Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Thành phố Hồ Chí Minh , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 115
Số lượng câu trả lời 152
Điểm GP 0
Điểm SP 52

Người theo dõi (11)

Đang theo dõi (26)


Câu trả lời:

Tôi là người em trong câu chuyện "Cây khế". Tôi xin kể lại câu chuyện giữa tôi và người anh đã quá cố lâu rồi.

Lúc sinh thời, bố mẹ tôi có một gia sản tương đối lớn. Nhờ ăn ở phúc đức nên họ được mọi người quí mến. Khi bố mẹ tôi mất đi, anh tôi đòi chia gia tài. Chiều lòng anh và chị dâu nên tôi nhất mực nghe theo. Tôi lúc nào cũng hiếu thuận để gia đình êm ấm. Thế nhưng, anh tôi đã lấy hết tài sản và chỉ cho tôi một mảnh vườn nhỏ có trồng một cây khế. Hằng ngày, tôi ra sức chăm bón nên cây khế mau đơm hoa và kết trái. Nhìn cây khế trĩu quả, vợ chồng tôi rât đỗi vui mừng. Cây khế đã trở thành nguồn sống của gia đình tôi. Bỗng một hôm, có một chim lạ từ đâu bay đến đậu trên cây khế. Chim thật đẹp. Bộ lông của nó mịn màng như nhung, óng ánh nhiều màu sắc rực rỡ. Chim ăn khế nhà tôi rất nhiều, nó ăn hết quả này đến quả khác. Tôi thật xót lòng nhưng không nỡ xua đuổi chim. Tôi chỉ đứng dưới gốc mà than thở với chim rằng:

- Gia đình ta sống nhờ cây khế này thôi, nay chim ăn hết vậy ta sống làm sao?

Thật không ngờ chim lại kêu lên thành tiếng:

Ăn một quả khế
Trả một cục vàng
May túi ba gang
Mang đi mà đựng.

Tôi không nghĩ rằng chim sẽ giúp mình giàu sang, nhưng tôi vẫn bảo vợ làm theo lời chim dặn. Sáng hôm sau, chim đến chở tôi đi lấy vàng. Đến núi vàng, tôi hoa cả mắt nhưng chỉ lấy vừa đủ đựng vào túi ba gang rồi leo lên lưng chim để được chở về nhà. Từ đó, gia đình tôi trở nên khấm khá. Tôi đã có cơ hội giúp đỡ người nghèo khó trong làng. Anh tôi biết được việc chim lạ giúp tôi giàu có, anh nằng nặc đòi tôi đổi lấy gia sản của anh, trả lại cho anh mảnh vườn có cây khế mà ngày trước anh chia cho tôi. Vốn chiều lòng anh nên tôi chấp thuận và làm theo yêu cầu của anh. Hằng ngày anh cứ đứng ở gốc cây mà trông chờ chim lạ.

Sự trông chờ của anh cũng đã đến. Chim lạ bay tới ăn khế, anh tôi than thở, chim cũng kêu lên như lần trước. Anh tôi mừng quá liền bảo vợ may cái túi mười hai gang. Chim đến chở anh đi lấy vàng. Nhìn thấy vàng, anh không cầm được lòng tham. Anh đựng đầy vàng vào túi lớn và còn lấy thêm để giấu vào người. Lúc về, trời quá nhem tối. Chim mỏi cánh bảo anh thả bớt vàng xuống nhưng anh không chịu nghe. Gặp cơn gió mạnh, chim chao đảo. Thế là anh tôi cùng cái túi vàng nặng trịch ấy đã rơi xuống biển.

 

Tôi thật đau xót cho anh tôi. Giá như anh đừng tham lam thì đầu có kết cục bi thương như thế.

Câu trả lời:

Ở khổ cuối cùng, nhà thơ đọng lại một thời điểm:Năm nay đào lại nở…Đó là hiện tại, tất nhiên chỉ là một hiện tại giả thuyết cho nhà thơ (và bạn đọc). Sự xác định này giống như một cánh cửa khép lại đối với họ mà thôi. Còn với cuộc đời, guồng quay của nó bất tận (đào lại nở…). Ý niệm về sự tuần hoàn của nó vẫn được gợi lên qua hình ảnh của bông hoa, biểu tượng cho sự tái sinh vĩnh viễn. Ngoài ra, ý niệm ấy còn được biểu hiện qua việc gần như lặp lại toàn bộ câu đầu bài thơ, với một vài nét biến thái nhỏ (“Mỗi năm hoa đào nở… Năm nay đào lại nở…”).Nghệ thuật trùng điệp – ở bài thơ hay — không bao giờ hoàn toàn là sự lặp lại. Khổ thơ cuối cùng vẫn đặt song song hai hình ảnh từng được chú ý rọi sáng từ đầu bài: “hoa đào” bên cạnh “ông đồ”. Tuy nhiên, ở đây, chỉ có sự chuyển hóa của một hình ảnh ngày càng mở rộng, mơ hồ, khó nắm bắt:Năm nay đào lại nở,Không thấy ông đồ xưa.Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ?Tới đây ta đã thấy được trong hai hình ảnh ấy (“hoa đào” và “ông đồ”) đâu là điểm hội tụ ánh sáng của bài thơ. Hoa đào vẫn vậy. Nhưng hình ảnh mà nhà thơ dõi theo, đó chính là con người được vẽ lên trong sự chuyển hóa: ông đồ già – ông đồ xưa – những người muôn năm cũ – hồn.Chỉ qua sự tiến triển, biến thái của một hình ảnh (ông đồ), ta đã thấy gợi lên âm hưởng khái quát của khổ thơ cuối cùng: đâu phải chỉ là số phận của ông đồ già.Dường như tiếng vọng, âm hưởng mở rộng, lan xa ấy còn được gợi lên bởi một hiện tượng được thấy ở một số nhà thơ mới (như Xuân Diệu, Vũ Hoàng Chương). Đó là hiện tượng mà có người đã gọi là “đa âm” hiểu theo nghĩa nôm na và đơn giản nhất: trong khổ thơ cuối này, ta nghe thấy cả Thôi Hộ, Phrăng -xoa Vi-lông và Nguyên Du cùng cất tiếng tiếc thương cho tài hoa, cho hồng nhan bạc mệnh, thăng trầm. Điều này, chính bản thân Vũ Đình Liên cũng đã xác nhận ảnh hưởng.Điều mà tôi muốn nói thêm đó chỉ là: ngay trong bài thơ này, Vũ Đình Liên trước sau vẫn là người si mê Bô-đơ-le. Điều đó không hiện lên bề nổi của câu chữ (như đặt một câu hỏi theo kiểu Phrăng-xoa Vi-lông: “Nhưng đâu rồi những áng tuyết xưa?” hoặc điệp lại gương mặt hoa đào của Thôi Hộ (Nguyễn Du). Nó nằm ở bè trầm, nhưng lan tỏa trong toàn bộ nhạc điệu bài Ông đồ: đó là âm hưởng về sự đơn côi của con người trong những đô thị hiện đại. Nói rộng ra, âm hưởng này ám ảnh những nhà thơ lớn của Pháp cuối thế kỉ XIX, kể cả Ranh-bô, Véc-lanh. Cảm hứng của Bô-đơ-le trong bài Chim thiên nga cũng được gợi lên từ một nhân vật cổ xưa, nàng Ảng-đrô-mác và sự điệp lại hình ảnh ấy qua một cánh thiên nga không tìm thấy nước, đang kết đôi cánh ngắc ngoải bên lề đường Pa-ri đầy bụi bẩn:Pa-ri đổi thay! Nhưng chẳng chút gì trong tâm tưởng ta Di động! Lâu đài mới xây, dàn giáo, khối hình.Ngoại ô cũ, tất cả với ta trở thành hiểu tượng,Đá tảng đâu nặng tày kỉ niệm thân thương.