Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Bắc Ninh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 15
Số lượng câu trả lời 156
Điểm GP 19
Điểm SP 115

Người theo dõi (32)

Anna Trần
diệp phạm
Nguyễn Thư

Đang theo dõi (4)

Sách Giáo Khoa
Bình Trần Thị
Nguyen Thuy Linh
Thùy Ngân

Câu trả lời:

-Phản xạ không điều kiện là những phản xạ có từ khi sinh ra :
+ Tự nhiên, bẩm sinh mà có.
+ Không dễ bị mất đi.
+ Mang tính chủng thể, di truyền.
+ Số lượng có hạn.
+Thực hiện nhờ tuỷ sống và những bộ phận hạ đẳng của bộ não, bằng mối
liên hệ thường xuyên và đơn nghĩa của sự tác động giữa các bộ phận tiếp
nhận này hay bộ phận tiếp nhận khác và bằng sự phản ứng đáp lại nhất
định => Cung phản xạ đơn giản.
+ Những phức thể phức tạp và những chuỗi phản xạ không điều kiện được
gọi là những bản năng.
VD: khi em bé mới sinh thì phải bú sữa, khi bạn bị ong đốt thì bạn kêu á,...
-Phản xạ có điều kiện là những phản xạ trong quá
trình mình sống tác động lên mình, cũng giống
như 1 thói quen vậy:
+ Có được trong đời sống, được hình thành trong những điều kiện nhất định.
+ Dễ bị mất đi nếu không được củng cố, tập luyện.
+ Mang tính cá nhân, không di truyền.
+ Số lượng vô hạn.
+ Được hình thành bằng cách tạo nên những dây liên lạc tạm thời trong vỏ não => Cung phản xạ phức tạp, có đường liên hệ tạm thời.
VD: bạn hay dậy sớm buổi sáng, bạn duy trì như thế trong một thời gian dài. như thế, sau này cứ đến giờ đó là bạn tỉnh dậy, bất kể không có báo thức

Câu trả lời:

Trước tiên, bạn có thể xác định nhiều hành vi mà mình muốn thay đổi, có thể bạn sẽ cố thay đổi tất cả những hành vi này cùng một lúc. Nếu bạn làm như vậy thì chắc bạn sẽ chẳng thay đổi được một hành vi nào cả, vì bạn sẽ bị kẹt trong mớ những hành vi cần thay đổi đó. Tại một thời điểm chỉ nên trọn lấy một hoặc hai hành vi để thay đổi. Khi bạn đã nhuần nhuyễn với hành vi mới thì bạn có thể chuyển sang thay đổi một hành vi khác.

Đôi khi rất khó có thể xác định được những hành vi cần được thay đổi. Hành vi đó có thể là một thói quen xấu phổ biến mà bạn cũng như những người xung quanh đều có. Ví dụ như ở Việt Nam, có khoảng 60% nam giới hút thuốc lá. Tuy nhiên, không phải cứ có nhiều người hút thuốc thì có nghĩa là thói quen này không có hại cho sức khoẻ của bạn cũng như những người xung quanh. Khi bạn hiểu rõ bản thân hơn và có kiến thức rộng hơn thì bạn cũng dễ dàng xác định được những hành vi cần thay đổi.

Nên nhớ rằng mặc dù bạn luôn muốn hoàn thiện bản thân nhưng cũng có những đặc điểm bạn không thể thay đổi được. Ví dụ, nếu bạn không cao nhưng luôn muốn mình cao hơn, nếu như bộ gien đã qui định chiều cao của bạn thì cho dù bạn nỗ lực đến mấy thì bạn không thể cao hơn được. Chỉ tập trung vào những hành vi mà bạn có thể thay đổi chứ đừng tập trung vào những gì mình không thể.

Câu trả lời:

Nó có ý nghĩa cho việc học nhé.Lấy vd nhé chỉ hơi dài thôihehe

1/Về nguồn gốc :
Phản xạ có điều kiện được hình thành trong đời sống và phải qua quá trình tập luyện.Thí nghiệm phản xạ reo mừng của trẻ nhỏ khi gặp người thân
2/Về cơ sở thần kinh :
Trung ương thần kinh của phản xạ có điều kiện nằm ở vỏ đại não.Thí dụ chim bồ câu bị phá võ não không còn nhận ra những hạt thức ăn thường dùng.
3/Về tính chất và khả năng di truyền :
Phản xạ có điều kiện có tính cá thể và không di truyền .Thí dụ cùng một công cụ tập luyện nhưng các con có được tập luyện theo các mục đích khác nhau,về sau sẽ có phản xạ khác nhau.
4/Về thời gian tồn tại:
Phản xạ có điều kiện không bền vững , dễ mất đi nếu không được củng cố
5/Mối tương quan giữa kích thích và phản xạ:

Phản xạ có điều kiện biểu hiện không tương ứng với kích thích , cùn một kích thích có thể gây ra nhiều phản xạ khác nhau

Ý nghĩa lớn nhất của chúng chính là trong hoạt động sống, sinh hoạt cũng như học tập. Thông qua sự thành lập và ức chế các phản xạ có điều kiện mà con người có thể hình thành nên những thói quen tốt, loại bỏ những thói quen xấu, hình thành những phản ứng tích cực với những kích thích từ bên ngoài. Cũng thông qua các tập tính đó mà con người làm cho các mối quan hệ xã hội cũng như nền văn hóa ngày càng phát triển.

-Thành lập PXCĐK ở con người nghĩa là hình thành những việc làm và thói quen trong cuộc sống mà bẩm sinh chúng ta không có được, PXCĐK chỉ hình thành qua sự học tập và rèn luyện ở chính bản thân ,ở những người xung quanh hoặc sự việc xảy ra quanh ta .
Ví dụ:-học ở bản thân : mới đầu tập chạy xe đạp ,ta kg giữ được thăng bằng và ...té. Sau đó rút kinh nghiệm bản thân... cố gắng hơn !!! Và cuối cùng ta đã chạy xe hết sức PRO (he...he...)
-học ở người xung quanh : thấy người khác vượt đèn đỏ và bị công an giao thông xử phạt thì ta sẽ học được bài học từ người đó là kg dám vượt đèn đỏ.
.....
Tuy nhiên hình thành PXCĐK theo hướnh tích cực thì sẽ góp phần làm cho cuộc sống đẹp và ý nghĩa hơn. vd : thói quen kg xả rác nơi công cộng, biết chia sẻ công việc nhà với ba mẹ, tham gia tích cực phát biểu trong giờ học, lễ phép với người lớn, tham gia chơi thể thao...

Nếu hình thành PXCĐK theo hướng tiêu cực thì sẽ có nhiều nguy hại cho bản thân người học và lâu dần hình thành thói quen xấu vd : biếng học bài quen rồi nên khi học bài sẽ thiếu tập trung, mau chán và cứ thế bỏ dần bài học do mất căn bản hoặc thói quen ngủ dậy trễ...

=> vì vậy cần chọn lọc những PXCĐK và ức chế những PXCĐK mang tính tiêu cực để xây dưng con người mới tốt đẹp hơn. Và ức chế cũng kg khó vì sự hình thành PXCĐK cũng chỉ tạm thời và dễ mất đi nếu kg củng cố nên thời gian đầu tuy khó bỏ vì đã hình thành thói quen nhưng cứ quyết tâm thì ta sẽ bỏ được thay vào đó là những PXCĐK khác tốt hơn.

Câu trả lời:

Máu tuần hoàn trong cơ thể, thậm chí lúc ngủ cũng không ngừng chảy. Vậy quy luật lưu động của máu như thế nào? Như ta đã biết, máu là chất lỏng giống như nước. Nước máy chảy trong đường ống đến khắp mọi nhà. Máu cũng phải chảy trong đường ống cố định, đường ống đó gọi là mạch máu.

Mạch máu bắt đầu từ tim, có đủ kích thước từ to đến nhỏ, dài đến ngắn, có cả những mạch máu nhỏ li ti mắt thường không nhìn thấy được, dày đặc như mạng nhện, phân bố khắp cơ thể. Nếu cộng chiều dài các mạch máu trong toàn cơ thể, ta sẽ được một đoạn thẳng dài đến 10 vạn km, đủ để quấn quanh quả đất hai vòng rưỡi. Mạch máu mới nhìn qua gần như giống nhau, nhưng thực ra được chia làm hai loại lớn là động mạch và tĩnh mạch. Máu chảy trong động mạch là "máu sạch", còn máu chảy trong tĩnh mạch là "máu bẩn".

Máu được bơm từ tim ra chứa ôxy và các chất dinh dưỡng, gọi là "máu sạch". Thông qua động mạch, nó chảy vào các mạch máu li ti phân bố khắp trong cơ thể, đưa ôxy và các chất dinh dưỡng đến cung cấp cho tế bào, tức là cho tế bào "thở" và "ăn uống". Các tế bào lại thải ra khí CO2 và các chất thải vào máu. Thế là "máu sạch" biến thành "máu bẩn", chảy về tĩnh mạch, thông qua phổi, thận và da để thải các chất độc ra ngoài, biến thành máu sạch quay về tim.

Cứ như thế, máu tuần hoàn không ngừng trong động mạch và tĩnh mạch.

Câu trả lời:

Đầu tiên cần phải hiểu cảm xúc là gì bạn nhé:

-Cảm xúc hay xúc cảm là một hình thức trải nghiệm cơ bản của con người về thái độ của chính mình đối với sự vật, hiện tượng của hiện thực khách quan, với người khác và với bản thân. Sự hình thành cảm xúc là một một điều kiện tất yếu của sự phát triển con người như là một nhân cách. Cảm xúc có nhiều loại: cảm xúc đạo đức, cảm xúc thẩm mỹ, cảm xúc trí tuệ... Một đặc trưng của cảm xúc là có tính đối cực: yêu và ghét, ưa thích và không ưa thích, xúc động và dửng dưng...

Từ quan điểm tiến hóa, cảm xúc là một động lực, nó là tác nhân thay đổi và phản ứng. Ví dụ như ghê tởm là một phản ứng khó chịu chúng ta được trải nghiệm khi chúng ta gặp phải việc gì đó khiến chúng ta cảm thấy muốn bệnh; sự tức giận là bước chuyển tiếp dẫn chúng ta từ trạng thái điềm tĩnh đến trạng thái sẵn sàng chiến đấu, phản ứng mạnh; sự sợ hãi nhắc nhở chúng ta cần phải chạy trốn trước tình huống nguy hiểm.

Mặt khác, trạng thái buồn bã có thể tạo ra quyết tâm cần thiết để thay đổi hướng đi của con người. Cảm xúc cũng là tác nhân thúc đẩy chúng ta tiếp tục làm những gì đang làm, ví dụ như việc trải nghiệm niềm vui sẽ giúp chúng ta có thêm động lực để thực hiện tiếp các hành vi có khả năng dẫn tới cảm xúc này tiếp.

...........Mình chỉ bết vậy thôi gõ mỏi cả tay rồi............

hehe

Câu trả lời:

Cả khí O2 và CO2 đều được vận chuyển trong máu bằng hai hình thức: Hoà tan vật lý và liên kết hoá học. (1) Vận chuyển O2: Lượng khí ôxy trực tiếp hoà tan trong máu để tiến hành vận chuyển là rất ít, lượng hoà tan...

Ảnh minh họa

Cả khí O2 và CO2 đều được vận chuyển trong máu bằng hai hình thức: Hoà tan vật lý và liên kết hoá học.

(1) Vận chuyển O2: Lượng khí ôxy trực tiếp hoà tan trong máu để tiến hành vận chuyển là rất ít, lượng hoà tan đó được quyết định bởi độ cao thấp của phân áp của khí ôxy. Khi áp suất khí ôxy trong túi phổi là 13300Pa, trong mỗi lít máu ở động mạch được trao đổi khí thông qua màng hô hấp chỉ hoà tan 0,3ml khí ôxy, không thể đáp ứng được nhu cầu về khí ôxy của các mô và tế bào. Nhưng khí ôxy bao giờ cũng hoà tan trong huyết tương trước, rồi mới có thể phân đến các tế bào và huyết sắc tố để tiến hành liên kết hoá học.

Khoảng 98% khí ôxy được vận chuyển đến các mô bằng hình thức liên kết với huyết sắc tố trong hồng cầu. Huyết sắc tố có thể liên kết được với ôxy hay không cũng có quan hệ với áp suất khí ôxy. Khi áp suất khí ôxy cao, huyết sắc tố dễ liên kết mềm với ôxy; khi áp suất khí ôxy thấp thì huyết sắc tố dễ phân ly khỏi ôxy.

Khi máu từ tĩnh mạch chảy qua mao mạch phổi, do áp suất khí ôxy trong túi phổi cao đến 13300Pa, nên huyết sắc tố liên kết nhanh chóng với ôxy, hầu như bão hoà hoàn toàn trong máu động mạch. Khi máu trong động mạch chảy ra các mô có áp suất khí ôxy tương đối thấp, thì khoảng 25% khí ôxy phân ly khỏi huyết sắc tố để cung cấp cho tế bào. Với mỗi gam huyết sắc tố đã hoàn toàn bão hoà thì nhiều nhất chỉ liên kết được với 1,34ml ôxy. Trong mỗi lít máu của người lớn bình thường chứa khoảng 14g huyết sắc tố, nên nhiều nhất chỉ có thể liên kết với 18,7ml ôxy. Ở những người thiếu máu, hàm lượng huyết sắc tố tương đối thấp nên lượng khí ôxy vận chuyển trong máu cũng giảm đi.

(2) Vận chuyển của CO2: Độ hoà tan trong nước của CO2 lớn hơn so với ôxy. Lượng CO2 hoà tan trong máu chiếm 7% toàn bộ lượng CO2 vận chuyển. CO2 chủ yếu vận chuyển trong huyết tương, thấm qua màng tế bào vào hồng cầu, dưới tác dụng xúc giác của men anhydrit axit, CO2 hoà vào nước thành axit cacbonnic, rồi liên tiếp phân giải thành ion hydro và ion cacbonnic, rồi liên tiếp phân giải thành ion hydro và ion hydrocacbonat để tiến hành vận chuyển. Ngoài ra, còn có một số lượng nhỏ CO2 liên kết với amoni A rồi vận chuyển đi. Khi máu trong tĩnh mạch chảy qua mao mạch túi phổi thì CO2 ở các hình thức khác nhau lại hoà tan trong huyết tương, thông qua sự phân tán vào túi phổi, sau đó được thở ra ngoài cơ thể.