Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Chưa có thông tin , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 4
Số lượng câu trả lời 562
Điểm GP 110
Điểm SP 512

Người theo dõi (111)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

Tục ngữ có câu “Thật thà là cha dại”. Vậy thế nào là thật thà? Thật thà có lợi hay có hại đến bản thân? Đó là những vấn đề chúng ta cần tìm hiểu để xây dựng lối sống luôn được mọi người yêu quý: lối sông chân thật.
Ai cũng biết thật thà là tính nết vốn có của con người. Người thật thà là người làm sao nói vậy, có gì nói thế, trái với kẻ dối trá có ít nói nhiều, làm một đằng nói một nẻo. Thật thà đồng nghĩa với chân thật, trung thực, là những đức tính tốt của con người. Tính thật thà của con người được bộc lộ trong các mối quan hệ xã hội. Thời xa xưa, cô Tấm, Thạch Sanh vì thật thà mà được hưởng hạnh phúc; trái lại mẹ con Cám và Lý Thõng ranh ma lừa lọc nên bị trừng phạt. Với chúng ta, khi mắc lỗi tự nhận lỗi là thật thà, nhặt được của rơi đem trả người mất là thật thà, không quay cóp trong khi làm bài thi là thật thà,...
Ai cũng biết dại là dại dột, trái nghĩa với khôn ngoan, chỉ ý nghĩ, hành động, lời nói không đem lại an toàn, lợi ích cho bản thân; cha là người đứng đầu trong gia đình; cha dại là đứng đầu sự dại dột. Theo nghĩa này thì cô Tấm, Thạch Sanh xưa vì thật thà mà nhiều phen bị khốn khổ; mẹ con Cám và Lý Thông do khôn ngoan lừa lọc mà nhiều lần được lợi; hoặc ngày nay, dại nhất là nhặt được của rơi đem trả lại người mất, dại nhất là không quay cóp trong khi làm bài thi,...
Từ đó, “Thật thà là cha dại” có nghĩa: dại nhất là thật thà. Kinh nghiệm được đúc rút là: không nên sống thật thà, vì thật thà bất lợi cho bản thân. Từ đó có bài học: cần biết sống khôn ngoan!
Bạn tin không khi tôi nói rằng câu tục ngữ này có mặt tích cực và mặt hạn chế? Mặt tích cực thì ít, mặt hạn chế thì nhiều?
Ta biết rằng, ngày nay người ta giải quyết nhiều việc trước mắt bằng sự khôn khéo. Để bán một mặt hàng mới như sữa bột, bột ngọt, bia, nước giải khát,... người ta dùng truyền hình quảng cáo với các thông tin giật gân, hình ảnh choáng lộn. Muốn thúc đẩy nhanh tốc độ giải phóng hàng hoá, nhiều siêu thị tổ chức các đợt bán hàng khuyến mại hạ giá, thậm chí đại hạ giá. Để bán được nhiều hàng, các cô nhân viên đon đả chào khách bằng những lời nói mĩ miều cùng cử chỉ lịch thiệp khác thường,... trong những trường hợp ấy, “thật thà” chưa chắc đã được việc.
Nhưng rất nhiều việc, ta giải quyết bằng thật thà mới là khôn ngoan. Bà ngoại tôi thường ngày nói to, lại hay ví von bằng tục ngữ, ca dao, nhưng khi bà thông gia đến chơi nhà, thì bà toàn nói những lời thông thường, mộc mạc, với giọng nhỏ nhẹ dễ nghe. Ấy là vì bà ngoại tôi lấy thân tình để đối đãi lâu bền với thông gia. Bố tôi bình thường thì nói to, uống nước trong cốc vại, khi ông ngoại sang chơi thì nói năng nhã nhặn, lấy chè ngon pha đặc trong bộ ấm chén đẹp nhất và mời mọc ân cần. Ấ là vì bố tôi thật lòng yêu quý ông. Lớp tôi có bạn gái con nhà giàu, lực học bình thường thôi, nhưng nói năng kiểu cách, ăn mặc điệu đàng, lại sẵn tiền rủ bạn ăn quà nên chỉ chơi được với vài ba cô bạn nhà khá giả. Chắc bạn sẽ đồng ý với tôi nhận xét này: trong quan hệ bạn bè, khôn khéo có thể giúp ta thiết lập nhanh chóng mối quan hệ, nhưng chân thành mới giúp ta có được nhiều bạn -những người sẵn sàng chia sẻ buồn vui với ta.

Bạn còn nhớ trong giờ Giáo dục công dân, cô giáo kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về đức tính thật thà? Nhà vua muốn tuyển người kế vị ngai vàng bèn cho gọi các thanh niên trai tráng trong vương quốc đến rồi phát cho mỗi người một hạt giống, bảo về trồng một năm sau sẽ mang thành quả gieo trồng đến để vua lựa chọn tân hoàng đế. Ai nấy đều được mang một hạt giống vua ban về nhà, trong dó có một chàng trai nhà nghèo. Chàng gieo hạt trong một chiếc chậu sành, hàng ngày xới đất, tưới nước cẩn thận, nhưng đợi mãi không thấy hạt nảy mầm. Trong khi đó, cây đã mọc xanh tốt trong chậu của mọi người. Đúng ngày hẹn, các chàng trai trong vương quốc đó hoan hỉ mang cây đến bày trước mặt đức vua. Chỉ có chàng trai nhà nghèo buộc phải đến với cái chậu đất không. Vua xem qua một lượt thấy cây ở các chậu đều xanh tốt, có cây đã ra hoa, liền khen ngợi mọi người có tài gieo hạt. Vua nhìn ra phía xa thấy chàng thanh niên với cái chậu không cây, bèn tiến lại hỏi. “Cây của nhà ngươi đâu?”. Chàng trai ấp úng: “Thần đã gieo hạt... nhưng... không nảy mầm được, xin đức vua trị tội!”. Vua mỉm cười dắt tay chàng trai bước lên nói: “Những hạt ta giao cho các ngươi đã được luộc chín, làm sao nảy mầm thành cây được! Các người đã tráo hạt cây để lừa ta. Chỉ có chàng trai này là thật thà, trung thực. Do đó đây sẽ là tân hoàng đế của các ngươi”.
Câu chuyện trên cho thấy thật thà mới chính là đức tính mang lại danh dự và lợi ích lâu dài cho con người.
“Đất nước ngày một đi lên trong thời kì hội nhập quốc tế, sẽ không còn chỗ cho sự dối trá hoặc khôn vặt của con người”, đó là nhận định thầy giáo tôi trong giờ Giáo dục công dân. Là công dân tương lai của đất nước, bạn nghĩ sao về lời khuyên “Thật thà là cha dại”?

Câu trả lời:

Thế nào là tục ngữ?

Tục ngữ là thể loại văn học dân gian nhằm đúc kết kinh nghiệm, tri thức của nhân dân dưới hình thức những câu nói ngắn gọn, súc tích, có nhịp điệu, dễ nhớ, dễ truyền.

Tục ngữ là những câu nói hoàn chỉnh, đúc kết kinh nghiệm của nhân dân về thiên nhiên và lao động sản xuất, về con người và xã hội. Tục ngữ thiên về trí tuệ nên thường được ví von là "trí khôn dân gian". Trí khôn đó rất phong phú mà cũng rất đa dạng nhưng lại được diễn đạt bằng ngôn từ ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Có thể coi tục ngữ là văn học nói dân gian nên thường được nhân dân vận dụng trong đời sống sinh hoạt, giao tiếp cộng đồng và xã hội hay hẹp hơn như lời ăn tiếng nói và khuyên răn.

Nội dung tục ngữ thường phản ánh những kinh nghiệm về lao động sản xuất, ghi nhận các hiện tượng lịch sử xã hội, hoặc thể hiện triết lý dân gian của dân tộc.

Tục ngữ được hình thành từ cuộc sống thực tiễn, trong đời sống sản xuất và đấu tranh của nhân dân, do nhân dân trực tiếp sáng tác; được tách ra từ tác phẩm văn học dân gian hoặc ngược lại; được rút ra tác phẩm văn học bằng con đường dân gian hóa những lời hay ý đẹp hoặc từ sự vay mượn nước ngoài.

Giữa hình thức và nội dung, tục ngữ có sự gắn bó chặt chẽ, một câu tục ngữ thường có hai nghĩa: nghĩa đennghĩa bóng. Tục ngữ có tính chất đúc kết, khái quát hóa những nhận xét cụ thể thành những phương châm, chân lý. Hình tượng của tục ngữ là hình tượng ngữ ngôn được xây dựng từ những biện pháp so sánh, nhân hóa, ẩn dụ...

Đa số tục ngữ đều có vần, gồm 2 loại: vần liền và vần cách. Các kiểu ngắt nhịp: trên yếu tố vần, trên cơ sở vế, trên cơ sở đối ý, theo tổ chức ngôn ngữ thơ ca... Sự hòa đối là yếu tố tạo sự cân đối, nhịp nhàng, kiến trúc vững chắc cho tục ngữ. Hình thức đối: đối thanh, đối ý. Tục ngữ có thể có 1 vế, chứa 1 phán đoán, nhưng cũng có thể có thể gồm nhiều vế, chứa nhiều phán đoán.

Các kiểu suy luận: liên hệ tương đồng, liên hệ không tương đồng, liên hệ tương phản, đối lập, liên hệ phụ thuộc hoặc liên hệ nhân quả. Nêu cảm nhận về một câu tục ngữ mà em thích nhất?

Nhân dân ta đã lấy “tấc đất” so sánh với “tấc vàng”, lấy cái bình thường để so sánh với cái quý hiếm, nhằm khẳng định một chân lí: đất quý như vàng, đất đai trồng trọt có giá trị đặc biệt. Câu tục ngữ còn mang một hàm nghĩa, khuyên mọi người phải biết quý trọng và bảo vệ đất đai ruộng đồng để sản xuất.

Câu tục ngữ “tấc đất, tấc vàng” hoàn toàn đúng; ngày xưa, đúng; ngày nay vẫn đúng. Đất rất quý: đất để làm nhà, ruộng đồng, nương rẫy để trồng trọt, gieo cấy cây trái, lúa, hoa màu… Từ cái ăn cái mặc đến hoa thơm quả ngọt bốn mùa đều do đất mà có. Đất để phát triển nghề nông. Đất cho ta bãi lúa nương dâu xanh biếc.

Đất tồn tại với mọi người, mọi nhà. Đất là tài sản vô giá của quốc gia. Hiểu theo nghĩa rộng: đất là giang sơn Tổ quốc. Trái đất là ngôi nhà chung của nhân loại. Đất là nguồn sống vô tận của con người, không thể thiếu. Trong lòng đất hàm chứa nguồn nước và bao khoáng sản quý báu. Tóm lại, đất quý như vàng, đất quý hơn vàng.

Đất đai, ruộng vườn chỉ quý và vô giá khi có bàn tay, khối óc của con người tác động vào. Con người chăm bón, vun xới, dẫn thủy nhập điền… làm cho đất thêm màu mỡ. Đất trở thành “bờ xôi ruộng mật” thì lúc ấy mới thật sự là “tấc đất, tấc vàng”.

Qua câu tục ngữ, nhân dân ta khuyên nhủ mọi người biết quan tâm bảo vệ, giữ gìn đất, không được làm cho ruộng đồng, vườn tược… bị bạc màu, khô xác, cằn cỗi. Không ai được lãng phí hoặc bỏ hoang đất.

Câu trả lời:

Câu 2:

DÀN Ý

I. Mở bài

– Giới thiệu giá trị của rừng.

– Rừng mang lại nhiều lợi ích to lớn cho con người.

II. Thân bài: Chứng minh lợi ích to lớn của rừng

– Xưa:

– Rừng là môi trường sống của người nguyên thủy:

– Rừng cho ta hoa thơm quả ngọt, vỏ cây che thân, củi đốt

– Nay: 

+ Rừng cho tre nứa làm nhà

+ Rừng cho gỗ quí đóng bàn ghế, bắc cầu

+ Rừng cho lá chằm nón, cho song mậy làm quang gánh

+ Rừng là kho dược liệu vô tận

– Rừng cho nguyên vật liệu làm giấy viết, làm tơ sợi nhân tạo. làm nhà cửa, đóng tàu lớn vượt đại dương

+ Rừng còn giúp điều hòa khí hậu.

II. Kết bài

– Khẳng định vấn đề

– Nhiệm vụ chúng ta là bảo vệ rừng.

BÀI LÀM

Nhân dân ta thường nói “rừng vàng biển bạc”. Không phải vô cớ mà người ta kết luận như vậy. Bởi lẽ rừng là nguồn tài nguyên rất phong phú, nó tiềm ẩn kho báu vô tận và lúc nào cũng sẵn sàng phục vụ cho đời sống con người. Rừng mang lại nhiều lợi ích cho con người, chính vì vậy con người phải bảo vệ rừng.

Thực sự rừng có ích lợi gì?

Nhìn lại cuộc sống hằng ngày của con người ta sẽ thấy được giá trị quý báu của rừng và từ đó có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừng.

Càng tìm hiểu ta càng thấy rõ ích lợi của rừng. Trước hết, rừng đã cung cấp cho ta các loại gỗ: gồ tạp dùng làm vật dụng, làm củi đốt... để phục vụ đời sống hằng ngày; gỗ quý thì làm vật liệu xây dựng, đóng tủ bàn ghế, cung cấp nguyên liệu cho nền công nghiệp hiện đại. Những cột nhà to bằng gỗ lim bóng láng, những bộ tràng kĩ trong các gian nhà cổ, những tủ thờ bằng các loại gỗ hiếm... có được là chính từ nguyên liệu của rừng mà ra.

Bên cạnh đó rừng còn cung cấp thảo dược phục vụ cho y học. Các loại cây quý hiếm có thể trị các bệnh nan y thường có trong rừng sâu được những thầy thuốc đông y tìm tòi nghiên cứu để chế biến theo phương pháp gia truyền. Ngoài ra, những cánh rừng già, rừng nguyên sinh ấy còn là nơi nuôi dưỡng sinh sống của các loài vật quý phục vụ lợi ích cho con người như hổ, báo, hươu, nai, voi... và nhiều loài chim quý lạ. Cả một thế giới loài vật thật phong phú là nguồn tài sản vô giá của rừng dành cho con người.

Hơn thế nữa rừng còn là “Vạn Lí Trường Thành” vững chắc bảo vệ đời sống con người. Không có rừng thì con người sẽ khổ bởi thiên tai lũ lụt. Không có rừng xanh thì làm sao bảo vệ môi trường sống cho con người, cung cấp động vật quý hiếm và cảnh đẹp thiên nhiên nữa. Rừng giúp cho việc điều hòa khí hậu, làm trong lành không khí do khói tỏa từ các nhà máy, xe cộ gây nên. Đặc biệt trong chiến tranh rừng còn cùng con người đánh giặc, “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”. Phải nói rằng, rừng đã trao tặng con người cả một nguồn tài sản vô giá bất tận. Đây chính là sự ưu đãi của thiên nhiên đối với loài người.

Hiểu được sự ích lợi của rừng cho nên chúng ta cần phải bảo vệ nó. Trước đây vì chưa hiểu hết sự cần thiết của rừng mà người ta đốt phá rừng bừa bãi. Và những trận lũ lớn gây biết bao hậu quả khôn lường cho con người chính là do sự khai thác phá rừng bừa bãi mà ra. Do vậy, chúng ta bảo vệ rừng tức là bảo vệ môi trường sống của con bảo vệ nguồn lâm sản, động vật quý hiếm của nước ta. Ngày nay vấn đề bảo vệ rừng là quốc sách, là vấn đề bức thiết của cả thế giới. Muốn có được môi trường tốt sạch và xanh, chúng ta phải biết trồng cây gây rừng, đốn một cây cổ thụ phải chuẩn bị trước hàng loạt cây con để thav thế. Có như thế mới giữ màu xanh của rừng được xanh tươi mãi. Vì vậy, ngoài việc khai thác sử đụng nguồn lâm sản phải đúng kế hoạch, Đảng và Nhà nước đã ban hành những đạo luật bảo vệ rừng, bảo vệ động vật trong rừng, nhất là những loài vật có nguy cơ bị diệt chủng. Cụ thể là ngành kiểm lâm đã thành lập những đội bảo vệ thường trực ngày đêm canh gác rừng và thông tin tuyên truyền mọi người dân phải có ý thức bảo vệ giữ gìn nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú do rừng tạo ra.

Quả thật, rừng vô cùng quan trọng đối với đời sống con người. Vậy mỗi chúng ta khi đã thấu hiểu vấn đề thì cần phải tích cực hơn, có ý thức cao hơn trong việc trồng cây gây rừng và bảo vệ rừng. Yêu quý rừng, bảo vệ rừng là nhiệm vụ của tất cả mọi người chứ không phải của riêng ai. Được như vậy tức là ta đã biết bảo vệ cuộc sống của chúng ta.