Học tại trường Chưa có thông tin
Đến từ Hà Nội , Chưa có thông tin
Số lượng câu hỏi 8
Số lượng câu trả lời 167
Điểm GP 33
Điểm SP 278

Người theo dõi (51)

Đang theo dõi (0)


Câu trả lời:

“Vật liệu”: Nguyên liệu để làm nên thứ gì đó (từ điển Tiếng Việt) è “nguyên liệu mượn ở thực tại” đề cập đến vai trò của hiện thực cuộc sống trong việc làm chất liệu làm nên một tác phẩm. - “Nhà văn không chỉ muốn ghi lại những cái đã có rồi mà cón muốn nói một điều gì mới mẻ”: Yêu cầu tất yếu của văn học về sự sáng tạo, về cá tính sáng tạo của mỗi nhà văn. Sự sáng tạo trong quá trình sáng tác, không chỉ là yêu cầu cơ bản, mà còn là khao khát, nỗ lực của nhà văn, làm nên vị trí của nhà văn trong văn đàn, và trên tất cả, chính là sự thăng hoa của anh ta trong nghệ thuật, là niềm say mê vô tận khi khám phá ra những giá trị mới, những tư tưởng mới, những tình cảm mới, những vẻ đẹp mới. ð Ý nghĩa lời nhận định: Đề cập đến hai khía cạnh không thể tách rời của quá trình sáng tác: Hiện thực và sự sáng tạo. Tác phẩm không thể hình thành nếu thiếu đi hiện thực, nếu thiếu đi nguồn vật liệu cấu thành lên nó, nhưng đồng thời, để tồn tại, để khẳng định giá trị, để sống mại với thời gian, nhất thiết tác phẩm văn học phải chưa đựng sự sáng tạo, phải có những điều “mới mẻ”. Vật liệu hiện thực và sự mới mẻ mà nhà văn khám phá chính là hai mặt của một đồng xu, có mối quan hệ biện chứng, tác động lẫn nhau, làm nên sự hình thành và tồn tại của một tác phẩm văn học chân chính. II. Bàn luận 1. Tại sao “Tác phẩm nghệ thuật luôn được xây dựng từ những vật liệu mượn ở thực tại”? - Đối tượng phản ánh của văn nghệ chính là hiện thực cuộc sống. “Cuộc đời là điểm khởi đầu và cũng là điểm đi tới của văn chương”. Thực chất tác phẩm văn học chính là hiện thực cuộc sống được phản ánh qua lăng kính của nhà văn, nếu tư tưởng, tình cảm mà nhà văn gửi gắm từ hiện thực anh ta khai thác chỉnh là đỉnh cao của tác phẩm, chính là phần làm nên giá trị, sức hút của tác phẩm, thì vật liệu hiện thực chính là cái rễ bền chắc giữ cho phần thăng hóa ấy luôn ổn định, vững vàng. Có thể nói, tác phẩm nghệ thuật bắt rễ từ cuộc sống và đơm hoa nơi tư tưởng, tình cảm của người nghệ sĩ. - Chất liệu làm nên hình hài sắc vóc cho tác phẩm văn học chính là ngôn từ nghệ thuật. Mà ngôn từ bắt nguồn từ cuộc sống. “Ở đâu có lao động, ở đó có sáng tạo ngôn ngữ”. Chính từ những hoạt động sống hằng ngày, từng lao động, từ sinh hoạt mà ngôn ngữ ra đời. Ngôn ngữ tồn tại khách quan, không một cá nhân nào có thể tùy tiện thay đổi, làm biến dạng, nó như một thứ khế ước mà mọi thành viên trong cộng đồng đều phải học cách sử dụng. Ngôn ngữ chính là những vỉa quặng mà từ đó nhà văn, bằng tài năng nghệ thuật và cảm nhận tinh tế, tôi luyện thành ngôn từ nghệ thuật của mình, là những gì tinh tế nhất, hàm súc nhất, biểu cảm nhất, để có thể truyền tải trọn vẹn tư tưởng, tình cảm mà anh ta đang ấp ủ. Quá trình đó rất gian khổ, nhưng thành quả cũng thật cao quý. “Phải tốn hằng tấn quặng ngôn từ/Chỉ thu về một chữ mà thôi/ Những chữ ấy làm cho rung động/Triệu trái tim trong hàng triệu năm dài”. Như vậy có thể nói, một vật liệu không thể thiếu để làm nên tác phẩm nghệ thuật mà nhà văn mượn từ thực tại, chính là ngôn ngữ. - Để hoàn thành sứ mạng cao của của mình, văn học không thể không quan tâm đến thực tại. Thật vậy, văn học có chức năng cao cả là “Trở thành thứ vũ khí thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để vừa tố cáo vừa thay đổi thế giới xấu xa, giả dối, vừa làm tâm hồn người đọc trong sạch hơn, phong phú hơn” (Thạch Lam). Theo quy luật của sự sáng tạo, một tác phẩm văn học không kết thúc trên trang giấy, mà nó trỗi dậy, hòa mình vào cuộc sống, tác động vào tư tưởng tình cảm của con người để góp phần cải tạo cuộc sống, làm cuộc sống tốt đẹp hơn, trong sạch hơn. Chính vì vậy, văn học không thể không chú tâm đến cuộc sống, nhà văn không thể khước từ việc tìm kiếm những vật liệu mượn từ cuộc sống. Vật liệu ở đây chính là hiện thực rộng lớn ngoài kia, mênh mông bao la như biển lớn với những cơn sóng ngầm dữ dội, với những mâu thuẫn gay gắt của thời đại, với những nỗi đau, những số phận, những tâm tư nguyện vọng, những ước mơ khát khao. Trước biển lớn hiện thực ấy, mỗi nhà văn cần trải rộng tâm hồn mình để đón nhận những vang vọng của cuộc đời, vắt kiệt trái tim của mình để hòa điệu cùng những đau thương trong cuộc sống, để cuộc sống ùa vào trái tim, tràn ra nơi đầu ngọn bút. Nhà văn là người bạn, nhà văn là người thấu hiểu, “Nhà văn là người cho máu”.Chỉ tác phẩm được xây dựng nên bằng máu nóng da diết yêu thương hướng đến cuộc đời, bằng những giọt nước mắt sáng trong sâu đậm niềm yêu người, yêu đời tha thiết mới là những tác phẩm chân chính, mới có thể “vượt qua mọi bờ cõi và giới hạn, trở thành tác phẩm chung cho loài người”, mới có thể “vượt qua sự băng hoại của thời gian”, để phủ nhận cái chết. 2. Tại sao “Nhà văn không chỉ ghi chép những gì đã có mà luôn muốn nói một điều gì mới mẻ”? - Như Nam Cao đã nói “Văn chương không cần những người thợ khéo tay làm theo những kiểu mẫu đưa cho, văn chương cần những người biết đào sâu, khơi những nguồn chưa ai khơi, tìm ra những gì chưa có”, sự sáng tạo là yếu tố sống-còn của một nhà văn đối với nghệ thuật. Bởi lẽ, tác phẩm nghệ thuật không phải là bản photocopy vô hồn của cuộc sống, bởi lẽ, tác phẩm nghệ thuật chính là thế giới khách quan được nhìn qua lăng kính của nhà văn, nên tác phẩm nghệ thuật sẽ không bao giờ thành hình nếu thiếu đi dấu ấn cá nhân của nhà văn in đậm trong nó. Nói cách khác, nếu thiếu đi sự sáng tạo, nếu nhà văn không có dấu vân tay nghệ thuật riêng, tác phẩm nghệ thuật sẽ chết và tuột trôi vào quên lãng, cùng với dòng chảy của những thứ nhợt nhạt giống nhau khác, và nhà văn, khi anh ta không thể kiến tạo giá trị mới, khi anh ta chỉ loay hoay trong lối mòn, lặp lại chính mình và lặp lại người khác - “Người tạo nên tác phẩm là tác giả, nhưng người quyết định số phận của tác phẩm lại là độc giả” (gorki), người đọc sẽ không bao giờ tiếp nhận những gì đã quen nhàm, cũ kĩ. Độc giả tìm đến tác phẩm trước hết để tìm thấy những điều mới lạ, để làm giàu thêm cho tâm hồn, để làm giàu thêm vốn sống, kinh nghiệm sống, để hiểu mình, hiểu đời nhiều hơn, để bản thân có được những phút giây rung cảm chọn vẹn giữa cái đẹp. Nếu thiếu đi sự sáng tạo, những gì nhà văn ghi lại chỉ là ghi chép y nguyên cuộc sống, thứ cuộc sống diễn ra mỗi ngày xung quanh họ, thứ cuộc sống mà họ dường như những áp lực bủa vây đã khiến họ thấy quen nhàm, thậm chí mệt mỏi, thì thử hỏi, người đọc có tiếp nhận tác phẩm hay không? Tác phẩm chỉ tồn tại, khi chiếm được một vị trí trong tim độc giả, và yếu tố sáng tạo, chính là điều kiện tiên quyết cho sức sống ấy, đồng thời, cũng chính đòi hỏi khắt khe này đã tạo ra sự đào thảo khắc nghiệt của thế giới văn chương. 3. Chứng minh - Vật liệu của thực tại và sự sáng tạo của nhà văn chính là hai yếu tố không thể tách rời, tác động qua lại lẫn nhau làm nên sự sống của tác phẩm. Từ những vật liệu của thực tại, ta sẽ bắt gặp sự sáng tạo, cái mới mẻ cua nhà văn. Đồng thời, sự mới mẻ, sáng tạo của nhà văn sẽ làm cho vật liệu mượn ở thực tại trở nên sâu sắc hơn, đẹp hơn, gợi cảm hơn. - Vậy vật liệu mượn ở thực tại có thể là gì? Và nhà văn sáng tạo trên những vật liệu ấy như thế nào? ü Vật liệu chính là những vấn đề cốt lõi, cơ bản, trọng đại, cấp bách của cuộc sống, đòi hỏi nhà văn thâm nhập, trải lòng, trăn trở, suy tư è Làm nên tư tưởng chủ đề tác phẩm è Sự mới mẻ của nhà văn thể hiện ở góc độ đề tài mà anh ta chọn, thể hiện ở điểm nhìn của anh ta với vật liệu hiện thực đó, thể hiện ở khía cạnh tư tưởng mới mẻ mà anh ta khám phá ra. [Đề tài người nông dân và khám phá của Nam Cao so với Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan…] ü Vật liệu chính là những sự vật ngoài đời thực hóa thân thành hình tượng của nghệ thuật è Qua tay mỗi nhà văn, sự vật ấy sẽ mang những ý nghĩa, những biểu tượng riêng, đại diện cho những kiểu người khác nhau, chất chứa những tình cảm khác nhau. [Con cò ngoài đời thực đến con cò trong ca dao, dân ca, đến con cò trong thơ Chế Lan Viên; sóng trong thơ Xuân Diệu và trong thơ Xuân Quỳnh] ü Vật liệu chính là ngôn ngữ è Cái mới mẻ của nhà văn đó là chắt lọc được từ thứ ngôn ngữ dân dã, thông tục hằng ngày những ngôn từ đắt giá, những cách kết hợp từ mới mẻ, gợi cảm, để thể hiện tư tưởng, tình cảm của anh ta. [Cách sử dụng từ ngữ mới mẻ, riêng Tây, cách kết hợp từ độc đáo của Xuân Diệu] ü Những tác phẩm văn học, những hình tượng văn học khi rời khỏi tay nhà văn và đi vào cuộc sống, đã trở thành những khách thể tinh thần, tồn tại khách quan với sự vận động nội tại của nó, với tính cấu trúc chỉnh thể của riêng nó, cũng trở thành một phần của hiện thực, và cũng có khả năng trở thành vật liệu để tạo nên những tác phẩm nghệ thuật mới è Đó là khi tác phẩm nghệ thuật trở thành thi liệu, văn liệu, khơi gợi sự sáng tạo của các nhà văn thế hệ sau è Sự sáng tạo ở chỗ vận dụng các thi liệu, văn liệu để bày tỏ cái riêng của bản thân, bày tỏ tâm tư tình cảm của bản thân, nhiều khi cái cá nhân đó, cái tâm tư tình cảm đó trái ngược lại với tư tưởng, tình cảm của tác phẩm gốc chứa thi liệu, văn liệu mà anh ta sử dụng.

Câu trả lời:

1.Trong mười lăm năm lưu lạc, cuộc đời tôi tưởng bị chôn vùi trong những tháng ngày “ thanh lâu hai lượt thanh y hai lần”. Nhưng may mắn thay, đã có lúc tôi được cuộc đời nâng niu, ưu ái. Nhưng thay đổi ấy có được là nhờ Từ Hải, một con người “ đầu đội trời chân đạp đất”
Về với chàng ít lâu, sau những chiến công lừng lẫy của chàng, tôi trở thành đệ nhất phu nhân. Chàng hỏi tôi về những người đã từng có ơn, những kẻ đã hãm hại, đẩy tôi vào bể khổ. Rồi chàng mời hết những người có ơn, bắt những kẻ gian ác ấy về cho tôi toàn quyền xử tội. Thế là hôm ấy, tôi và chàng ngồi trên điện xét xử : báo ân và báo oán. Đầu tiên là Thúc Sinh, người đã từng có ơn cứu tôi khỏi lầu xanh. Chàng Thúc bước vào, mặt đỏ như chàm, mình mẩy run run. Tôi nghĩ, chắc chàng quá sợ đây mà. Tôi biết chàng là người nhu nhược nhưng tôi không trách móc. Dù vợ cả chàng là Hoạn Thư luôn nghen tuông hành hạ tôi nhưng chuyện đó để khi khác! Giờ đây tôi phải đền ơn chàng.Tôi cất tiếng:” Chào chàng Thúc! Hôm nay mời chàng đến đây là để tôi bày tỏ chút lòng thành, xin được đền ơn chàng!”
Nghe đến đây dường như đã đỡ sợ nên chàng lên tiếng: “ Vâng…!”. Tôi lại nói: “ Nghĩa chàng dành cho tôi nặng đến nghìn non, trả làm sao hết. Đây có gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân để tạ lòng chàng gọi là có vậy. Mong chàng nhận cho”. Người hầu bưng lễ ra, chàng lạy tạ lời nhận lễ. Nhưng tôi nghĩ: “ Sao chàng phải lạy tạ, chàng còn sợ chăng? Thôi tha để chàng đi vì tôi còn nhiều người phải báo ân nữa”. Nhìn chàng, tôi lại chua xót nghĩ đến sự quỷ quyệt của Hoạn Thư. Tại sao hai con người ấy lại có thể chung chăn chung gối được nhỉ! Tôi bèn mỉm cười nói thêm với chàng Thúc: “ Vợ chàng quỷ quái tinh ma, phen này kẻ cắp bà già gặp nhau”
Chàng đi ra và tiếp đó tôi báo ân cho nhiều người khác: vãi Giác Duyên, cô a hoàn, mụ quản gia…những người đã giúp đỡ tôi trong những ngày khốn khó
Sau đó là đến việc báo oán, người đầu tiên mà tôi phải trả thù, trả hết oán chính là Hoạn Thư- vợ cả của Thúc Sinh. Mụ vừa vào tới cửa, tôi đã nói đón: “ Tiểu thư cũng có thì giờ đến đây ư?”. Rồi tôi lại dõng dạc hơn: “ Đàn bà dễ có mấy tay. Từ xưa đến nay được mấy người mưu mô, tinh quái như bà?”. Mụ vội vàng quỳ xuống phần vì nhận ra tôi đang ngồi trên, phần vì thấy hàng quân lính áo giáp, gươm đao đầy mình. Tôi nghĩ: “ Chắc phen này mụ sẽ phát hoảng lên, sẽ lạy lục van xin vì biết mình có tội. Mụ sẽ biết thế nào là “gieo nhân nào được quả nấy”. Tôi lại dõng dạc hơn: “ dễ dàng là kiếp hồng nhan, ăn ở mà càng cay nghiệt thì càng chịu nhiều oan trái”. Đến đây Hoạn Thư đã hiểu ra. Nhưng mụ tinh ranh quá, mụ còn bình tĩnh khấu đầu rồi xin thưa. Tôi biết mụ sẽ kêu ca, sẽ chữa tội cho mình, lúc này tôi có thể cho mụ từ giã cõi đời nhưng tôi vẫn muốn xem mụ có hối cải không. Nếu có, tôi có thể mở lượng khoan hồng tha không giết mụ. Mụ bắt đầu thưa: “ Thưa phu nhân, tôi đây phận đàn bà hèn kém nên cũng như ai. Tôi ghen tuông thì cũng là chuyện thường tình, nghĩ lại ngày ấy kẻ hèn mọn này đã để phu nhân ra gác viết kinh ở, với lại khi phu nhân bỏ đi, tôi đâu đuổi theo bắt về mặc dù đã biết gác viện đã mất vài thứ đáng giá…Nhưng cũng tại kẻ hèn mọn này gây ra việc chông gai, giờ chỉ còn biết chông chờ vào tấm lòng bao dung rộng lượng như biển cả của phu nhân mà thôi. Xon phu nhân nghĩ cho mà thương cho kẻ hèn kém này”
Tôi bàng hoàng, khen cho mụ khôn ngoan đến mực mà nói năng phải lời. Mụ thật giảo hoạt, khôn ngoan, tinh quái, ranh mãnh. Nhưng lời nói của mụ có lý quá, tôi cũng là đàn bà thì cần hiểu được suy nghĩ chung của đàn bà là thói ghen tuông. Nhưng tha cho mụ thì may đời cho mụ còn làm ra thì lại là người nhỏ nhen, với lại tôi đã có ý nghĩ khoan hồng nếu như mụ biết hối cải. Dù chưa thấy hành động nhưng những lời nói của mụ cũng có tình, có lý. Mụ đã nhận hết lỗi vào mình thì cũng khoan dung cho mụ và tôi chỉ nói thêm: “ Hãy biết hối cải vì sống mà tạo nhiều ơn nghĩa thì sẽ gặp nhiều điều tốt đẹp. Nên nhớ câu ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ”
Sau đó tôi còn xử tội nhiều tên khác. Tất cả chúng đều là lũ gian ác, độc địa, bất nhân. Đã trả qua biết bao đắng cay, khổ nhục tôi càng thấm thía cái lẽ đời: “ Hồng nhan bạc mệnh”. Nhưng thôi, giờ đây tôi đã đoàn tụ với cả nhà, có cha, có mẹ, có anh em, có người yêu chung thủy thì cuộc sống còn gì không hạnh phúc? Cuộc sống cũng có quy luật: “ Gặp nhiều tai ương rồi sẽ có được niềm hạnh phúc”.

2.Gần đây có một mụ mối muốn ngỏ ý viễn khách đến vấn danh Thúy Kiều.Có người vào vấn danh, ăn nói cộc lốc . Hỏi tên rằng Mã Giám Sinh, xưng là học trò trường Quốc Tự Giám ,quê ở huyện Lâm Thanh.Tuổi đã ngoài 40 nhưng tên họ Mã bề ngoài trông chải chuốt. Lúc đi gặp Kiều thì áo quần bảnh bao, mày râu nhẵn nhụi tưởng rãng làm vẻ thư sinh nhưng thực chất lại tố cáo sự lố bịch của mình. Mã Giám Sinh đi hỏi vợ còn đắt theo một bọn đầy tớ lao xao, ồn ào.Lúc bước vào lầu , mụ mối chưa kịp ngỏ lời mời thì hắn đã nhảy bộ lên ghế, ngồi một cách sỗ sang trông giống một lũ vô học.Mã ta thúc giục Kiều ra xem mặt.Nàng là con nhà gia giáo, nay lâm vào bước đường này, Kiều cảm thấy như da mặt dày hơn đầy nỗi nhục nhã,cứ mỗi bước đi là hai hàng lệ rơi của sự tủi nhục và xấu hổ.Kiều càng thấy khó chịu và buồn hơn trước những thái độ cử chỉ vô phép của tên họ Mã.Hắn ép nàng vén tóc, bắt tay,thử tài gảy đàn, ngâm thơ. Kiều lúc này trong ủ rũ, buồn rười rượi. Đến đây, Mã Giám Sinh đích thị trở thành con buôn chính hiệu,hắn ngả giá mua Kiều như một món hàng để tên họ Mã trao đổi chỉ ngoài 400.Cuộc đời Kiều sẽ bất hạnh hơn sau khi rơi vào tay Mã giám Sinh .Rồi số phận Thúy Kiều sẽ đi về đâu ????!:

Câu trả lời:

“Ước mơ” hai từ đơn giản, ngắn gọn nhưng chứa đựng biết bao khát vọng của mỗi người. Sống trên đời, ai cũng có một ước mơ cho riêng mình, dù ước mơ lớn hay bé thì đều đáng tôn trọng. Mỗi ước mơ là mục đích vươn lên trong cuộc sống của mỗi người, người biết mơ ước là người có nghị lực, có ý trí cầu tiến. Tại sao ai cũng có ước mơ? Đơn giản là họ muốn có một cuộc sống tốt đẹp sau này, hơn nữa là họ muốn làm giàu cho quê hương, đất nước. Em cũng vậy, em ước mơ trở thành hướng dẫn viên du lịch trong tương lai.

Sở dĩ em có ước mơ này là vì xã hội ngày càng phát triển, kèm theo đó là sự nâng cao về đời sống vật chất lẫn tinh thần, nhu cầu của con người cũng từ đó mà cao hơn. Em nhận thấy rằng du lịch là một ngành kinh tế khá phát triển, có nhiều tiềm năng, em thấy đây là một nghề phù hợp để mình có thể lo cho cuộc sống sau này. Lý do trên chỉ là lý do nhỏ trong nhiều lý do em hướng đến nghề này, lý do lớn nhất chính là tình yêu đất nước của em. Em muốn quảng bá hình ảnh tươi đẹp, truyền thống lịch sử vẻ vang và đức tính kiên cường, ý chí bất khuất và tinh thần mến khách, lòng thương người của Tổ quốc ta tới bạn bè năm châu. Em muốn những du khách khi đến với ViệtNamsẽ có những ấn tượng tốt đẹp và hơn nữa là em muốn hình ảnh đất nước ta sẽ in sâu trong họ. Còn gì hạnh phúc bằng khi được nói với bạn bè năm châu một cách tự hào rằng “ViệtNam, quê hương tôi đó”. Để làm được hướng dẫn viên du lịch, em nghĩ tài ăn nói phải rất tốt để người hướng dẫn viên có thể trổ hết tài năng của mình nói hết tất cả cái nét đẹp rất ViệtNam. Ngoài yếu tố trên, thì trình độ văn hóa, ngoại hình và lòng yêu nghề cũng là những yếu tố để hình thành nên một hướng dẫn viên du lịch thực thụ.

Ngành du lịch phát triển nên các hướng dẫn viên du lịch cũng được coi là các nhà kinh tế, thật tự hào biết bao khi được đứng vào hàng ngũ những hướng dẫn viên giúp ích cho Tổ quốc.

Làm nghề này em sẽ “được” rất nhiều điều, em sẽ được đi nhiều nơi, được tìm hiểu nhiều nền văn hóa, được tiếp xúc với nhiều người… Qua đó em sẽ có thêm nhiều kinh nghiệm cho bản thân, vốn kiến thức của em sẽ được nâng cao, em còn được trau dồi và phát huy rất nhiều kỹ năng như kỹ năng quản lý nhóm du khách, kỹ năng quản trò, tinh thần trách nhiệm, sự năng động, khéo léo và linh hoạt… Có thể nói hướng dẫn viên du lịch là một nghề rất có ích, góp phần xây dựng đất nước, hình thành nhân cách con người.

Ước mơ này đã được hình thành trong em từ sớm, ngay lần đầu tiên em bắt gặp cô hướng dẫn viên du lịch duyên dáng với bộ áo dài truyền thống em đã có ấn tượng với nghề này rồi, em bị cuốn hút bởi tài ăn nói lưu loát, sự hòa đồng và sự say mê mà em cảm nhận được tự cô ấy. Lúc mới có ước mơ này thì điều em muốn có trong ngành này là em được mặc đồ đẹp (vì là con gái nên mong muốn này không có gì là lạ, đúng không?) nhưng giờ đã lớn, em thấy điều đó chỉ là mong muốn nhỏ thôi, điều quan trọng là phải hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình chứ không phải được mặc đồ đẹp như em từng nghĩ. Giờ đây em chỉ muốn ngồi trên những chuyến xe rong ruổi khắp chiều dài của đất nước hình chữ S này, và rồi thỏa sức mà tìm hiểu các điều thú vị, phong tục riêng của từng vùng miền. Còn gì tuyệt vời hơn khi được ngắm nhìn, được thả hồn vào những đồng ruộng mênh mông, cò bay thẳng cách, những cách rừng xanh bạt ngàn, những hang động, núi non hùng vĩ hay những bờ cát bên bãi biển mênh mông? Trong những chuyến đi như vậy, chúng ta sẽ được sống hòa hợp với người dân từng vùng. Tình đồng bào sẽ khăng khít hơn… Ôi! Mới nghĩ đến thôi mà sao tình yêu quê hương của em lại bùng cháy mạnh mẽ hơn thế!

“… ViệtNamyêu dấu xanh xanh lũy tre

Suối đổ về sông, qua những nương chè

Dòng sông cuốn dồn về biển cả

Lứa thanh niên vui thỏa cuộc đời

Mùa xuân tới, nguồn sống dâng sục sôi

Đất nước tôi, ViệtNamsáng ngời…”

Mỗi lần nghe đâu đó vang lên những lời ca êm dịu, thắm thiết của bài hát “ViệtNamquê hương tôi” là em lại thấy rộn ràng tình yêu tổ quốc. Yêu Tổ quốc bao nhiêu thì ước mơ muốn trở thành một hướng dẫn viên du lịch trong em càng muốn nhanh trở thành hiện thực bấy nhiêu. Em muốn trở thành hướng dẫn viên du lịch thật nhanh để góp một phần nhỏ công sức của mình quảng bá hình ảnh đất nước ViệtNam.

Để đạt được ước mơ đó, điều đầu tiên em cần làm được là học tập thật tốt, tu bồi đạo đức và rèn luyện nhân cách, em sẽ phấn đấu để đạt được mơ ước của mình. Đóng góp công sức để phát triển đất nước cũng là mong muốn của em, hãy tin ở em, em sẽ làm được một cô hướng dẫn viên du lịch thực thụ trong tương lai.

Câu trả lời:

Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống. Và có lẽ vì thế nên mỗi bài thơ đều mang đến sự đồng điệu giữa cảm xúc của người đọc, người nghe và tâm hồn thi sĩ của tác giả. Đặc biệt, những bài thơ gắn liền với hình ảnh người lính trong hai thời kì kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ lại càng khiến chúng ta thêm yêu cuộc sống chiến đấu gian khổ của dân tộc hơn. Tuy nhiên, hình ảnh người lính mỗi thời kì lại có những nét tương đồng và khác biệt, nên những bài thơ trong mỗi thời kì cũng khắc hoạ hình ảnh hai người lính khác nhau, mà tiêu biểu là bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu và “bài thơ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật.

Sự khác biệt đầu tiên của họ là hoàn cảnh chiến đấu và xuất thân. Những vần thơ của bài “Đồng chí” được Chính Hữu dùng ngòi bút của mình viết nên vào tháng 5.1948. Đây là những năm tháng đầu tiên giặc Pháp quay trở lại xâm lược nước ta sau cách mạng tháng 8, nên cuộc sống vô cùng khó khăn vất vả, nhất là đối với hoàn cảnh thiếu thốn trăm bề ở chiến khu. Hiểu được nỗi đau của dân tộc, những người nông dân nghèo ở mọi nẻo đường đất nước đã bỏ lại sau lưng ruộng đồng, “bến nước gốc đa” để đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc.

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá.”

Khác với Chính Hữu, Phạm Tiến Duật – một nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước cho ra đời “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vào tháng 5.1969. Thời gian này là cột mốc đánh dấu cuộc kháng chiến của quân và dân ta đang trong thời khốc liệt nhất. Anh giải phóng quân bước vào chiến trường khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ ra đi khi vai còn vươn cánh phượng hồng, lòng còn phơi phới tuổi thanh xuân. Những anh hùng “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” ấy chẳng màng đến tương lai đang rộng mở đón chào, đôi chân họ bị níu chặt nơi mặt trận vì hai từ “yêu nước”.

Và vì hoàn cảnh, xuất thân khác nhau nên dẫn đến lí tưởng chiến đấu và ý thức giác ngộ cũng không tránh khỏi khác nhau. Trong bài “đồng chí", nhận thức về chiến tranh của người lính còn đơn giản, chưa sâu sắc. Họ chỉ biết chiến đấu để thoát khỏi ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, giành lại tự do, giành lại quyền làm người mà thôi. Trong tim họ, tình đồng chí đồng đội là món quà thiêng liêng, quý giá nhất mà họ nhận được trong suốt quãng thời gian dài cầm súng.

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ.

Đồng chí!”

Còn trong thời chống Mĩ, khái niệm về tinh thần yêu nước, thống nhất nước nhà đã khắc sâu vào tâm trí mỗi con người nơi chiến khu. Họ hiểu được điều ấy là vì giai đoạn này, khi miền Bắc đã đi vào công cuộc xây dựng CNXH thì miền Nam lại tiếp tục chịu đựng khó khăn bởi sự xâm lược của đế quốc Mĩ. Và “thống nhất” trở thành mục tiêu quan trọng hàng đầu của dân tộc ta. Trong trái tim chảy dòng máu đỏ của người Việt Nam, những người lính Trường Sơn mang trong mình tinh thần lạc quan, ý chí quyết thắng giải phóng miền Nam cùng tình đồng chí đã hình thành từ thời kháng chiến chống Pháp.

“Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

Chỉ cần trong xe có một trái tim.”

Thật thiếu sót nếu như so sánh hai bài thơ mà không nói về vẻ đẹp của chúng. “Đồng chí” là hiện thân của vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu sắc. Tình đồng chí được thể hiện thật tự nhiên hoà huyện trong tinh thần yêu nước mãnh liệt và chia sẻ giữa những người bạn với nhau. Còn “bài thơ về tiểu đội xe không kính” là sự khắc hoạ nổi bật của nét trẻ trung, tinh thần lạc quan, dũng cảm với tinh thần yêu thần yêu nước rừng rực cháy trong tim. Khát vọng và niềm tin của họ được gửi vào những chiếc xe không kính, thứ đưa họ vượt dãy Trường Sơn thẳng tiến vì miền Nam yêu dấu.

Thế nhưng, những người lính ấy, dù trong thời kì nào thì cũng có những nỗi nhớ không nguôi về quê nhà. Sống giữa chiến trường với tình đồng chí thiêng liêng, lòng những người nông dân bỗng quặng thắt mỗi khi hình ảnh mẹ già, vợ dại, con thơ hiện về. họ cảm thấy thật xót xa khi nghĩ đến ruộng đồng bỏ không cỏ dại, gian nhà trống vắng lại càng cô đơn.

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,

Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay,

Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính.”

Người lính chống Mĩ lại khác, nỗi nhớ của họ là sự vấn vươn nơi mái trường, là sự nuốc tiếc những trang vở còn tinh tươm. Họ buồn vì phải khép lại ước mơ rực rỡ trên hành trình đi đến tương lai. Nhưng họ hiểu rằng trách nhiệm với quê hương vẫn còn đó, nên họ quyết tâm chiến đấu hết mình. Họ biến con đường ra trận thành ngôi nhà chung gắn kết những trái tim vì tinh thần chống giặc ngoại xâm làm một.

“Bếp hoàng cầm ta dựng giữa trời,

Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy.”

Bàn về nghệ thuật của hai bài thơ, ta không khó để thấy rằng chúng có nét khác biệt tương đối rõ ràng. Chính Hữu dùng bút pháp lãng mạn, xây dựng trong thơ của mình biểu tượng nên thơ của tình đồng chí: “đầu súng trăng treo”. Cảm hứng dâng trào lên rồi lại lắng đọng trong tâm hồn, hoá thành hình ảnh của chiến đấu và hoà bình, mang đến cho đời một bài thơ đầy chất trữ tình nhưng cũng không kém phần hấp dẫn. Ngược lại, Phạm Tiến Duật xây dựng hình ảnh người lính bằng những gì có thực trong cuộc sống chiến đấu gần gũi nhất: “xe không kính”. Hình ảnh thơ này thật sự quá độc đáo, khiến người đọc nhiều lần ngỡ ngàng vì sự phá cách và nét đơn giản nhưng cũng ngập tràn chất thơ của “bài thơ về tiểu đội xe không kính”.

Nhưng dù khác nhau từ hoàn cảnh, xuất thân cho đến lí tưởng chiến đấu, họ vẫn cùng chung một mục tiêu duy nhất: chiến đấu vì hoà bình, độc lập, tự do của tổ quốc. Họ lấy quyết tâm làm nền tảng, tinh thần làm cơ sở để vững bước đến tương lai được dựng nên bởi tình đồng chí. Dù biết rằng trong cuộc chiến một sống một còn ấy, đã có không ít những người phải hi sinh, nhưng đó lại là động lực lớn hơn chắp cánh cho ước mơ của những người chiến sĩ bay xa, bay cao. Hình tượng người lính ở hai thời kì đều chất chứa những phẩm chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ mà chúng ta cần phải trân trọng và yêu quý.

Nói tóm lại, người lính mãi mãi là biểu tượng tươi đẹp và sinh động nhất của chiến tranh, dù là thời kì chống Pháp hay chống Mĩ. Họ hiện lên quá đỗi gần gũi và thân thương, với nghĩa tình đồng đội ấm áp đã, đang và sẽ mãi mãi ấp ủ trong trái tim. Họ là những cây xương rồng rắn rỏi, cố gắng vươn lên giữa xa mạc mênh mông khô cằn. Họ là ngọn đèn thắp sáng con đường của quê hương chúng ta, đưa đất nước đi đến hoà bình và phát triển như ngày hôm nay.

Câu trả lời:

MB Có những tác phẩm đọc xong, gấp sách lại là ta quên ngay, cho đến lúc xem lại ta mới chợt nhớ là mình đã đọc rồi. Nhưng cũng có những cuốn sách như dòng sông chảy qua tâm hồn ta để lại những ấn tượng chạm khắc trong tâm khảm.”Đồng chí” của Chính Hữu và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật là hai tác phẩm như thế! Hình tượng anh bộ đội được ghi lại trong hai bài thơ đã lưu giữ trong văn chương Việt Nam hai gương mặt đẹp, đáng yêu của người lính trong hai thời kỳ lịch sử.

TB Người lính trong bài thơ “Đồng chí” -> Người lính trong bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”-> Điểm giống và khác nhau về hình ảnh anh bộ đội trong hai bài thơ:
a. Người lính trong bài thơ “Đồng chí”:
* Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu thể hiện người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà vô cùng cao quí.
- Những người lính xuất thân từ nông dân, ở những miền quê nghèo khó “nước mặn đồng chua”,”đất cày lên sỏi đá”. Họ “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”.
- Họ đến với cuộc kháng chiến với tinh thần yêu nước thật giản dị: nghe theo tiếng gọi cứu nước mà tự nguyện lên đường. Phía sau họ là bao cảnh ngộ: xa nhà, xa quê hương, phó mặc nhà cửa, ruộng vườn cho vợ con để sống cuộc đời người lính. Chữ “mặc kệ” trong câu thơ “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” đã lột tả được tinh thần “mến nghĩa” của những người nghĩa binh nông dân trong thơ Nguyễn Đình Chiểu, tinh thần “Ra đi không vương thê nhi” của các đấng trượng phu xưa và tinh thần “Quyết tự cho Tổ quốc quyết sinh” của những người tự vệ Thủ đô những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Nhưng khi đặt cạnh hình ảnh “gian nhà không” và chữ “gió lung lay” thì có gì đó cảm động quá. Người lính không hoàn toàn “mặc kệ” như khẩu khí đâu. Đó là đức hi sinh. Hi sinh cho quê hương đất nước. Một đức hi sinh giản dị làm cảm động lòng người.
- Trải qua những ngày gian lao kháng chiến đã ngời lên phẩm chất anh hùng ở những người nông dân mặc áo lính hiền hậu ấy.
+ Cái nhìn hiện thực đã giúp nhà thơ ghi lại được những nét chân thực về cuộc đời đi chiến đấu của người lính. Hình ảnh họ lam lũ với “áo rách vai”, “quần có vài mảnh vá”, với”chân không giày". Đói,rét, gian khổ khắc nghiệt đã khiến người lính phải chịu đựng những cơn sốt rét:“miệng cười buốt giá”,”sốt run người”,”vừng trán ướt mồ hôi”. Trong hoàn cảnh đầy thử thách đó, sống được đã là kì tích. Chính Hữu còn ghi được hình ảnh người lính can trường vượt lên vững vàng trên vị trí của mình: “Đêm nay rừng hoang sương muối/Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
- Họ có một đời sống tình cảm đẹp đẽ, sâu sắc:
+ Lòng yêu quê hương và gia đình thể hiện qua nỗi nhớ “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”, niềm thương “gian nhà không”, qua ý thức về cảnh ngộ “quê hương anh nước mặn đồng chua” và “làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”.
+ Từ hiện thực cuộc sống gian lao thiếu thốn, họ vun đắp được tình đồng chí keo sơn, gắn bó. Không phải vô cớ Chính Hữu đặt tên bài thơ là “Đồng chí” và nhiều lần trong bài thơ hai tiếng ấy đã vang lên. Tình đồng chí, đồng đội như là sự hội tụ, tập trung tất cả những tình cảm, những phẩm chất của người lính: Lòng yêu thương giữa những con người cùng cảnh ngộ, tinh thần đồng cam cộng khổ, tinh thần kề vai sát cánh trong chiến đấu, sự gắn kết giữa những người cung chung lí tưởng, chung mục đích và ước mơ. Gian lao thử thách khiến tình đồng chí, đồng đội thêm keo sơn, sâu sắc. Ngược lại, tình đồng chí ấy lại giúp người lính có sức mạnh để vượt qua gian lao thử thách.
=> Hình ảnh người lính Cụ Hồ trong những ngày kháng chiến chống Pháp được Chính Hữu khắc họa trong tình đồng chí cao đẹp, tình cảm mới của thời đại cách mạng.
=> Họ được khắc họa và ngợi ca bằng cảm hứng hiện thực, bằng những chất thơ trong đời thường,được nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng nên vừa chân thực, mộc mạc, vừa gợi cảm lung linh.
b. Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính”:
* Nếu như những người lính trong thời kì kháng chiến chống Pháp xuất thân từ những người nông dân nghèo khổ, quê hương họ là những nơi “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” thì những chiến sĩ lái xe Trường Sơn lại là những thanh niên có học vấn, có tri thức, đã được sống trong thời bình, được giác ngộ lí tưởng cách mạng cao cả, họ ra đi trong niềm vui phơi phới của sức trẻ hồn nhiên, yêu đời, yêu đất nước.
- Hình ảnh người lính lái xe – hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam những năm chống Mỹ phơi phới, dũng cảm, yêu thương được khắc họa qua hình ảnh những chiếc xe không có kính và một giọng điệu thơ ngang tàn, trẻ trung, gần gũi.
- Những chiếc xe không có kính là hình ảnh để triển khai tứ thơ về tuổi trẻ thời chống Mỹ anh hùng. Đây là một thành công đặc sắc của Phạm Tiến Duật. Qua hình ảnh chiếc xe bị bom giặc tàn phá, nhà thơ làm hiện lên một hiện thực chiến trường ác liệt, dữ dội. Nhưng cũng “chính sự ác liệt ấy lại làm cái tứ, làm nền để nhà thơ ghi lại những khám phá của mình về những người lính, về tinh thần dũng cảm, hiên ngang, lòng yêu đời và sức mạnh tinh thần cao đẹp của lí tưởng sống chạy bỏng trong họ”. Phân tích các dẫn chứng: tư thế thật bình tĩnh, tự tin “Ung dung buồng lái ta ngồi”, rất hiên ngang, hào sảng “Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”. Một cái nhìn cuộc đời chiến đấu thật lãng mạn, bay bổng, trẻ trung: “Thấy sao trời và đột ngột cánh chim”. Và độc đáo hơn nữa là tinh thần hóa rủi thành may, biến những thách thức thành gia vị hấp dẫn cho cuộc đối đầu, khiến cho lòng yêu đời được nhận ra và miêu tả thật độc đáo: các câu thơ “ừ thì có bụi”,”ừ thì ướt áo” và thái độ coi nhẹ thiếu thốn gian nguy “gió vào xoa mắt đắng”. Họ đã lấy cái bất biến của lòng dũng cảm, thái độ hiên ngang để thắng cái vạn biến của chiến trường gian khổ và ác liệt.
- Sâu sắc hơn, nhà thơ bằng ống kính điện ảnh ghi lại được những khoảnh khắc “bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi”,”nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. Đó là khoảnh khắc người ta trao nhau và nhà thơ nhận ra sức mạnh của tình đồng đội, của sự sẻ chia giữa những con người cùng trong thử thách. Nó rất giống với ý của câu thơ “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay” của Chính Hữu, nhưng hồn nhiên hơn, trẻ trung hơn.
- Hai câu kết bài thơ làm sáng ngời tứ thơ “Xe vẫn chạy…” về tuổi trẻ Việt Nam thời chống Mỹ: Họ mang trong mình sức mạnh của tình yêu với miền Nam, với lí tưởng độc lập tự do và thống nhất đất nước.
c. Điểm giống và khác nhau về hình ảnh anh bộ đội trong hai bài thơ:
* Giống nhau:
+ Mục đích chiến đấu: Vì nền độc lập của dân tộc.
+ Đều có tinh thần vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.
+ Họ rất kiên cường, dũng cảm trong chiến đấu.
+ Họ có tình cảm đồng chí, đồng đội sâu nặng.
* Khác nhau:
+ Người lính trong bài thơ “Đồng chí” mamg vẻ đẹp chân chất, mộc mạc của người lính xuất thân từ nông dân.
+ Người lính trong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” luôn trẻ trung sôi nổi, vui nhộn với khí thế mới mang tinh thần thời đại.

KB Kết hợp giữa hiện thực hào hùng cùng cảm hứng lãng mạn cách mạng, hai bài thơ “Đồng chí” và “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” vang lên âm hưởng sử thi hào hùng của văn học nước ta trong suốt ba mươi năm kháng chiến trường kì gian khổ. Xưa kia, những người lính chống Pháp ra đi với “Giọt mồ hôi rơi trên má anh vàng nghệ - Anh vệ quốc quân ơi, sao mà yêu anh thế”, rồi những người lính trong kháng chiến chống Mĩ lên đường trong sự phấn khởi, với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Còn hôm nay, khi những người lính của thời hòa bình đang ngày đêm canh giữ ngoài đảo Trường Sa, bảo vệ bình yên cho đất nước, ta mới thấy vẻ đẹp cao vời vợi của những người lính. Trước đây, bây giờ và sau này, những người lính sẽ mãi là biểu tượng đẹp của dân tộc…