Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Quảng Trị , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 1
Số lượng câu trả lời 869
Điểm GP 184
Điểm SP 637

Người theo dõi (88)

cau be thien binh
co be bo cap
~ >.< Khờ >.< ~
boy handsome
co be bo cap

Đang theo dõi (8)

Ngọc Hnue
kuroba kaito
Pham Thi Linh
Nhã Doanh

Câu trả lời:

Thơ Nguyễn Đức Mậu thường thiên về đề tài tình cảm thấm thía giữa con người với con người. Tình gia đình, làng xóm, tình đồng đội, đồng bào và bao giờ cũng chân thật, cảm động. Anh cảm nhận vẻ đẹp tình cảm vốn có trong hiện thực rồi bưng nó vào thơ. Vẫn bình dị chân thực như ta vẫn thấy, nhưng sâu sắc hơn, ám ảnh hơn. Đấy là những chỗ thành công của anh, làm nên phẩm chất thơ anh.

Bài thơ Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn này có hơi khác cách làm quen thuộc ấy. Về mặt đề tài, nó thuộc loại “không có gì”. Nhưng trong bài thơ lại tràn đầy chất thơ. Làm cách nào để biến được từ không đến có như thế. Nguyên liệu, ba thứ, như đã thấy ở đầu đề bài thơ: bò, cỏ, hoàng hôn. Ba thứ riêng rẽ quả là chưa mang biểu hiện tình cảm hoặc một thông điệp tư tưởng gì. Nó là những điều thường thấy, rất hàng ngày ở chốn thôn quê. Nhưng hội tụ lại trong tâm hồn nhà thơ, với chất xúc tác của tâm hồn anh, chúng cộng hưởng vào nhau mà âm vang lên chất thơ, tạo thành một phẩm chất thẩm mỹ cao hơn, tinh hơn rất nhiều so với nguyên liệu “đầu vào”. Thơ nói cảnh nhưng người đọc lại nhận ra hồn tác giả. Người ta thường khen chất thi sĩ ở các bài thơ loại này là vì thế.

Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn

Nguyễn Đức Mậu

Đàn bò vàng trên đồng cỏ xa xanh

gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại

mùa rạo rực chỉ đàn bò biết được

vị cỏ râm ran đầu lưỡi ngọt mềm

Đàn bò đi đủng đỉnh

một gam màu vàng óng trước thiên nhiên

những chiếc bụng tròn căng mang mặt trời xuống núi

kia, vừng trăng như chiếc tù và người chăn bò bỏ quên

Đàn bò vàng trên đồng cỏ chiều yên

tiếng mõ rơi, tiếng mõ rơi đều

cả đồng cỏ lút vào khoảng tối

như vẫn còn rung nhịp mõ kêu

Có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải

túi áo gói đầy hương cỏ thơm

trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ

đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non



Đàn bò vàng trên đồng cỏ hoàng hôn…


Để tìm ra chất thơ ở đây, người viết chắc chắn phải có một nhận thức sâu sắc về bản chất cuộc sống của con người trên hành tinh này. Tôi muốn gạch dưới chữ nhận thức vì thấy nhiều bạn thơ quá nhấn mạnh đến trực cảm, đến tiên nghiệm mà coi thường, thậm chí ghét bỏ, nhận thức và kinh nghiệm trong việc hình thành cảm xúc thơ. Thật ra có đại giác mới có đại mộng, biết rộng xa mới có mơ mộng lớn.

Nguyễn Đức Mậu đã có một thâm niên làm thơ ba bốn chục năm, đã qua những chặng say mê đề tài to, sự việc lớn, đã đi qua nhiều bút pháp vận dụng hình tượng lớn, thi liệu to để biểu đạt những ý tưởng… Giờ đây anh đủ tự tin và đủ lịch lãm để tìm những xúc động lớn trong chi tiết nhỏ, phát hiện những cái sâu sắc lạ kỳ trong cái hàng ngày quen thuộc. Bò, cỏ, hoàng hôn, quen thuộc đến nhàm chán nhưng thử nghĩ xem, nó là hình ảnh tự cổ xưa của loài người. Buổi đầu tiên con người thuần hóa được con bò, cũng hoàng hôn này, cũng đồng cỏ ấy. Thế mà bao nhiêu năm tháng, bao đổi thay thế sự, bao xương máu con người… Xúc động thơ nảy sinh từ nhận thức đó. Huy Cận có lần tưởng như đang đồng hành với nghìn xưa Người với bò đi đôi bóng đậm/ khoan thai chân bước trở về nhà. Cái nắm bắt đầu tiên của nhà thơ có lẽ là ở công đoạn nhận ra chất thơ của đời trong cái bối cảnh ngỡ như nhàm chán đó. Việc còn lại của nhà thơ là phát hiện cho ra những chi tiết thơ mộng, kỳ ảo trong khung hiện thực quen đến nhàm này. Đây là chỗ xác định ngưỡng tâm hồn, ngưỡng tài năng của từng nhà thơ. Chúng ta hãy đọc vào từng câu từng đoạn. Nguyễn Đức Mậu tả thực và tả ảo. Tả cái có là bò gặm cỏ, tả cái không là bò gặm hoàng hôn mà hoàng hôn lại được nhấn vào cái ý nó là buổi chiều sót lại (sót lại của một ngày hay sót lại của vạn thuở xa xăm) và rồi anh tả được cả cái vị rạo rực râm ran. Anh thấy những chiếc bụng tròn căng mang mặt trời xuống núi rồi vầng trăng như chiếc tù và người chăn bò bỏ quên. Anh cảm nghe hay anh ảo giác cả đồng cỏ lút vào khoảng tối/ như vẫn còn rung nhịp mõ kêu. Đoạn kết, hình bóng nhà thơ hiện lên như một yếu tố tự hồng hoang của thiên nhiên, đồng chất với thiên nhiên không tuổi, không dấu vết thời đại, thời gian:

có một kẻ đi sau người chăn bò mê mải

túi áo gói đầy hương cỏ thơm

trái tim đựng đầy tiếng sáo và tiếng mõ

đôi mắt đong đầy giàn giụa suối trăng non.

Bài thơ mười bảy câu ngắn dài thoải mái, vần điệu phóng khoáng thanh thản, nhiều chi tiết nhưng không một chi tiết nào mang dấu vết đặc thù của hôm nay (như một tiếng loa đài, một cột dây điện…). Tác giả chọn một mẫu số chung giữa buổi chiều hôm nay với buổi chiều hồng hoang tiền sử của loài người. Con người cơ giới hóa, hiện đại hóa hôm nay bỗng nhiên thành thuần khiết nhập vào thiên nhiên nguyên thủy. Hàng vạn năm tiến hóa được ép lại thành con số không. Cảm xúc thơ dâng lên từ đó. Chỗ chín của bài thơ cũng là ở đó.

Đây là một không gian mới trong hồn thơ Nguyễn Đức Mậu. Nó còn hứa hẹn, có thể tạo nên một Nguyễn Đức Mậu mới.

Câu trả lời:

Có một lần tôi đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ trực nhật của mình, ấy vậy mà tôi không những không bị phê bình mà còn được biểu dương nữa. Chắc hẳn các bạn rất tò mò “tại sao lại thế?”, phải không nào? Tôi sẽ kể các bạn nghe.

Hôm ấy, thứ năm, trời mưa dầm dề. Tôi thấy thật xui xẻo vì đúng hôm tôi phải đến sớm trực nhật. Tôi mặc áo mưa, xắn quần đến đầu gối, chần thấp chân cao bước trên con đường nhão nhoét đầy bùn đất, ổ voi ổ gà sũng nước. Chợt tôi nhìn thấy từ xa một bà cụ gầy yếu xiêu vẹo chống chiếc gậy dò dẫm từng; bước một, người như muốn đổ. Tôi vội đi lại chỗ cụ, lễ phép hỏi:

– Thưa bà, bà có việc gì mà lại đi giữa trời mưa thế này ạ?

Bà cụ nhìn tôi, móm mém cười:

– À, đứa con gái của bà ở làng bên bị ốm. Bà lo quá nên sang xem sao.

Đúng như mẹ tôi dạy, hạnh phúc luôn đến khi ta làm việc tốt

Tôi ái ngại nhìn con đường phía trước. Từ đây sang làng bên dễ đến hai cây số, liệu bà cụ có thể sang tới nơi? Ngần ngại một lúc, tôi nói với bà:

– Bà ơi, đường từ đây sang làng bên xa lắm. Hay bây giờ, bà vịn vào tay cháu, cháu đưa bà sang làng bên nhé!

Bà cụ mừng rỡ:

– Bà cũng đang lo, đường trơn quá, lỡ ngã thì khổ lắm. May quá, có cháu giúp bà rồi.

Thế là hai bà cháu tôi, bà vịn cháu, cháu đỡ bà cùng “dắt” nhau đi. Trời sáng dần, một số anh chị học sinh cũng đang trên đường tới trường. Có anh chị còn vô lễ, lấn đường của bà cháu tôi. Trời mỗi lúc một mưa to, gió mỗi lúc một thổi mạnh. Thấy bà cụ co ro, răng đập vào nhau lập bập, tôi biết là bà đang lạnh. Bà lẩm bẩm: “Thời tiết thế này chỉ tội con người thôi”. Tôi vội dừng lại, cởi áo khoác của mình ra choàng lên người bà cụ. Bà tấm tắc khen:

– Cháu thật ngoan ngoãn, hiếu hạnh.

Dần dần, hai bà cháu cũng tới được làng bên. Bà cảm ơn tôi mãi. Đợi bà vào làng rồi, mặc trời mưa, tôi ba chân bốn cẳng chạy tới lớp. Muộn gần nửa tiếng. May quá, bạn Hà cùng bàn đã trực nhật giúp tôi, Cô giáo phê bình:

– Hôm nay bạn Dương đã không hoàn thành nhiệm vụ trực nhật của mình lại còn đi học muộn. Cô phê bình bạn Dương trước lớp.

Tôi liền đứng dậy, xin phép cô kể lại nguyên nhân đi học muộn để cô và các bạn nghe. Cô giáo và cả lớp hiểu ra mọi chuyện cô không phê bình tôi nữa mà còn biểu dương:

– Bạn Dương tuy đi học muộn nhưng đã làm được một việc tốt, thật đáng khen. Cô sẽ đề nghị nhà trường khen thưởng. Thôi, chúng ta tiếp tục bài học.

Tuy hơi mệt nhưng tôi cảm thấy rất vui vì đã làm được một việc tốt. Đúng như mẹ tôi dạy, hạnh phúc luôn đến khi ta làm việc tốt.