Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bắc Ninh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 156
Điểm GP 19
Điểm SP 115

Người theo dõi (32)

Anna Trần
diệp phạm
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (4)

Sách Giáo Khoa
Bình Trần Thị
Nguyen Thuy Linh
Thùy Ngân

Câu trả lời:

Chấn thương sọ não đem lại những di chứng và biến chấn hết sức nguy hiểm đặt biệt là liệt cả người hoặc nữa người, mất trí nhớ.

Có những tổn thương gì ngay sau khi bị CTSN?

Bọc máu tụ nội sọ: Quan trọng bậc nhất là sự hình thành bọc máu tụ nội sọ do nhiều điểm hoại tử não hợp thành hoặc do đứt rách những động mạch lớn do chấn thương quá mạnh. Các khối máu tụ này có thể khu trú ở nhiều vùng của não. Tùy theo mức độ chấn thương, máu tụ có thể tập trung ở dưới màng cứng, trong não, trong não thất, dưới lều tiểu não. Trong đó, máu tụ trong não thất là một hậu quả nặng nề của CTSN. Khi bị vỡ, đứt các mạch máu lớn, máu tràn vào các não thất đến mức nặng là “lụt não thất” cũng thường xảy ra trong trường hợp xuất huyết não trong đột quỵ mạch máu não.

Phù não: Có hai loại phù não là phù não do căn nguyên mạch và do nhiễm độc tế bào. Trong các hậu quả của CTSN, phù não là biến chứng phổ biến nhất và nguy hại nhất, đe dọa tính mạng nạn nhân.

Thoát vị não: Trường hợp phù não nặng sẽ gây nên thoát vị não. Phù não chèn ép quá mạnh gây nên tình trạng một phần của não bị đẩy ra, chui vào các khoang, khe, lỗ hở, đặc biệt nguy hiểm nhất là thể thoát vị não tại lỗ lớn của xương chẩm gây chèn ép hành tủy, nơi có “nút sống” là trung tâm chi phối hô hấp và tim mạch. Do đó, thoát vị não lỗ chẩm là một nguy cơ tử vong trong giây phút nếu không được phát hiện sớm và xử trí tại chỗ kịp thời.

Hội chứng tăng áp lực nội sọ: Tất cả những biến chứng của chấn thương sọ não, trong đó có vai trò quan trọng của phù não đã dẫn đến hội chứng tăng áp lực nội sọ với ba triệu chứng chủ yếu: đau đầu (cảm giác đau theo nhịp mạch đập, đau giật hay đau như nổ tung đầu. Đau với cường độ ngày càng tăng lên làm bệnh nhân kêu rên, la hét); nôn mửa do tăng áp lực nội sọ chèn ép các nhân dây thần kinh sọ não; phù đĩa thị hay phù gai thị.

Thiếu máu não: Tại vùng thiếu máu não sẽ phát sinh những “ổ thiếu máu” kể cả trong trường hợp thiếu máu não không do chấn thương (thiếu máu não tạm thời hoặc vĩnh viễn, nhồi máu não…). Ở thiếu máu não sẽ hình thành ba vùng: vùng thiếu máu não quá mức sẽ xuất hiện vùng não hoại tử, không hồi phục; vùng bán ảnh là vùng nhu mô não cũng bị thiếu máu tương đối nặng nhưng chưa đến mức hoàn toàn bị hủy hoại, vẫn còn khả năng hồi phục; vùng não nguyên lành, vùng này có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là vùng gần mạng lưới động mạch, có nhiều khả năng nhận và chuyển tiếp máu “ứng cứu” cho tế bào não tại vùng bán ảnh.

Chảy máu não: Sau chấn thương sọ não kín vẫn có thể xảy ra chảy máu não với những ổ máu tụ nhỏ và vừa, rải rác ở nhiều vùng của não. Diến biến bệnh lặng lẽ nhưng vẫn có thể phát sinh biến chứng không kém nguy hiểm nên phải theo dõi chặt chẽ. Sau chấn thương, bệnh nhân tỉnh táo, không có rối loạn ý thức nhưng sau một thời gian ngắn lại đi vào hôn mê. Người ta gọi đấy là “khoảng tỉnh” chứng tỏ chảy máu não lại tái phát hoặc xuất phát từ những ổ đụng giập não.

Chấn động não: Là trường hợp CTSN loại nhẹ nhất. Nạn nhân không mất ý thức, không có “khoảng tỉnh” nhưng không phải là hết hậu quả đáng lo ngại.

Câu trả lời:

Cột sống người trưởng thành, nhìn nghiêng là một trục cong hình chữ S, có 2 đoạn lồi về trước là đoạn cổ và thắt lưng và 2 đoạn lồi về sau là đoạn ngực và đoạn cùng. Cột sống gồm 33 – 34 đốt sống lớn dần từ trên xuống, được nối với nhau bởi các dây chằng và các đĩa sụn gian đốt. Ở giữa là một ống xương rỗng chứa tủy sống. Hai bên cột sống có các lỗ gian đốt sống để dây thần kinh tủy đi qua. Mỗi đốt sống gồm có cấu tạo chung gồm: 1 thân đốt sống nằm ở phía trước; 1cung đốt sống nằm ở phía sau; hai bên có mấu ngang nằm; phía sau có 1 mấu gai. Phần cung của mỗi đốt sống còn có 2 đôi diện khớp (1 đôi trên và 1 đôi dưới) và có 1 khuyết trên, 1 khuyết dưới. Các khuyết của 2 đôt sống cạnh nhau tạo thành lỗ gian đốt. Thân và cung đốt sống tạo nên lỗ đốt sống Cột sống được chia thành 5 đoạn: – Đoạn cổ gồm 7 đốt, có lỗ đốt sống to ở giữa và 2 lỗ nhỏ ở hai bên mấu ngang. Mấu gai dài dần từ đốt cổ 2 đến 7 và thường chẻ làm đôi (trừ đốt 7). Mặt thân đốt sống cổ nhỏ, dẹt, hình yên ngựa (làm cho đầu và cổ cử động linh hoạt). Trong quá trình tiến hóa, đốt sống cổ đã có sự biến đổi đặc biệt: đốt 1 biến đổi thành đốt đội; đốt 2 biến đổi thành đốt trục. Đốt đội có hình vòng khuyên, không có thân, mỏm gai, các khuyết và mấu khớp mà có 2 cung trước và sau, có mỏm ngang dài, mặt trên của khối bên có hõm khớp hình bầu dục để khớp với lồi cầu chẩm. Đốt trục có 1 thân nhỏ, trên thân có mỏm răng làm trục quay cho đốt đội. Hai bên mỏm răng có các diện khớp. – Đoạn ngực gồm 12 đốt, có đặc điểm chung là các đốt sống tương đối lớn, có một thân. Mỗi bên thân đốt sống có 2 diện khớp sườn (trên và dưới) để khớp với các đầu sườn. Mỏm ngang của các đốt sống ngực đều có hố sườn ngang để khớp với củ lồi sườn. Trên cung mỗi đốt sống có một khuyết làm thành lỗ gian đốt sống. Các mỏm gai dài dần và hướng xuống dưới, nhằm hạn chế sự cử động của phần ngực. Riêng đốt sống ngực 10 không có diện sườn dưới. Đốt ngực 11 và 12 chỉ có 1 hồ sườn để khớp với các xương sườn tương ứng, các mỏm ngang không có hố sườn ngang. – Đoạn thắt lưng có 5 đốt, có đặc điểm chung là thân đốt sống dày và lớn nhất, lỗ đốt sống lớn. Diện khớp phát triển mạnh và theo chiều hướng đứng thẳng. Mấu gai to, dày và nằm ngang tạo kiều kiện cho cử động vùng thắt lưng dễ dàng. – Đoạn cùng gồm 5 đốt dính lại với nhau tạo thành một khối hình tháp đỉnh hướng xuống dưới. Mặt trước có 4 đôi lỗ cùng trước, mặt sau lồi có 4 đôi lỗ cùng sau (các lỗ này để dây thần kinh chậu đi qua). Cuối xương cùng có đoạn ống chứa phần cuối tủy sống. Hai bên xương cùng có diện khớp với xương chậu tạo thành chậu – hông. – Đoạn cụt gồm 4 -5 đốt phát triển không đầy đủ, dính lại với nhau. Đây là vết tích đuôi của động vật có xương sống. Các đốt sống liên kết với nhau bởi các đĩa sụn gian đốt và các dây chằng. Cả cột sống có 23 đĩa sụn được bố trí từ đốt sống cổ 2 đến đốt thắt lưng 5. Trong mỗi đĩa sụn có một hạch bằng chất keo và được bao quanh bởi sụn có tính đàn hồi (nhờ đặc tính này của hạch làm cho cột sống cử động và giảm các chấn động khi cơ thể vận động). Tùy theo vị trí và độ dày của các đĩa sụn mà độ linh hoạt giữa các đoạn sống có khác nhau. Các đĩa sụn ở đoạn thắt lưng dày nhất, đĩa sụn đoạn ngực mỏng nhất, do vậy đoạn ngực kém linh hoạt hơn. Hệ thống dây chằng gồm các dây chằng dọc trước rộng, chắc, có tác dụng hạn chế việc ngửa người ra sau. Các dây chằng dọc sau nhỏ và kém bền hơn, nhưng có độ đàn hồi tốt nên cơ thể gậ̣p thân về trước dễ dàng. Dây chằng giữa các đốt sống nối 2 cung đốt sống lại với nhau. Dây chằng nối các mấu ngang và các mấu gai (trừ đốt sống cổ). So với động vật, cột sống của người linh hoạt hơn nhờ các khớp giữa các đốt sống. Các khớp cột sống là những khớp bán động, phạm vi hoạt động giữa 2 đốt sống rất bé, nhưng cả cột sống thì hoạt động rộng hơn, quay theo 3 trục và thực hiện được nhiều động tác: – Vận động quanh trục ngang trước – sau: cho động tác nghiêng phải, trái. – Vận động quanh trục thẳng đứng: cho động tác vặn người sang 2 bên.( xoay vòng) – Vận động quanh trục ngang trái – phải: cho động tác gập, duỗi người. – Vận động nhún kiểu lò xo: Khi nhún để nhảy hay khi nhún người lên cao. Riêng ở đoạn ngực cử động hạn chế, thích nghi với chức năng bảo vệ.

Câu trả lời:

Trong 1 sợi trục thần kinh, nếu kích thích ở một điểm bất kì trên sợi trục thì xung xuất hiện sẽ lan truyền theo cả hai chiều. Vì cả hai bên của nơi (điểm) bị kích thích, màng vẫn ở trạng thái nghỉ nên dòng điện động xuất hiện sẽ kích thích màng ở cả hai bên, làm thay đổi tính thấm và nơi này sẽ xuất hiện kích thích màng ở cả hai bên, làm thay đổi tính thấm và nơi này sẽ xuất hiện điện động. Cứ như vậy xung thần kinh được lan truyền theo cả hai chiều.

Kết luận trên đây có thể được chứng minh bằng các thí nghiệm sau :

Thí nghiệm 1 : babukhin A.I (1876) nghiên cứu sự dẫn truyền hưng phấn trên sợi thần kinh đi tới cơ quan phát điện của một loài cá đuối.

Ông cắt rời sợi thần kinh khỏi thân nơron, Sợi thần kinh gồm nhiều nhánh phân bố tới các tấm điện trong cột điện bên thân cá. Sau đó ông tiếp tục cắt bỏ phần giữa của cột điện, các tấm điện ở phần trên và dưới của cột điện chỉ còn liên hệ với nhau nhờ các nhánh của sợi thần kinh.

Khi kích thích đầu trung ương của bất kì một nhánh nào thì cũng thấy cả 2 phần trên, dưới của cột điện, đã bị cách li, đều phóng điện.

Thí nghiệm 2 : Cơ thẳng của đùi ếch gồm 2 nữa được chi phối bởi hai nhánh của cùng một sợi thần kinh vận động. Người ta cắt đôi nhánh 1, kích thích đầu ngoài cho thấy nửa thứ nhất của cơ thẳng trong co, nhưng nếu bị kích thích đầu trong của nhánh 1 thì nửa thứ 2 của cơ thẳng trong co.

* Trong 1 cung phản xạ thì xung thần kinh chỉ truyền theo 1 chiều từ cơ quan thụ cảm (khi bị kích thích) theo nơron cảm giác về trung ương, qua nơron trung gian chuyển sang nơron vận động đến cơ quan đáp ứng, vì khi qua xinap xung thần kinh chỉ truyền theo một chiều nhất định nhờ chất môi giới trung gian hóa học được giải phóng từ chùy xinap của nơron trước sẽ được các thụ thể ở màng sau xinap (trên nơron tiếp sau hoặc cơ quan đáp ứng) tiếp nhận và xung thần kinh tiếp tục truyền đi.

Ngoài xinap trên là xinap hóa học còn có loại xinap điện. Ở xinap điện thông tin từ tế bào hay nơron trước được chuyển giao trực tiếp sang tế bào tiếp theo (hay nơron sau) qua 1 khe hẹp khoảng 2nm dưới dạng xung điện cực nhanh. Loại xinap này không phổ biến như xinap hóa học và chỉ có ở các cơ tim, một số cơ trơn (trên thành ống tiêu hóa, khí quản) cùng một vài vùng ở não. Loại xinap này cho phép thông tin dẫn truyền hai chiều (khác xinap hóa học chỉ dẫn truyền 1 chiều từ màng trước sang màng sau xinap).