Bài 2 : Dân số và sự gia tăng dân số

- Năm 2002, số dân nước ta là 79,7 triệu người đứng thứ 14 trên thế giới

- vào những năm 50 hiện tượng bùng nổ dân số ở nước ta bắt đầu tăng nhanh và chấm dứt vào những năm cuối thế kỷ 20

- năm 1999 tỉ lệ gia tăng tự nhiên giảm là 1,4% cả nước có sự khác nhau giữa các vùng

- Theo thống kê nước ta có mật độ dân số khoảng 246 người trên 1km2 là 1 nước có mật độ dân số cao trên thế giới

- Tuy tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm nhưng dân số nước ta vẫn tăng cao là vì :

+ dân cư nước ta tập trung không đồng đều

+ mỗi vùng lại có 1 tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên khác nhau

+ cơ cấu dân số nước ta không đồng đều

Bình luận (0)
Nguyễn Ngọc Lộc
15 tháng 11 2020 lúc 19:50

- Năm 2002, số dân nước ta là 79,7 triệu người đứng thứ 14 trên thế giới

- vào những năm 50 hiện tượng bùng nổ dân số ở nước ta bắt đầu tăng nhanh và chấm dứt vào những năm cuối thế kỷ 20

- năm 1999 tỉ lệ gia tăng tự nhiên giảm là 1,4% cả nước có sự khác nhau giữa các vùng

- Theo thống kê nước ta có mật độ dân số khoảng 246 người trên 1km2 là 1 nước có mật độ dân số cao trên thế giới

- Tuy tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên giảm nhưng dân số nước ta vẫn tăng cao là vì :

+ dân cư nước ta tập trung không đồng đều

+ mỗi vùng lại có 1 tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên khác nhau

+ cơ cấu dân số nước ta không đồng đều

Bình luận (0)
ĐỖ CHÍ DŨNG
29 tháng 9 2020 lúc 11:49

image

Bình luận (0)
ĐỖ CHÍ DŨNG
10 tháng 9 2020 lúc 21:34

Tại Mục II Pháp lệnh dân số năm 2003, có quy định về cơ cấu dân số như sau:

Điều 13. Điều chỉnh cơ cấu dân số

1. Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số nhằm bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, ngành nghề và các đặc trưng khác; bảo vệ và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát triển.

2. Việc điều chỉnh cơ cấu dân số được thực hiện thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương. Nhà nước có chính sách; cơ quan, tổ chức có biện pháp phát triển các dịch vụ xã hội phù hợp với cơ cấu dân số già trong tương lai.

Điều 14. Bảo đảm cơ cấu dân số hợp lý

1. Nhà nước có chính sách và biện pháp cần thiết ngăn chặn việc lựa chọn giới tính thai nhi để bảo đảm cân bằng giới tính theo quy luật sinh sản tự nhiên; điều chỉnh mức sinh nhằm tạo cơ cấu dân số hợp lý về giới tính, độ tuổi.

2. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, đào tạo ngành nghề, sử dụng lao động phù hợp với giới tính, độ tuổi, dân tộc và sự phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương.

3. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm xây dựng chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải bảo đảm sự cân đối về giới tính, độ tuổi, cơ cấu ngành nghề ở mỗi khu vực, vùng địa lý kinh tế và từng đơn vị hành chính.

Điều 15. Bảo vệ các dân tộc thiểu số

1. Nhà nước có chính sách, biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ về vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn bằng các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo và đáp ứng nhu cầu dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng dân số.

2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ các dân tộc thiểu số trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.

Bình luận (0)

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN

Loading...

Khoá học trên OLM của Đại học Sư phạm HN