Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 173
Số lượng câu trả lời 388
Điểm GP 22
Điểm SP 413

Người theo dõi (88)

Đang theo dõi (19)

Phương Linh
Kudo Shinichi
Mori Ran

Câu trả lời:

1. Phân loại động, thực vật
Tính đa dạng của động vật và thực vật là sự phong phú về các loài, các cá thể của loài và môi trường sống của chúng.
Thực vật bao gồm những sinh vật có đặc điểm chung là: tự tổng hợp được chất hữu cơ, phần lớn không có khả năng di chuyển, phản ứng chậm với các kích thích từ bên ngoài. Thực vật có hoa là những thực vật mà cơ quan sinh sản là hoa, quả, hạt. Ví dụ như cây lúa, ngô, khoai, bầu, bí, hoa hồng, cây gỗ lim…Thực vật không có hoa có cơ quan sinh sản không phải là hoa, quả. Ví dụ như cây rêu, cây dương xỉ, cây thông…Giới Thực vật được chia thành nhiều ngành có những đặc điểm khác nhau: Ngành Rêu, Ngành Dương xỉ, Ngành Hạt trần, Ngành Hạt kín.
 Động vật bao gồm những sinh vật có đặc điểm chung là: có khả năng di chuyển, có hệ thần kinh và giác quan, dị dưỡng. Giới Động vật được chia thành nhiều ngành có những đặc điểm khác nhau như : Ngành Động vật nguyên sinh, Ngành Ruột khoang, các ngành Giun, Ngành Thân mềm, Ngành Chân khớp, Ngành Động vật có xương sống (gồm các lớp: Cá, Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú).
2. Vai trò của động, thực vật
- Cây mọc ven đường cho bóng râm và làm đẹp cho thành phố, làng quê. Người ta đã tính rằng cứ một cây xanh trồng trong thành phố bằng 5 máy điều hòa chạy liên tục 20 giờ 1 ngày. Cây còn tác dụng cản bớt ánh sáng và cản sức gió nên có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu, tăng lượng mưa của khu vực.
 Trong quá trình quang hợp cây lấy vào khí cacbonic và nhả ra khí ôxi cung cấp cho quá trình hô hấp của con người và động vật. Người ta ước tính rằng cứ 1 hécta cây trồng cung cấp đủ ôxi cho 30 người sống khỏe mạnh trong 1 năm. Những nơi có nhiều cây cối thường có không khí trong lành, cây còn có tác dụng ngăn bụi, diệt một số vi khuẩn, giảm ô nhiễm môi trường. Thực vật nhờ có tán cây cản bớt sức chảy của dòng nước do mưa lớn gây ra,  rễ cây giữ đất nên góp phần quan trọng chống xói mòn, hạn chế lũ lụt, giữ nguồn nước ngầm, tránh hạn hán.
- Thực vật là nguồn lương  thực, thực phẩm chủ yếu của loài người: Cây lương thực, Cây làm thức ăn, Cây làm gia vị, Cây ăn quả cung cấp đường, chất khoáng, vitamin.
 - Thực vật là nguyên liệu để sản xuất giấy, đồ gỗ, nhựa, dầu thực vật, tinh dầu thực vật, đồ uống, thuốc chữa bệnh và các dụng cụ phục vụ cho đời sống như thảm, túi xách, chổi …
 - Vai trò của động vật trong sản xuất: trâu bò cày bừa, voi vận chuyển gỗ, ngựa kéo xe, dâu tằm sản xuất tơ…Động vật còn là nguồn cung cấp thức ăn, dược phẩm, nguyên liệu xuất khẩu, sản xuất đồ da.
 3. Các biện pháp bảo vệ động, thực vật
+ Chăm sóc và bảo vệ cây con.
+ Chăm sóc và bảo vệ động vật có ích dùng để tiêu diệt các động vật phá hoại mùa màng như  bọ rùa, ong mắt đỏ, chim sẻ…
+ Không săn bắt động vật hoang dã và sử dụng những vật dụng được sản xuất từ động vật hoang dã như da, lông, ngà voi…
+ Bảo vệ, không khai thác các động thực vật quý hiếm  trong sánh đỏ Việt Nam về động vật gồm các loài như: ốc xà cừ, hươu xạ, tôm hùm, rùa núi vàng, cá ngựa gai, khỉ vàng, gà lôi trắng, sóc đỏ, khướu đầu đen …
+ Thực hiện Luật BVMT, ngăn chặn phá rừng để bảo vệ môi trường sống của động thực vật; khuyến khích trồng cây gây rừng (kể cả rừng ngập mặn), phủ xanh đồi trọc.
+ Bảo vệ biển và bờ biển, chống ô nhiễm môi trường biển để bảo vệ động thực vật biển.
+ Tham gia tuyên truyền giáo dục rộng rãi để mọi người cùng tham gia bảo vệ rừng và biển.
II. GỢI Ý HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
I. MỤC TIÊU
Về kiến thức
- Kể tên và nhận biết được một số loài động thực vật ở Việt Nam. 
- Nêu được vai trò quan trọng của động vật, thực vật đối với đời sống của con người.
Về kĩ năng
- Rèn kĩ năng quan sát, nhận biết cây cối và con vật.
- Chăm sóc, bảo vệ  cây cối và con vật.
Về thái độ 
- Yêu thiên nhiên.
- Có thái độ đồng tình với những việc làm cần thiết để bảo vệ cây cối và những con vật có ích.
III. PHƯƠNG PHÁP VÀ HÌNH THỨC
Học sinh THCS đã có khả năng quan sát, nhận biết, có ý thức bảo vệ động, thực vật, bảo vệ môi trường, vì vậy, cần cung cấp thêm thông tin cho các em để HS biết được sự đa dạng về sinh vật ở Việt Nam và ở địa phương mình, biết được vai trò của động thực vật đố với đời sống cũng như đối với nền kinh tế của địa phương. Giáo dục cho các em ý thức bảo vệ động, thực vật bằng cách chăm sóc chúng, phản đối những việc làm ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sinh vật, ảnh hưởng đến môi trường. Do đó, tùy theo từng lớp, tùy theo thời gian thực hiện mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho thích hợp.
- Một số phương pháp có thể tham khảo:
a/ Phương pháp trò chơi . Thông qua các trò chơi giúp các em chơi mà học. Ví dụ:
- Trò chơi : Đố vui “ Đoán xem con gì? Đoán xem cây gì?” 
Cách chơi: Mỗi HS tham gia trò chơi được phân công là một loài cây hoặc con vật. Lần lượt từng em đứng trước lớp và hỏi cả lớp :
Đố các bạn tôi là con gì? (hay cây gì?) 
Tôi có đặc điểm như sau...
Tôi có ích (hay có hại) cho cuộc sống của con người ? 
Các bạn sẽ làm gì để bảo vệ tôi nếu cả họ nhà tôi bị tiêu diệt hết ?
Cá nhân hoặc tổ nào trả lời nhanh và đúng sẽ thắng cuộc.
- Trò chơi: Xem ai đoán nhanh  
GV chuẩn bị những hình vẽ hay những đoạn băng về các cây, con sống trong các môi trường khác nhau. Tổ chức cho các em chơi theo cá nhân hoặc theo nhóm . Xem nhóm nào đoán nhanh tên cây con và môi trường sống của chúng, đoán xem khi nào thì chúng sinh trưởng và phát triển tốt, khi nào thì chúng bị tiêu diệt. 
Cá nhân hoặc nhóm nào đoán nhanh và đúng sẽ thắng cuộc.
- Trò chơi giải ô chữ.
- Trò chơi mở các mảnh ghép…
b/ Phương pháp thảo luận
Đây là phương pháp được sử dụng nhiều trong GDBVMT. Qua thảo luận, mọi HS đều suy nghĩ, đóng góp ý kiến của mình giúp các em hứng thú, tự tin trình bày và bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể.
Ví dụ: Giả sử nếu không có động vật và thực vật thì đời sống của chúng ta sẽ ra sao? Nhà bạn nuôi con vật nào? Bạn hãy nêu cách bạn chăm sóc con vật đó? 
c/ Phương pháp thực nghiệm
Tổ chức cho HS trực tiếp được trải nghiệm, được tham gia vào công việc cụ thể như: Trồng và chăm sóc cây rau cải; Nuôi và chăm sóc mèo; Quan sát khi mèo bắt chuột...Qua quá trình thực nghiệm giúp các em rèn kĩ năng thiết kế thí nghiệm, quan sát, nhận xét, đánh giá. Mặt khác còn làm cho các em yêu lao động, biết quý trọng thành quả lao động, yêu cây, con mà mình chăm sóc, trồng trọt, biết được giá trị và có ý thức bảo vệ chúng. 
d/ Phương pháp tham quan, điều tra khảo sát thực địa 
Trên cơ sở quan sát, điều tra khảo sát giúp HS thấy được sự phong phú đa dạng của động thực vật, yêu thiên nhiên đồng thời cũng thấy được những thực trạng về môi trường để giúp các em hành động đúng và lên án những hành động làm ô nhiễm môi trường. Đồng thời, tổ chức các hoạt động thực tiễn giúp học sinh có ý thức lao động, có thói quen bảo vệ môi trường tại trường, lớp, gia đình và xã hội.
Ngoài ra, có thể tổ chức các cuộc thi như: Thi tìm hiểu động thực vật tại địa phương; Thi vẽ tranh về động thực vật... ; tổ chức câu lạc bộ bảo vệ môi trường, bảo vệ biển...
    

Câu trả lời:

  

Cứ mỗi khi nhắc tới những địa điểm du lịch ở nước ta, người ta lại nghĩ đến Vịnh Hạ Long, đảo Cát Bà, Phan Thiết,… nhưng một trong những địa danh nổi tiếng ấy không thể thiếu động Phong Nha – di sản văn hóa thế giới. Sự kì ảo của động Phong Nha đã đem lại cho du khách cảm giác thích thú như được lạc vào thế giới thần tiên. Động Phong Nha là một quà tặng của thiên nhiên dành cho đất nước ta.

Động Phong Nha nằm trong vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, một vườn quốc gia tại huyện Bố Trạch và Minh Hóa thuộc tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía Nam. Phong Nha – Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000ha. Vườn quốc gia bao gồm 300 hang động lớn nhỏ khác nhau. Điểm đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động và các sông ngầm, hệ thống động vật quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và sách đỏ Thế giới. Các hang động ở đây với tổng chiều dài là khoảng hơn 80km nhưng các nhà thám hiểm Anh và Việt Nam mới chỉ tìm hiểu được 20km. Vào tháng 4 năm 2009, một đoàn thám hiểm thuộc Hiệp hội Hoàng gia Anh đã phát hiện ra một hang động khác lớn hơn rất nhiều động Phong Nha nhưng động Phong Nha vẫn là hang động giữ nhiều kỉ luật về cái “nhất”: hang nước dài nhất, cửa hang cao và rộng nhất; bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; hồ ngầm đẹp nhất; thạch nhũ tráng lệ và kì ảo nhất; dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; hang khô rộng và đẹp nhất thế giới.

Trước đó, khi Phong Nha – Kẻ Bàng chưa phải là vườn quốc gia, khu vực này là khu vực bảo tồn thiên nhiên, từ ngày 9 tháng 8 năm 1986 được mở rộng thêm diện tích là 41132ha. Mãi đến ngày 12 tháng 12 năm 2001, thủ trướng chính phủ đã ra nghị quyết chuyển khu bảo tồn thiên nhiên này thành vườn đa quốc gia và có tên gọi như hiện nay.

Quá trình hình thành hang động là một quá trình khá lâu dài. Từ những kiến tạo địa chất xảy ra trong lòng dãy núi đá vôi Kẻ Bàng vào thời kì Đại cổ sinh đã làm thay đổi hoàn toàn về địa chất nơi đây. Sự tác động của nội lực bên trong lòng trái đất và ngoại lực đã tạo ra vẻ đẹp kì bí rất riêng của động Phong Nha. Hệ thống đứt gãy chằng chịt trên mặt đá vôi đã tạo điều kiện cho nước dễ thấm vào các khối đá vôi. Sự xâm thực đã gặm mòn, hòa tan, rửa trôi đá vôi trong hàng triệu năm. Qua đó nó đã tạo nên một hang động ăn sâu trong núi đá vôi.

Động Phong Nha bao gồm động khô và động nước, nổi bật nhất trong các động khô là động Tiên Sơn. Động Tiên Sơn có chiều dài 980m. Từ cửa động đi vào khoảng 400m có một vực sâu khoảng 10m và sau đó là động đá ngầm dài gần 500m khá nguy hiểm. Du khách đến tham quan, để đảm bảo an toàn chỉ được đi sâu vào 400m tính từ cửa động. Động Thiên Sơn là nơi có cảnh thạnh nhũ và những phiến đá kì vĩ huyền ảo. Các âm thanh phát ra từ các phiến đá, khi được gõ vào vọng như tiếng cồng chiêng.Theo các nhà khoa học thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh, động này được kiến tạo cách đây hàng chục triệu năm, khi một dòng nước chảy qua quả núi đã đục rỗng, bào mòn núi đá vôi Kẻ Bàng. Sau đó, do địa chất thay đổi, khối đá vôi đổ sụp, chặn dòng chảy và làm nên động khô Tiên Sơn. Còn hệ thống động nước nổi bật nhất là động Phong Nha. Tạo hóa đã dựng nên những khối thạch nhũ đủ màu sắc với những hình dạng khác nhau. Vẻ kì ảo ấy khiến ai đến tham qua cũng trầm trồ khen ngợi. Động Phong Nha dài 7729m. Hang có chiều dài dài nhất của động là 145m. Động Phong Nha còn được mệnh danh là Thủy Tề Tiên vì nơi đây những cột đá, thạch nhũ như mang một phong thái rất khác nhau. Tiếng nước vỗ vào đá vang vọng thật xa. Động Phong Nha đẹp như một bức tranh thủy mạc mà nhiều hang động khác phải ngưỡng mộ.

Động Phong Nha ngoài có giá trị về du lịch nó còn là một di chỉ khảo cổ. Những nhà thám hiểm và người dân nơi đây đã phát hiện ra nhiều chữ khắc trên đá của người xưa, gạch, tượng đá, tượng phật, mảnh gốm và nhiều bài vị tại đây. Ở động Phong Nha người ta đã phát hiện nhiều mảnh than và miệng bình gốm có tráng men của Chàm và các đồ gốm thô sơ khác. Động Phong Nha còn là nơi vua Hàm Nghi trú ngụ trong thời kì thực hiện chiếu Cần Vương kháng chiến chống Pháp.

Động Phong Nha – hang động tạo nên niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam. Nó là bằng chứng cho sự ưu đãi của thiên nhiên nước ta. Động Phong Nha đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Ai đã từng đến động đều nhớ mãi sự kì diệu mà động mang lại từ vẻ đẹp thuần túy thiên nhiên

Câu trả lời:

1. Nhu cầu các thành viên trong gia đình

Chọn những thực phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu khác nhau của các thành viên trong gia đình, căn cứ vào tuổi tác, giới tính, tình trạng thể chất và nghề nghiệp của họ.

Ví dụ:

- Trẻ em đang lớn cần ăn nhiều loại thực phẩm để xây dựng và phát triển cơ thể.

- Người lớn đang làm việc, lao động chân tay cần được cung cấp các thực phẩm năng lượng.

- Phụ nữ có thai cần có các thực phẩm giàu chất đạm, chất vôi và chất sắt.

2. Điều kiện tài chính

Cần cân nhắc về số tiền hiện có thể đi chợ, một bữa ăn đủ chất dinh dưỡng không cần phải đắt tiền mới có được.

3. Sự cân bằng chất dinh dưỡng được thể hiện qua việc chọn mua thực phẩm phù hợp.

Cần chọn đủ thực phẩm của 4 nhóm thức ăn để tạo thành một bữa ăn hoàn chỉnh, cân bằng dinh dưỡng.

Chức năng những thức ăn của các nhóm thực phẩm, có:

- Xây dựng và tu bổ các tế bào (các chất đạm).

- Cung cấp năng lượng và nhiệt lượng (các chất đường và chất béo).

- Bảo vệ và điều hòa mọi hoạt động của cơ thể (các sinh tố và chất khoáng).

4. Sự thay đổi món ăn và hình thức trình bày

Thay đổi thực đơn cho gia đình mỗi ngày để tránh nhàm chán.

Thay đổi các phương pháp chế biến có món ăn ngon miệng.

Thay đổi hình thức trình bày và màu sắc của món ăn để bữa ăn thêm phần hấp dẫn.

Trong một bữa ăn, không nên có thêm món ăn cùng loại thực phẩm hoặc cùng phương pháp chế biến với món chính đã có sẵn.

Ví dụ: Đã có món cá kho thì không cần phải làm thêm món cá hấp.

Màu sắc, hình thức và hương vị đóng vai trò quan trọng trong việc tạo sự hấp dẫn và ngon miệng cho bữa ăn. Những lát dưa leo, cà chua, hành phi, hành lá xắt, tỉa, cần tây, rau ngò, ớt xắt, tỉa… sẽ tăng thêm màu sắc cho đĩa thức ăn. Các món gia vị cũng góp phần tăng thêm giá trị dinh dưỡng cho món ăn.

5. Chế độ ăn uống cho từng đối tượng

Nhu cầu chất đạm cao hơn người lớn gấp 3 – 4 lần

Đạm động vật nên chiếm ít nhất 60% tổng số đạm cần thiết.

Nên dùng chất béo thực vật.

Trẻ dễ hấp thụ chất béo của trứng, sữa, dầu cá, dầu thực vật hơn chất béo của mỡ lợn.

Chất đường, vôi, sắt, lân… cần cho sự cấu tạo xương răng, hồng huyết cầu.

Nên chọn thức ăn dễ tiêu.

Cần tập cho trẻ có thói quen ăn nhiều rau quả.

Tránh cho trẻ các loại thức uống có nhiều chất kích thích như trà, cà phê, rượu hoặc thức ăn có nhiều gia vị cay nồng… đồng thời, những thức ăn dai, cứng cũng không thích hợp với sức nhai và sự tiêu hóa của trẻ.

Tỷ lệ năng lượng cân đối như sau: 4 bữa/ngày

- Bữa sáng = 25% tổng số năng lượng

- Bữa trưa = 40% tổng số năng lượng

- Bữa chiều = 10% tổng số năng lượng

- Bữa tối = 25% tổng số năng lượng

Người lớn (đang tuổi lao động)

Cường độ tiêu hao năng lượng tùy thuộc vào quá trình lao động và tính chất công việc. Do đó, chế độ ăn uống cần phải đặc biệt quan tâm mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất.

Người lao động nhiều cần năng lượng chất đạm cao hơn người nhàn rỗi.

Lao động càng nặng nhọc, nhu cầu về năng lượng càng cao.

Chế độ ăn uống thừa năng lượng, gây cho cơ thể bị béo phì làm ảnh hưởng không tốt đến tim mạch (nhồi máu cơ tim, rối loạn tim mạch…)

Đối với những người lao động trí óc, hoặc ít hoạt động nên hạn chế sử dụng thức ăn có nhiều chất béo và chất đường bột.

Nhu cầu về sinh tố và chất đạm thì dù ở lứa tuổi nào cũng phải đảm bảo đủ trong khẩu phần.

Tỷ lệ năng lượng cân đối như sau: 2 chế độ

Chế độ 4 bữa/ngày (dành cho nông dân hoặc những người làm việc từ sáng sớm):

- Bữa sáng 1 = 10% tổng số năng lượng

- Bữa sáng 2 = 25% tổng số năng lượng

- Bữa trưa = 40% tổng số năng lượng

- Bữa tối = 25% tổng số năng lượng

Chế độ ăn 3 bữa/ngày:

- Bữa sáng = 30% tổng số năng lượng

- Bữa trưa = 45% tổng số năng lượng

- Bữa chiều tối = 25% tổng số năng lượng

Người cao tuổi (người già)

Tuổi càng cao thì sự tiêu hóa năng lượng càng giảm, do đó trong chế độ ăn uống, thức ăn tạo thừa năng lượng sẽ không phù hợp.

Cách thực hiện khẩu phần phù hợp:

- Giảm tỷ lệ bột, đường, dầu, mỡ…

- Thay mỡ động vật bằng dầu thực vật cho dễ tiêu.

- Tăng tỷ lệ đạm có giá trị cao, rau tươi, trái cây chín…

- Thực phẩm chế biến cần dễ tiêu, dễ nhai, ít chất kích thích.

- Nên hạ thấp lượng đường bột trong khẩu phần người lớn tuổi, nhất là hạn chế trước hết các chất đường dễ hấp thu: đường các loại, bánh kẹo hay thức uống ngọt.

- Về sinh tố, cần cung cấp đầy đủ và cân đối các loại sinh tố cần thiết.

- Tránh ăn mặn, rất có hại cho tim, thận.

Tỷ lệ năng lượng cân đối như sau: 4 bữa/ngày

- Bữa sáng 1 = 25% tổng số năng lượng

- Bữa sáng 2 = 15% tổng số năng lượng

- Bữa trưa = 35% tổng số năng lượng

- Bữa tối = 25% tổng số năng lượng