đau bụng.

đây là mình chỉ viết sơ thui nhé

Câu trả lời:

là phong trào đấu tranh đòi quyền độc lập dân tộc và bảo vệ độc lập dân tộc của các nước thuộc địa trên thế giới trong thế kỷ 20, chủ yếu từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2 năm 1945.

Trước Thế Chiến thứ 2, đa số các nước kém phát triển trên thế giới là thuộc địa của các nước giàu có. Các nước đế quốc đã ra sức bóc lột tài nguyên, nhân lực vật lực của các nước thuộc địa, gây mâu thuẫn gay gắt giữa người dân thuộc địa và chính phủ nước chính quốc. Xuất hiện các phong trào đòi quyền độc lập dân tộc (trở thành nước độc lập, tự do, không bị nước khác áp đặt quyền cai trị), nhưng đa số bị dập tắt do các nguyên nhân khác nhau.

Sau 1945, chủ nghĩa thực dân cũ bước đầu bị sụp đổ. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 tại Palais de Chaillot ở Paris, Pháp, mang đến tiếng nói cho các dân tộc bị áp bức. Cách mạng giải phóng dân tộc thành công tại một số nước tiên phong như Việt Nam lan ra các nước khác trên thế giới. Phong trào giải phóng dân tộc bắt đầu diễn ra sôi nổi mạnh mẽ và rộng lớn ở Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Từ 1954 – 1960, hệ thống thuộc địa tan vỡ nhanh chóng, sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào lan rộng sang Châu Phi, Mỹ La Tinh. Ở đây đặc biệt phải tính tới vai trò của Chủ nghĩa Cộng sản, tác động về mặt tư tưởng và nhân sự của Đệ tam Quốc tế, đứng đầu là Liên Xô.

Các nước đế quốc cũ bị Thế chiến thứ 2 làm kiệt quệ đành phải từ bỏ thuộc địa của mình (như Pháp, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha). Ấn Độ là trường hợp điển hình, khi mà thực dân Anh đồng ý trao trả quyền độc lập năm 1947. Đồng thời sự phát triển của khoa học kỹ thuật và kinh tế của các nước này làm giảm sự lệ thuộc của họ vào khai thác tài nguyên tại các thuộc địa. Các phong trào quyền con người và quyền bình đẳng tại các quốc gia (như phong trào bình đẳng giới, thiểu số, da đen..) đã làm thay đổi cơ cấu chính trị tại các quốc gia phát triển, nhiều đảng phái cấp tiến lên lãnh đạo, khiến họ dần dần chấp nhận quyền độc lập của các quốc gia thuộc địa. Đồng thời tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh tại các nước thuộc địa đã buộc các nước thực dân phải từ bỏ tham vọng của mình. Thất bại nặng nề tại Trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã buộc Pháp phải rút quân tại Việt Nam. Một loạt các thuộc địa của Anh Quốc đã được độc lập vì lý do tương tự. Theo những người cộng sản, Chủ nghĩa thực dân mới dễ được chấp nhận hơn dần dần thay thế chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.

Đại hội đồng Liên hiệp Quốc khóa XV năm 1960 đã thông qua văn kiện: Tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn Chủ nghĩa thực dân, trao trả độc lập cho các quốc gia và dân tộc thuộc địa đặc biệt đến Đại hội Đồng Liên hiệp Quốc 1963 đã thông qua tuyên ngôn về thủ tiêu hoàn toàn các hình thức chế độ phân biệt chủng tộc. Sự đấu tranh giành quyền tự do bình đẳng và quyền con người vẫn tiếp tục diễn ra tại ngay cả các nước đã độc lập. Chế độ phân biệt chủng tộc bị xóa bỏ Nam Phi sau hơn 300 năm tồn tại vào năm 1994.

Sự ra đời của Hệ thống các nước Xã hội chủ nghĩa và cuộc chiến tranh Lạnh cũng thúc đẩy các quốc gia tích cực ảnh hưởng và tranh chấp tới các quốc gia thuộc địa cũ. Hệ thống các nước Xã hội Chủ nghĩa tích cực tài trợ cho các cuộc đấu tranh giành độc lập và thiết lập chế độ cộng sản tại các nước. Trong khi đó, các nước chống cộng đứng đầu là Mỹ cũng tích cực thúc đẩy quá trình trao độc lập và thành lập các chính quyền thân Mỹ tại các nước thuộc địa cũ. Các cuộc chiến tranh hoặc xung đột diễn ra thường xuyên giữa hai phe này tại các quốc gia ở châu Á (như tại Indonesia hay Malaysia), châu Mỹ Latin.

Từ cuối thế kỷ 20 và sang thế kỷ 21, đa số các nước trên thế giới đã giành được độc lập. Tuy nhiên sự lệ thuộc của các nước nghèo và các nước giàu, trong khi các nước giàu vẫn can thiệp vào chính trị của các nước nghèo vẫn phổ biến. Thế giới bị phân cực, trước từ hai thái cực đã chuyển sang đa cực xoay quanh các nước mạnh trên thế giới (Hoa Kỳ, châu Âu, Nga, Trung Quốc). Sự trỗi dậy của Trung Quốc và chủ nghĩa thực dân mới của các cường quốc áp đặt lên các nước châu Phi và một số nước ở châu Á đang diễn ra mạnh mẽ.