Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bắc Ninh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 156
Điểm GP 19
Điểm SP 115

Người theo dõi (32)

Anna Trần
diệp phạm
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (4)

Sách Giáo Khoa
Bình Trần Thị
Nguyen Thuy Linh
Thùy Ngân

Read the following passage and mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the following questions from 30 to 34.

In Science, a theory is a reasonable explanation of observed events that are related. A theory often involves an imaginary model that helps scientists picture the way an observed event could be produced. A good example of this is found in the kinetic molecular theory, in which gases are pictured as being made up of many small particles that are in constant motion.

A useful theory, in addition to explaining past observation, helps to predict events that have not as yet been observed. After a theory has been publicized, scientists design experiments to test the theory. If observations confirm the scientists’ predictions, the theory is supported. If observations do not confirm the predictions, the scientists must search further. There may be a fault in the experiment, or the theory may have to be revised or rejected.

Science involves imagination and Creative thinking as well as collecting information and performing experiments. Facts by themselves are not Science. As the mathematician Jules Henri Poincare said: “Science is built with facts just as a house is built with bricks. But a collection of facts cannot be called Science any more than a pile of bricks can be called a house.”

Most scientists start an investigation by finding out what other scientists have learned about a particular problem. After known facts have been gathered, the scientist comes to the part of the investigation that requires considerable imagination. Possible Solutions to the problem are formulated. These possible Solutions are called hypotheses. In a way, any hypothesis is a leap into the unknown. It extends the scientist’s thinking beyond the known facts. The scientist plans experiments, performs calculations, and makes observations to test hypotheses. For without hypotheses, further investigation lacks purpose and direction. When hypotheses are confirmed, they are incorporated into theories.

According to the second paragraph, a useful theory is one that helps scientists to _____.

A. observe events

B. publicize new findings 

C. make predictions

D. find errors in past experiments

Câu trả lời:

Mình nghĩ là thế này:

Cacbon điôxít là sản phẩm cuối cùng trong cơ thể sinh vật có sự tích lũy năng lượng từ việc phân hủy đường hay chất béo với ôxy như là một phần của sự trao đổi chất của chúng, trong một quá trình được biết đến như là sự hô hấp của tế bào. Nó bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn. Trong các động vật bậc cao, cacbon điôxít di chuyển trong máu từ các mô của cơ thể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài.

Hàm lượng cacbon điôxít trong không khí trong lành là khoảng 0,04%, và trong không khí bị thải ra từ sự thở là khoảng 4,5%. Khi thở trong không khí với nồng độ cao (khoảng 5% theo thể tích), nó là độc hại đối với con người và các động vật khác.

Hemoglobin, phân tử chuyên chở ôxy chính trong hồng cầu, có thể chở cả ôxy và cacbon điôxít, mặc dù theo các cách thức hoàn toàn khác nhau. Sự suy giảm liên kết với ôxy trong máu do sự tăng mức cacbon điôxít được biết đến như là hiệu ứng Haldane, và nó là quan trọng trong việc vận chuyển cacbon điôxít từ các mô tới phổi. Ngược lại, sự tăng áp suất thành phần của CO2 hay pH thấp hơn sẽ sinh ra sự rút bớt ôxy từ hemoglobin. Hiệu ứng này gọi là hiệu ứng Bohr.

Theo nghiên cứu của USDA [1], sự thở của một người trung bình mỗi ngày sinh ra khoảng 450 lít (khoảng 900 gam) cacbon điôxít.

CO2 được vận chuyển trong máu theo ba cách khác nhau. Phần lớn trong chúng (khoảng 80%–90%) được các enzym cacbonic anhyđraz chuyển hóa thành các ion bicacbonat HCO3 trong các tế bào hồng cầu. 5%–10% được hòa tan trong huyết tương và 5%–10% liên kết với hemoglobin thành các hợp chất cacbamin. Phần trăm chính xác phụ thuộc vào đó là máu ở động mạch hay tĩnh mạch.

Hemoglobin liên kết với CO2 không giống như liên kết với ôxy; CO2 liên kết với các nhóm chứa N trên 4 chuỗi globin. Tuy nhiên, do các hiệu ứng khác khu vực hoạt hóa trên phân tử hemoglobin, liên kết của CO2 làm giảm lượng ôxy được liên kết đối với áp suất thành phần nhất định của ôxy.

Cacbon điôxít có thể là một trong các chất trung gian để tự điều chỉnh việc cung cấp máu theo khu vực. Nếu nồng độ của nó cao thì các mao mạch nở ra để cho nhiều máu hơn đến các mô.

Các ion bicacbonat là chủ yếu trong việc điều chỉnh pH của máu. Do tần suất thở có ảnh hưởng tới mức CO2 trong máu, nên nhịp thở quá chậm hay quá nông sẽ sinh ra hiện tượng nhiễm axít hô hấp,trong khi nhịp thở quá nhanh sinh ra trong các chứng thở quá nhanh sẽ dẫn đến nhiễm kiềm hô hấp.

Một điều thú vị là mặc dù ôxy là chất cần thiết của quá trình trao đổi chất của cơ thể, nhưng không phải nồng độ thấp của ôxy kích thích sự hô hấp mà lại là nồng độ cao của cacbon điôxít. Kết quả là, sự hô hấp trong không khí loãng (áp suất thấp) hay hỗn hợp khí không có ôxy (ví dụ nitơ nguyên chất) dẫn đến sự bất tỉnh mà không cần có các vấn đề về hệ hô hấp của cá thể đó. Nó là đặc biệt nguy hiểm cho các phi công lái máy bay chiến đấu bay ở cao độ lớn, và nó cũng là lý do giải thích tại sao các hướng dẫn tại các máy bay thương mại trong trường hợp sụt áp suất trong khoang thì người ta cần phải sử dụng mặt nạ thở ôxy cho chính mình trước khi giúp người khác—nếu không thì chính người đó sẽ chịu rủi ro bất tỉnh mà không hề được cảnh báo trước về nguy hiểm sắp xảy ra.

Thực vật hấp thụ cacbon điôxít từ khí quyển trong quá trình quang hợp. Cacbon điôxít được thực vật (với năng lượng từ ánh sáng Mặt Trời) sử dụng để sản xuất ra các chất hữu cơ bằng tổ hợp nó với nước. Các phản ứng này giải phóng ra ôxy tự do. Đôi khi cacbon điôxít được bơm thêm vào các nhà kính để thúc đẩy thực vật phát triển. Thực vật cũng giải phóng ra CO2 trong quá trình hô hấp của nó, nhưng tổng thể thì chúng làm giảm lượng CO2.

Các giới hạn của OSHA cho nồng độ cacbon điôxít tại nơi làm việc là 0,5% cho thời gian dài, tối đa tới 3% cho phơi nhiễm ngắn (tối đa 10 phút). OSHA cho rằng các nồng độ trên 4% là "nguy hiểm ngay lập tức đối với sức khỏe và sự sống". Những người thở không khí chứa trên 5% cacbon điôxít trên 30 phút có các triệu chứngtăng anhiđrít cacbonic máu cấp tính, trong khi việc thở với nồng độ cacbon điôxít từ 7%–10% có thể làm bất tỉnh trong vài phút. Cacbon điôxít, dù là dạng khí hay dạng rắn, chỉ được tiếp xúc trong các môi trường/khu vực thông gió tốt.

Câu trả lời:

Than củi cháy trong điều kiện thiếu không khí sẽ tạo ra một loại khí cực độc là carbon monoxide (CO). Nạn nhân khi hít phải khí này nặng thì bị tử vong, nhẹ hơn thì để lại di chứng thần kinh - tâm thần.

Khí carbon monoxide (CO) là một chất khí không màu, không mùi và không gây kích thích cho nên khi bị ngộ độc, nạn nhân thường không biết. Cho đến khi nạn nhân nhận biết được mình bị nhiễm độc thì bản thân họ không còn khả năng gọi cấp cứu được nữa. Khí CO là chất gây ngạt toàn thân do nó tranh chấp với oxy gây giảm oxy máu ở tất cả các cơ quan của cơ thể. Vì thế, những cơ quan nào sử dụng nhiều oxy nhất sẽ bị tổn thương nặng nhất, theo đó, não và tim sẽ bị tổn thương nghiêm trọng.

Khí CO được tạo ra từ các nhiên liệu cháy không hoàn toàn, thường gặp là dùng các loại than để đun nấu, sưởi ấm, khói từ các vụ cháy nhà, khói xả từ máy phát điện, động cơ xe máy, ôtô, ở nơi thông khí kém như phòng đóng kín cửa, khu vực ít lưu thông khí, sử dụng lò nướng bằng khí đốt để sưởi...

Nạn nhân dễ tử vong nếu phát hiện và điều trị muộn hoặc có thể để lại di chứng thần kinh - tâm thần nặng nề. Các đối tượng: phụ nữ mang thai, người cao tuổi, người có bệnh tim mạch, mạch máu não có nguy cơ bị ngộ độc nặng hơn.