Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Đăk Lăk , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 0
Số lượng câu trả lời 52
Điểm GP 6
Điểm SP 37

Người theo dõi (7)

Tôi là ...?
miuka

Đang theo dõi (3)

miuka

Câu trả lời:

Để chứng minh cho tính chất chân lý hiển nhiên , Nguyễn Trãi dẫn sự thật lịch sử để chứng minh .Đó chính là sức mạnh của nguyên lý nhân nghĩa và chân lý độc lập chủ quyền .Nếu ở bài Sông núi nước Nam ,Lý Thường Kiệt mới chỉ công báo :
" Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư "
thì ở đây là nhiều dẫn chứng cụ thể ,sinh động ,được nêu với giọng văn châm biếm ,khinh bỉ ,khẳng định thất bại của vua quan ,tướng tá TQ khi chúng cố tình tham lam ,thích bành trướng ,mang tư tưởng nước lớn ,bá quyền ,cố tình đi ngược lại chân lý hiển nhiên thì chỉ chuốc lấy bại thảm hại .Những địa danh sông Bạch Đằng ,bến Chương Dương ,cửa Hàm Tử mãi mãi là nấm mồ chôn quân xâm lược .Kẻ thù thất bại ,tiêu vong vì động cơ ích kỷ ,vì " thích lớn " ,"tham công " .Dựa vào tướng giỏi ,quân đông ,không " lấy nhân nghĩa làm gốc " , hậu quả ấy không thể tránh khỏi .
Hai câu kết đoạn có ý nghĩa : Khẳng định sự thật oai hùng và vang lên niềm tự hào của dân tộc Đại Việt .Ở đoạm kết vưa có cái nguyên cớ của sự bại vong như những hiện vật trong viện bảo tàng ,với kẻ địch là một sự nhục nhã muôn đời khôn rửa ,còn với ta ,đó là minh chứng cho một lẽ phải hùng hồn mà dân tộc Đại Việt đã gửi trọn niềm tin vào đó . Lời tiên tri ( 2 câu đầu ) đã có ứng nghiệm theo luật quả báo ( nhân nào quả ấy ) tứ thời .
Nói tóm lại ,về ý nghĩa ;chứng tỏ sự phát triển và trưởng thành thêm một bước về ý thức dân tộc ,lịch sử ,tư tưởng ,văn hóa của dân tộc Đại Việt từ đời Lý đến đời Lê ,trải qua 5 thế kỷ
Cách lập luận này cho thấy bài cáo cần có tính logic cao độ .Phía sau phần "Từng nghe " là những chân lý đã được kiểm định vững chắc trong lịch sử .còn "vậy nên " là kết quả tất yếu phù hợp với tiền đề " từng nghe " đã nói ở trên .Những dẫn chứng thực tiển đó là chứng cớ còn ghi trong sử sách không thể bác bỏ ,không thể chối cãi .Hai cặp phạm trù logic kín kẻ : Khi nói đến nguyên lý nhân nghĩa thì Nguyễn Trãi viết " từng nghe " ;còn khi khẳng định sức mạnh nhân nghĩa sức mạnh của độc lập dân tộc thì ông dùng từ " còn ghi " ( sử sách ghi lại không thể chối cải ) .Chính xác hơn ,được thiết lập trên cơ sở mối quan hệ nhân quả
Vơi cách lập luận chặt chẽ và chứng cứ hùng hồn ,đoạn trích Nước Đại Việt ta có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc ta .Bề nỗi của lời văn là sụ nghiêm khắc răn dạy ,còn chiều sâu thấm thía một đạo lý ,một tư tưởng ,một lẽ phải làm người : Nhân nghĩa .Vậy Nước Đại Việt ta có sự tiếp nối và phát triển của ý thức dân tộc ở bài thơ Nam Quốc Sơn Hà

Câu trả lời:

Jăng Jắc Ru- xô là nhà văn, nhà triết học, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của nước Pháp thế kỷ XVIII. Đoạn trích “Đi bộ ngao du” trích từ luận văn “ Ê-min hay về giáo dục”- một tác phẩm đề cập đến vấn đề giáo dục một em bá từ lúc trào đời cho đến lúc khôn lớn. Em bé đó là Ê-min. Nhân vật đảm nhiệm chức vụ giáo dục em bé là nhà văn. Tác phẩm có năm chương, ứng với năm giai đoạn của quá trình giáo dục.

Đoạn trích “Đi bộ ngao du” trích trong chương V khi Ê-min đã trưởng thành. Đoạn trích và một bài văn nghị luận chặt chẽ nói về tác dụng của việc đi bộ.

Thứ nhất, ông đưa ra tác dụng: Đi bộ ngao du thì hoàn toàn tự do, không phụ thuộc vào ai. Có lẽ luận điểm đã đánh vào mong muốn của tất cả mọi người,  ai cũng mong muốn tự do, sự phụ thuộc đẩy con người đến những thái độ tiêu cực, việc đi bộ ngao du giúp con người thoát khỏi chính sự nô lệ của mất tự do. Tác giả dùng những lý lẽ của mình để minh chứng cho luận điểm đang thu hút người đọc ấy. Ông nhắc người ta đến thói quen hàng ngày là đi ngựa, đó cũng là một cách đi mang đến nhiều sự thi vị. Nhưng để ngao du người ta cần đi bộ. Tác giả minh chứng cụ thể bằng việc đưa ra những lợi ích vô cùng thiết thực: “Ta ưa đi lúc nào thì đi, ta thích dừng lúc nào thì dừng, ta muốn hoạt động nhiều ít thế nào là tùy. Ta quan sát khắp nơi ; ta quay sang phải,sang trái ; ta xem xét tất cả những gì thấy hay hay ; ta dừng lại ở tất cả mọi khía cạnh.” Đi bộ đang thực chất đem lại mọi thứ tự do mà con người muốn được hưởng thụ. Tác giả cũng đặt ra trường hợp thời tiết xấu, ảnh hưởng đến việc đi bộ, người ta cũng thoải mái trong việc tự do, lúc đó có thể lựa chọn phương tiện đi lại.

Để thuyết phục người đọc trong việc nhìn nhận luận điểm của mình, tác giả dùng hai đại từ nhân xưng, khi dùng “ta” là lợi ích mà tất cả mọi người, ai cũng có thể đạt đến, ai cũng được tự do giống nhau khi đi bộ, sự hưởng thụ là không giới hạn và không có bất cứ sự giao tranh đố kị trong việc đi bộ ngao du ấy. Đó là tự do. Khi dùng “tôi”, mọi kinh nghiệm riêng được bày ra với sự tự nhiên và thuyết phục cao: “Tôi nhìn thấy một dòng sông ư, tôi đi men theo sông ; một khu rừng rậm ư, tôi đi vào dưới bóng cây ; một hang động ư, tôi đến tham quan ; một mỏ đá ư, tôi xem xét các khoáng sản. Bất cứ đâu tôi ưa thích, tôi lưu lại đấy. Hễ lúc nào tôi thấy chán,tôi bỏ đi luôn. Tôi chẳng phụ thuộc vào những con ngựa hay gã phu trạm”. Đó là những trải nghiệm thực tế, không hề ba hoa, không hề vẽ ra để khẳng định thực tế lớn lao: đi bộ ngao du đem đến sự tự do đẹp như trong mơ vậy! Người đọc cảm nhận được sự dễ hiểu, bị thu phục và dễ làm theo.