Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đồng Nai , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 17
Số lượng câu trả lời 146
Điểm GP 27
Điểm SP 98

Người theo dõi (27)

Đang theo dõi (38)

Phạm Thu Thủy
Cảo TH
Nguyễn Anh Thư

Câu trả lời:

Hồ Xuân Hương là một trong những nữ thi sĩ xuất sắc của Việt Nam, số lượng tác phẩm bà để lại khá nhiều, và phong cách sáng tác thơ chủ yếu của Hồ Xuân Hương chính là tả cảnh ngụ tình. Bà còn được biết đến với hình ảnh của một nữ nhà thơ viết nhiều về thân phận người phụ nữ, là người dũng cảm đề cao vẻ đẹp, sự hi sinh và đức hạnh của người phụ nữ, đồng thời lên tiếng bên vực cho họ và phê phán lên án gay gắt chế độ xã hội cũ. Tự tình là một trong những bài thơ hay, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc của chính tác giả và cũng là của người phụ nữ nói chung.

Bài thơ tự tình mở đầu với 2 câu thơ vừa tả cảnh nhưng cũng tả hình ảnh của một ngươi phụ nữ- hay có thể gọi là hồng nhan.Nhưng tiếc thay, hồng nhan đó lại roi vào hoàn cảnh- cô đươn trống vắng, giữa đêm khuya u tịch.

“ Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non”

Từ láy “ Văng vẳng” được tác giả sử dụng để miêu tả thứ âm thanh từ xa vang lại, mặc dù không biết nó xuất phát từ đâu hoặc dù ở xa nhưng nghe mỗi lúc một gần một rõ hơn. Thời gian được nhắc tới là “ đêm khuya”- thời điểm khiến con người dễ rơi vào các cung bậc cảm xúc trạng thái khó tả nhất, cũng chính thời gian này có một người phụ nữ vẫn ngồi đó,không yên lòng mà ngủ được vẫn ngồi đó nghĩ ngợi về mọi thứ xung quanh đặc biệt về con người cuộc đười của mình. Là một người phụ nữ có nhan sắc, nhưng lại được miêu tả “ trơ với nước non. Trước cuộc đười rộng lớn, người phụ nữ đó nhận ra thân phận của mình lẻ loi đơn chiếc, và âm thanh của trống cầm canh lại càng điểm thêm một nỗi buồn, trống vắng khó tả. Người phụ nữ ấy đã tìm đến rượu để giải sầu :

“ Chén rượu hương đưa rồi lại tỉnh

Vầng trăng xế bóng khuyết chưa tròn”

Mỗi khi có chuyện gì đó sầu muộn, người xưa thường tìm đến trăng đến rượu để ngỏ cùng bầu tâm sự. Chỉ muốn uống thật say, hương rượu thật nồng để quên đi tất cả, nhưng nghịch lí thay, chén rượu đưa lên mũi, hương nồng vào mũi nhưng người muốn say nhưng tâm và suy nghĩ vẫn đang rất tĩnh. Không có nỗi buồn nòa biến mất ở đây,mà càng làm hiện hữu rõ nỗi lòng của người phụ nữ lúc này. HÌnh ảnh vầng trăng xuất hiện nhưng khuyết chưa tròn. Phải chăng, ngụ ý hco thân phận cho hạnh phúc của chính tác giả. Là người tài giỏi nhưng duyên phậm haamrhiu.chưa một lần trọn ven. Tuổi xuân dần đi qua mà hạnh phúc vẫn chưa tới bến đỗ.:

“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm tạc chân mây đá mấy hòn”

HÌnh ảnh rêu được đưa ra đây nhưng mang những dụ ý sâu xa của tác giả Hồ Xuân Hương, rêu là loài mỏng manh nhỏ bé nhưng lại có sức sống vô cùng mạnh mẽ, không dừng lại đó, ở bất cứ một điều kiện nào thì nó vẫn có thể tươi tốt,dù là điều kiện sống như thế nào đi chăng nữa. HÌnh ảnh rêu từng đám đâm xuyên ngang mặt đất gợi ra cho chúng ta những liên tưởng mạnh mẽ về sự phản kháng mạnh mẽ cũng như sự chống đối của nó với thứ có thể mạnh hơn nó. Hình ảnh đá cũng vậy, đối lập với sự nhỏ bé của những viên đá với sự rộng lớn của trời đất, nó lại càng làm nổi bật sức mạnh của những viên đá, quả thực nó không tầm thường một tí nào. Sự đồng điệu của người và thiên nhiên, luôn đối mặt với khó khăn thách thức nhưng chưa bao giờ đi đến thành công. Kiếp làm vợ lẽ, dù cố thoát ra nhưng vẫn không được. Cho nên mới có 2 câu cuối:

“ngán nỗi xuân đi xuân lại lại

Mảnh tình san sẻ tí con con”

Thiên nhiên thuận theo đất trời, xuân đi rồi xuân lại tới, nhưng con người lại khác, với người phụ nữ tuổi xuân trôi đi nhưng chẳng bao giờ quay lại thêm một lần nào nữa. Lại càng đáng buồn hơn cho nhưng số phận hẩm hưu, chờ mong cả tuổi xuân, chờ có một niềm hạnh phúc trọng vẹn nhưng nào đâu có được. Trước sự lẻ loi, chán chường mà Hồ Xuân Hương đã sử dụng” ngán” phần nào nói lên được nỗi lòng của thi sĩ bây giờ. Mảnh tình đã bé lại còn phải san sẻ, chia nhỏ ra. Không được hưởng một tình yêu một hạnh phúc trọn vẹn, tới khi tìm đến với hạnh phúc lại phải san se, thật quả là đáng thương. Qua đây cũng ngầm ẩn ý về những số phận của người phụ nữ ,chịu cảnh thê thiếp, dưới chế độ cũ không được coi trọng và không có quyền lên tiếng

Tự tình là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách cũng như tư tưởng của Hồ Xuân Hương đặc biệt là những vấn đề xoay quanh người phụ nữ. Qua đây chúng ta cũng thấy được một Hồ Xuân Hương vừa yếu mềm nhưng cũng thật ngang tàng mạnh mẽ khi dám bộc lộ những suy nghĩ của chính mình.

Câu trả lời:

Ý nghĩa chi tiết hoang đường kỳ ảo trong chuyện người con gái Nam Xương- Trước hết, kết thúc này làm chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của nhân vật VN, một con người đã ở thế giới bên kia vẫn nặng tình với cuộc đời, quan tâm đến chồng con, vẫn lo lắng cho phần mộ tổ tiên, vẫn khao khát được phục hồi danh dự.- Đặc biệt, nó tạo nên một kết thúc có hậu cho tác phẩm, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân về sự công bằng trong cuộc đời, người tốt dù trải qua bao oan khuất, cuối cùng cũng được đền đáp xứng đáng. VN xinh đẹp đức hạnh không được sống hạnh phúc ở chốn trần gian thì nàng sẽ được sống sung sướng ở một thế giới khác.- Tăng tính bi kịch và giá trị tố cáo xã hội cho tác phẩm: Ở cuối truyện, VN đã trở lại dương thế trong một không gian rực rỡ, uy nghi, nhưng bóng nàng chỉ thấp thoáng ở giữa dòng sông, lúc ẩn, lúc hiện, với lời tạ từ ngắn ngủi rồi loang loáng mờ nhạt dần và biến mất.-> Kết thúc có hậu chỉ làm giảm độ căng của câu chuyện nhưng càng làm tăng tính bi kịch và giá trị tố cáo cho tác phẩm.Hình ảnh VN cuối truyện như một thứ ảo ảnh, chỉ đủ an ủi cho người bạc phận khi đã được trả lại danh dự, phẩm tiết, nhưng cũng làm tăng thêm thêm những bi kịch cho số phận nhân vật. Khi sương khói kì ảo tan đi chỉ còn lại sự thực cay đắng đến nao lòng, VN không trở lại được trần gian, trên bờ chồng và con đứng đấy trong sự trống vắng và hối hận. Hạnh phúc gia đình đã tan vỡ, VN mãi mãi không thực hiện được khát vọng bình dị được “vui thú vui nghi gia nghi thất”, mất đi thiên chức làm vợ, làm mẹ. TS suốt đời sống cảnh gà trống nuôi con, trong ân hận, day dứt. Bé Đản mãi mãi là đứa trẻ mồ côi thiếu vắng tình mẹ. …-> Tính bi kịch thể hiện rõ nét ngay trong cái kết lung linh kì ảo.- Kết thúc truyện như vậy sẽ càng làm tăng thêm sự trừng phạt đối với T.Sinh. VN không trở về TS càng phải day dứt, ân hận vì lỗi lầm của mình. Đây là giấc mơ mà cũng là lời cảnh tỉnh của tác giả. Nó để lại dư âm ngậm ngùi trong lòng người đọc và là bài học thấm thía về giữ gìn hạnh phúc gia đình.- Thể hiện nhãn quan hiện thực sâu sắc của nhà văn. Ông cho rằng: Hạnh phúc không có trong ảo ảnh hay ở thế giới khác. Hạnh phúc chỉ có trong cuộc đời thực và do con người tạo ra.- Tạo nên nét đặc trưng của thể truyền kì.=> Chính các chi tiết kì ảo này đã góp phần làm cho tác phẩm không còn là bản kể của văn học dân gian mà trở thành một truyền kì – một sáng tạo đích thực của Nguyễn Dữ

Câu trả lời:

Đã từ lâu, tù trưởng Mtao Mxây nổi tiếng giàu có khắp vùng cao nguyên hùng vĩ. Hắn cậy thế mạnh nên cho đám đầy tớ đến cướp vợ tôi là Hơ Nhị mang về nhà trong lúc tôi đi vắng.

Nghe tin, tôi vội vã giắt dao vào thắt lưng, đi tìm hắn. Nhà Mtao Mxây rất lớn, đầu sàn hiên đẽo hình mặt trăng, đẩu cầu thang đẽo hình chim ngói. Ngôi nhà của lão tù trưởng này quả là đẹp. cầu thang rộng bằng một lá chiếu, người nối đuôi nhau lên xuống mà khiêng một ché rượu lớn vẫn không sợ chật.

Tôi bắc tay lên miệng gọi to: "Mxây xuống đây! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!”. Mxây nói vọng ra: “Ta không xuống đâu. Tay ta còn đang bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà !”

Tôi tức giận thét lên: “Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu thang của nhà ngươi chẻ ra kéo lửa, ta hun cối nhà của ngươi cho mà xem!". Mxây biết tính tôi xưa nay nói là làm nên hoảng hốt hứa rằng từ từ sẽ xuống, chỉ xin tỏi đừng đâm hẳn lúc hắn xuống cầu thang. Tôi cười nhạt bảo rằng đến con lợn nái của hắn ở dưới đất tôi cũng chẳng thèm đâm nữa là.

Mtao Mxây buộc phải ra mặt. Bà con trong buôn kéo đến xem rất đông. Cái khiên của hắn tròn như đầu cú, lưỡi gươm của hắn óng ánh bày sắc cầu vồng. Trông hắn dữ tợn như một hung thần. Hắn đóng cái khố sọc gấp bỏ múi, mặc một cái ảo dày nút, đi từ nhà trong ra nhà ngoài, dáng tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo giữa một đám đông mịt mù như sương sớm.

Tôi thách thức: “Ngươi múa trước đi!”. Hắn đáp: “Ngươi mới là người mua trước. Ta như gà làng mới mọc cựa kli-ê, như gà rửng mới mọc cựa ê-chăm chưa ai giẫm phải mà đã gãy mất cánh". Tôi giục thêm lần nữa, Mtao Mxây rung khiên múa. Cái khiên của hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô. Mặc cho hắn múa, tôi không nhúc nhích. Tôi bật cười khinh bỉ: “Ngươi múa một mình, múa kêu lạch xạch như quả mướp khô. Miếng múa ấy, ngươi học ai vậy? Ngươi múa chơi đấy phải không?".

Chạm tự ái, Mtao Mxây trả lời: “Ta học ai à? Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần Rồng, ta học thần Rồng". Tôi khiêu khích: “Thế ư? Ta thì đâu có cậu mà học cậu, đâu có bác mà học bác! Chỉ cỏ hai ta đây, ngươi múa đi ta xem nào!”. Mxây hùng hổ quát: “Thế ngươi không biết ta đây là một tướng đã quen đi đánh thiên hạ, bắt tù binh, đã quen xéo nát đất đai thiên hạ hay sao?”. Tôi chỉ thẳng vào mặt hắn : “Vậy thì ngươi hãy xem ta đây!" rồii vung khiên múa. Một lần xốc tới, tôi vượt qua một quả đồi. Một lần xốc tới nữa, tôi vượt một đồi lồ ô. Tôi chạy vun vút sang phía Đông, sang phía Tày. Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi Tây lại sang bãi Đông. Hắn vung dao chém phập một nhát nhưng lại trúng cái chão cột trâu. Tôi chế giễu hắn: “Sao ngươi lại chém cái chão cột trâu? Còn khoeo chân ta, ngươi dành làm gi ?".

Đến lúc này, Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miếng trầu, nhưng tôi đã đớp được miếng trầu ấy và nhai ngấu nghiến. Sức mạnh trong tôi tăng lên gấp bội. Tôi bảo Mxây: “ Bây giở ngươi lại chạy, ta đuổi coi !”. Hắn bỏ chạy, tôi rượt theo, vừa rượt vừa múa khiên. Trên cao, gió thổi như bão. Tôi múa dưới thấp, gió như lốc cuốn. Chòi lẫm đổ lăn lóc, cây cối chết rụi. Tiếng khiên của tôi vang lên như tiếng khiên đồng, khiên kênh. Tôi chạy nước kiệu. quả núi ba lẩn rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung. Cây giáo thần chứa đầy những oan hồn của tôi nhắm đùi Mtao Mxây phóng tới. Tôi đâm trúng đùi hần nhưng đùi hắn không thủng. Tôi đâm trúng người hắn, người hắn cũng không thủng. Tôi đã thấm mệt, vừa chạy vừa ngủ và mơ thấy ông Trời. Tôi than thở: “Ối chao, chết mất thôi, ông Trời ơi! Cháu đâm mãi mà không thủng hắn!”, ông Trời bảo: “Thế ư, cháu? Vậy thl cháu hãy lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được”. Tôi bừng tỉnh, chộp ngay cái chày mòn, ném trúng vào vành tai kẻ địch. Cái giáp của Mtao Mxây tức thì rơi loảng xoảng. Hẳn tháo chạy. Hắn tránh quanh chuồng lợn, tôi phá tan chuồng lợn. Hắn tránh quanh chuống trâu, tôi phá lan chuồng trâu. Cuổi cùng, hắn mệt quá ngã lăn quay ra đất.

Hắn lạy van rối rít: “Tha cho ta, ta sẽ làm lễ cầu phúc cho ngươi một con trâu, ta sẽ cho ngươi thêm một con voi!”. Tôi chưa nguôi cơn giận, liền vặn hỏi hắn: "Sao ngươi lại cúng trâu cầu phúc cho ta? Chẳng phải vợ ta ngươi đã cướp, đùi ta ngươi đã đâm rồi sao?”. Dửt lời, tôi cắt đầu Mtao Mxây đern bêu ngoài đường rồi hỏi bà con, tôi tớ trong buôn làng của hắn là có bằng lòng di theo tôi không. Mọi người đồng ý. Tôi hô to: “ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói! ơ tất cả tôi tớ bằng này! Chúng ta ra về nào!". Đoàn người đông đúc ủn ùn kéo theo sau tôi đông như kiến tha mồi.

Thế là từ đó, tôi trở thành tù trưởng giàu có nhất, hùng mạnh nhất. Tôi mở tiệc tùng linh đinh, ãn uống đông vui kéo dài suốt cả mùa khô. Cho đến lúc rượu đã nhạt, ché đã phai thl khách mới lần lượt ai về nhà nấy.


Câu trả lời:

Đã từ lâu, tù trưởng Mtao Mxây nổi tiếng giàu có khắp vùng cao nguyên hùng vĩ. Hắn cậy thế mạnh nên cho đám đầy tớ đến cướp vợ tôi là Hơ Nhị mang về nhà trong lúc tôi đi vắng.

Nghe tin, tôi vội vã giắt dao vào thắt lưng, đi tìm hắn. Nhà Mtao Mxây rất lớn, đầu sàn hiên đẽo hình mặt trăng, đẩu cầu thang đẽo hình chim ngói. Ngôi nhà của lão tù trưởng này quả là đẹp. cầu thang rộng bằng một lá chiếu, người nối đuôi nhau lên xuống mà khiêng một ché rượu lớn vẫn không sợ chật.

Tôi bắc tay lên miệng gọi to: "Mxây xuống đây! Ta thách nhà ngươi đọ dao với ta đấy!”. Mxây nói vọng ra: “Ta không xuống đâu. Tay ta còn đang bận ôm vợ hai chúng ta ở trên nhà này cơ mà !”

Tôi tức giận thét lên: “Ngươi không xuống ư? Ta sẽ lấy cái sàn hiên của nhà ngươi bổ đôi, ta sẽ lấy cái cầu thang của nhà ngươi chẻ ra kéo lửa, ta hun cối nhà của ngươi cho mà xem!". Mxây biết tính tôi xưa nay nói là làm nên hoảng hốt hứa rằng từ từ sẽ xuống, chỉ xin tỏi đừng đâm hẳn lúc hắn xuống cầu thang. Tôi cười nhạt bảo rằng đến con lợn nái của hắn ở dưới đất tôi cũng chẳng thèm đâm nữa là.

Mtao Mxây buộc phải ra mặt. Bà con trong buôn kéo đến xem rất đông. Cái khiên của hắn tròn như đầu cú, lưỡi gươm của hắn óng ánh bày sắc cầu vồng. Trông hắn dữ tợn như một hung thần. Hắn đóng cái khố sọc gấp bỏ múi, mặc một cái ảo dày nút, đi từ nhà trong ra nhà ngoài, dáng tần ngần do dự, mỗi bước mỗi đắn đo giữa một đám đông mịt mù như sương sớm.

Tôi thách thức: “Ngươi múa trước đi!”. Hắn đáp: “Ngươi mới là người mua trước. Ta như gà làng mới mọc cựa kli-ê, như gà rửng mới mọc cựa ê-chăm chưa ai giẫm phải mà đã gãy mất cánh". Tôi giục thêm lần nữa, Mtao Mxây rung khiên múa. Cái khiên của hắn kêu lạch xạch như quả mướp khô. Mặc cho hắn múa, tôi không nhúc nhích. Tôi bật cười khinh bỉ: “Ngươi múa một mình, múa kêu lạch xạch như quả mướp khô. Miếng múa ấy, ngươi học ai vậy? Ngươi múa chơi đấy phải không?".

Chạm tự ái, Mtao Mxây trả lời: “Ta học ai à? Có cậu, ta học cậu. Có bác, ta học bác. Có thần Rồng, ta học thần Rồng". Tôi khiêu khích: “Thế ư? Ta thì đâu có cậu mà học cậu, đâu có bác mà học bác! Chỉ cỏ hai ta đây, ngươi múa đi ta xem nào!”. Mxây hùng hổ quát: “Thế ngươi không biết ta đây là một tướng đã quen đi đánh thiên hạ, bắt tù binh, đã quen xéo nát đất đai thiên hạ hay sao?”. Tôi chỉ thẳng vào mặt hắn : “Vậy thì ngươi hãy xem ta đây!" rồii vung khiên múa. Một lần xốc tới, tôi vượt qua một quả đồi. Một lần xốc tới nữa, tôi vượt một đồi lồ ô. Tôi chạy vun vút sang phía Đông, sang phía Tày. Còn Mtao Mxây thì bước cao bước thấp chạy hết bãi Tây lại sang bãi Đông. Hắn vung dao chém phập một nhát nhưng lại trúng cái chão cột trâu. Tôi chế giễu hắn: “Sao ngươi lại chém cái chão cột trâu? Còn khoeo chân ta, ngươi dành làm gi ?".

Đến lúc này, Mtao Mxây bảo Hơ Nhị quăng cho hắn một miếng trầu, nhưng tôi đã đớp được miếng trầu ấy và nhai ngấu nghiến. Sức mạnh trong tôi tăng lên gấp bội. Tôi bảo Mxây: “ Bây giở ngươi lại chạy, ta đuổi coi !”. Hắn bỏ chạy, tôi rượt theo, vừa rượt vừa múa khiên. Trên cao, gió thổi như bão. Tôi múa dưới thấp, gió như lốc cuốn. Chòi lẫm đổ lăn lóc, cây cối chết rụi. Tiếng khiên của tôi vang lên như tiếng khiên đồng, khiên kênh. Tôi chạy nước kiệu. quả núi ba lẩn rạn nứt, ba đồi tranh bật rễ bay tung. Cây giáo thần chứa đầy những oan hồn của tôi nhắm đùi Mtao Mxây phóng tới. Tôi đâm trúng đùi hần nhưng đùi hắn không thủng. Tôi đâm trúng người hắn, người hắn cũng không thủng. Tôi đã thấm mệt, vừa chạy vừa ngủ và mơ thấy ông Trời. Tôi than thở: “Ối chao, chết mất thôi, ông Trời ơi! Cháu đâm mãi mà không thủng hắn!”, ông Trời bảo: “Thế ư, cháu? Vậy thl cháu hãy lấy một cái chày mòn ném vào vành tai hắn là được”. Tôi bừng tỉnh, chộp ngay cái chày mòn, ném trúng vào vành tai kẻ địch. Cái giáp của Mtao Mxây tức thì rơi loảng xoảng. Hẳn tháo chạy. Hắn tránh quanh chuồng lợn, tôi phá tan chuồng lợn. Hắn tránh quanh chuống trâu, tôi phá lan chuồng trâu. Cuổi cùng, hắn mệt quá ngã lăn quay ra đất.

Hắn lạy van rối rít: “Tha cho ta, ta sẽ làm lễ cầu phúc cho ngươi một con trâu, ta sẽ cho ngươi thêm một con voi!”. Tôi chưa nguôi cơn giận, liền vặn hỏi hắn: "Sao ngươi lại cúng trâu cầu phúc cho ta? Chẳng phải vợ ta ngươi đã cướp, đùi ta ngươi đã đâm rồi sao?”. Dửt lời, tôi cắt đầu Mtao Mxây đern bêu ngoài đường rồi hỏi bà con, tôi tớ trong buôn làng của hắn là có bằng lòng di theo tôi không. Mọi người đồng ý. Tôi hô to: “ơ nghìn chim sẻ, ơ vạn chim ngói! ơ tất cả tôi tớ bằng này! Chúng ta ra về nào!". Đoàn người đông đúc ủn ùn kéo theo sau tôi đông như kiến tha mồi.

Thế là từ đó, tôi trở thành tù trưởng giàu có nhất, hùng mạnh nhất. Tôi mở tiệc tùng linh đinh, ãn uống đông vui kéo dài suốt cả mùa khô. Cho đến lúc rượu đã nhạt, ché đã phai thl khách mới lần lượt ai về nhà nấy.


Câu trả lời:

Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An nhà vua lấy thêm quân mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kết hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân. Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày 7 Tết tới Thăng Long. Giặc trấn thủ ở đó chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mồng 3 Kỉ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục dang thành chữ nhất tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị vui giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghĩ nghe tin sỡ hại không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàn thân quốc thích rời bỏ kinh thành chạy theo quân Thanh đại bại.