Tình sông núi

Nội dung lý thuyết

I. Tìm hiểu chung

1. Tác giả

Trần Mai Ninh (1917 - 1948) quê ở Hà Nội nhưng lớn lên ở Thanh Hoá. Thơ ông giàu tính cách tân, nóng bỏng tinh thần chiến đấu, tràn đầy niềm tin vào cách mạng và tương lai tươi sáng của đất nước, dân tộc.

2. Tác phẩm

In trong tập Thơ Việt Nam 1945 - 1975, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội, 1976.

II. Khám phá văn bản

1. Tìm hiểu chung văn bản

a. Đề tài: quê hương, đất nước.

b. Cảm hứng chủ đạo: Tình yêu sâu sắc và niềm tự hào đối với Tổ quốc và con người Việt Nam.

c. Thể thơ: tự do.

d. Bố cục: Bài thơ có thể được chia thành 3 đoạn như sau:

+ Đoạn 1 (từ đầu đến Diên Khánh xanh um): niềm hân hoan, phấn chấn của nhà thơ trước vẻ đẹp kì thú của non nước miền Nam Trung Bộ.

+ Đoạn 2 (từ ...Tôi lim dim cặp mắt đến Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng): sự lắng đọng trong cảm xúc của nhà thơ trước cảnh sống thanh bình do nhân dân lao động tạo nên qua lịch sử lâu dài.

+ Đoạn 3 (những câu thơ còn lại): suy ngẫm của nhà thơ về Tổ quốc đẹp tươi, gian lao và anh dũng với tư cách là thực thể “Trộn hoà lao động với giang sơn”.

2. Tìm hiểu tình cảm của tác giả dành cho Tổ quốc

-   Tình cảm sâu sắc và niềm tự hào được thể hiện từ sự ngợi ca vẻ đẹp trữ tình, thơ mộng; hùng vĩ, khoáng đạt của sông núi quê hương: Tác giả bắt đầu bài thơ bằng việc miêu tả các địa danh nổi tiếng của Việt Nam, từ sông Trà Khúc đến Nha Trang, với những từ ngữ như “nắng bột chen dừa", "gió buổn uốn éo", “mờ soi Bình Định trăng mò",... thể hiện vẻ đẹp gần gũi, nên thơ của các địa danh này.

-   Niềm say mê, tự hào trước vẻ đẹp trù phú của đất nước và cuộc sống cần lao của nhân dân: Tác giả miêu tả cuộc sống của người dân qua hình ảnh lao động hăng say, nơi “gầu nước gieo vàng" và “tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng". Những hình ảnh này thể hiện sự ấm áp, gần gũi của cộng đổng, sự gắn kết của con người với đất đai, thiên nhiên.

-   Niềm tự hào về tình cảm lớn dành cho đất nước: Phần kết của bài thơ đưa ra những câu hỏi tu từ được lặp lại, từ đó nhấn mạnh không có tình yêu nào vĩ đại và cao cả hơn tình yêu dành cho Tổ quốc. Đó là niềm tự hào dân tộc và tình cảm sâu sắc của tác giả đối với Tổ quốc.

-  Góc nhìn đưa lại cho tác giả những khám phá mới mẻ về đất nước: đất nước gắn liền với “lao động” (Trộn hoà lao động với giang sơn), tức là gắn liền với nhân dân, với tầng lớp cần lao đã đổ bao mổ hôi, xương máu để’ tạo lập, điểm tô, gìn giữ. Xét theo lịch sử phát triển của thơ trữ tình Việt Nam, đây là góc nhìn rất mới mẻ, chỉ xuất hiện từ khi trong ý thức xã hội hình thành một quan niệm mang tính cách mạng về vai trò của quần chúng nhân dân.

@9455665@

-   Cách tác giả tự bộc lộ mình trong bài thơ: xây dựng hình tượng “tôi” trong tư cách một đầu mối của mọi quan sát, liên hệ, suy ngẫm; sử dụng nhiều từ ngữ thể hiện trực tiếp quan điểm nhìn nhận, đánh giá về đối tượng quan sát, chiêm ngưỡng (buồn, rộng, lì, cao vun vút, vừa đẹp - vừa lành, dịu màu tươi, đẹp, giàu,...); dùng các câu hỏi tu từ để thể hiện vai trò dẫn dắt cảm xúc và định hướng suy nghĩ cho người đọc (Hỏi ai tới đó sao đành lòng đi?; Có mối tình nào hơn thế nữa?; Có mối tình nào hơn/ Tổ quốc?);... Qua cách tự bộc lộ mình như vậy, có thể thấy tác giả là người rất mực yêu quý vẻ đẹp của đất nước, hết sức kính trọng và biết ơn nhân dân, quan tâm tìm hiể’u cội nguổn sức sống của dân tộc.

-   Khi nói về những người con của đất nước, tầng lớp cần lao là đối tượng được tác giả đặt vào vị trí trung tâm. Mọi chi tiết, hình ảnh về hoạt động của con người đều được khai thác từ thực tế cuộc sống của tầng lớp này: lá thuyền, mái tranh, rẫy, vạn chài, tiếng thoi, Bắp căng như đồng/ Tay ghì cán cuốc/ Tay ghì tay xe,...Việc tập trung miêu tả, thể hiện hình ảnh những người cần lao.

III. Tổng kết

1. Nội dung

Bài thơ đã thể hiện những khám phá mới mẻ của tác giả về đất nước: đất nước gắn liền với “lao động”, tức là gắn liền với nhân dân, với tầng lớp cần lao đã đổ bao mổ hôi, xương máu để tạo lập, điểm tô, gìn giữ non sông.

2. Nghệ thuật

+ Việc sử dụng nhiều động từ làm cho bài thơ mang đậm tính vận động, không gây cảm giác tĩnh tại, xa vắng như nhiều bài thơ khác có chủ đề gần gũi trong thơ trung đại hoặc Thơ mới.

+ Sự xuất hiện của nhiều loại câu như câu kể (để kể, tả), câu cảm, câu hỏi khiến bài thơ có thể khuấy động được nhiều tầng bậc cảm xúc ở người đọc.

+ Bài thơ được viết theo thể tự do, các câu dài ngắn không đều, có sử dụng vần ở một số chỗ cần thiết (không theo mô hình cố định).

+ Nhịp điệu bài thơ rắn rỏi, mạnh mẽ, được tạo nên theo nhịp điệu của cảm xúc với những chỗ ngừng, ngắt hết sức linh hoạt.