Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
TRƯƠNG THÀNH AN
Xem chi tiết
Nguyễn Ngọc Gia Hân
13 tháng 10 lúc 22:35

Công cuộc khai phá vùng đất phía Nam :

- Năm 1558 , Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa

- Quá trình di dân , khai phá vùng đất phía Nam được các chúa Nguyễn đẩy mạnh

- Kế nghiệp Nguyễn Hoàng , các chúa Nguyễn tiếp tục xây dựng bộ máy chính quyền phong kiến ở Đàng Trong , củng cố việc phòng thủ vùng đất Thuận - Quảng (Tức Thuận Hóa - Quảng Trị) và thực hiện chính sách khai hoang , khai phá các vùng đất mới

- Đến năm 1757 , chúa Nguyễn hoàn thiện hệ thống chính quyền trên vùng đất Nam Bộ tương đương như ngày nay

Công cuộc thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :

- Hoạt động khai thác và xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn được thực hiện có tổ chức , hệ thống và liên tục

+ Biện pháp : Lập ra đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải

+ Nhiệm vụ : Khái thác tài nguyên biển , thu gom hàng hóa , kiểm soát , quản lí biển đảo ,....

+ Thời gian :Từ tháng 2 đến tháng 8 hằng năm

+ Quyền lợi : Được miễn hồn sưu và miễn tiền tuần đò

+ Ý nghĩa : Từng bước xác lập và khẳng định chủ quyền cho 2 quần đảo này

Có sai sót gì mong bạn thông cảm

tên ẩn
14 tháng 10 lúc 11:43

Môn: Lịch sử 8 Chủ đề: Vận dụng 1 (Trang 29) - Công cuộc khai phá vùng đất phía Nam và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Thế kỉ XVI - XVIII). Bằng các nguồn tư liệu lịch sử uy tín từ sách Đại Việt sử ký toàn thư, Phủ biên tạp lục và các tài liệu trên Internet, em xin trình bày tóm tắt hai nội dung cốt lõi sau: 1. Công cuộc khai phá vùng đất phía Nam: - Từ năm 1558, khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, cát cứ của chúa Nguyễn chính thức bắt đầu, mở đường cho dòng lưu dân Việt tiến về phía Nam. - Quá trình khai hoang: Các chúa Nguyễn tổ chức cho lưu dân khai khẩn đất hoang, lập làng xã mới tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, phát triển nông nghiệp, giao thương và ổn định đời sống. - Cột mốc hành chính: Năm 1698, Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý miền Nam, thành lập phủ Gia Định (gồm dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn), chính thức thiết lập hệ thống hành chính vững chắc của nước ta tại vùng đất Nam Bộ ngày nay. 2. Quá trình thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: - Việc thực thi chủ quyền được các chúa Nguyễn tổ chức một cách liên tục, hòa bình và có tính nhà nước thông qua hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. - Nhiệm vụ của Đội Hoàng Sa: Hằng năm, chúa Nguyễn tuyển chọn 70 suất binh phu từ xã An Vĩnh (Quảng Ngãi) đi thuyền ra quần đảo Hoàng Sa từ tháng 3 và trở về vào tháng 8. - Các hoạt động cụ thể: Đội Hoàng Sa và Bắc Hải thực hiện nhiệm vụ đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, thu lượm hải vật (sản vật, đồ đạc của các tàu bị đắm), cắm cột mốc và dựng miếu thờ để khẳng định chủ quyền. - Minh chứng tư liệu cổ: Cuốn sách "Phủ biên tạp lục" (1776) của nhà bác học Lê Quý Đôn đã ghi chép lại cực kỳ chi tiết về hoạt động, số lượng binh phu và các sản vật thu giữ được của Đội Hoàng Sa, khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam từ thế kỉ XVI - XVIII. Kết luận: Công cuộc khai phá đất đai và thực thi chủ quyền biển đảo của các chúa Nguyễn trong các thế kỉ XVI - XVIII là nền móng lịch sử và pháp lý vững chắc, toàn vẹn cho lãnh thổ đất nước Việt Nam ngày nay.

Xem chi tiết

phát triển các nhà máy xí nghiệp ạ

1: Trong giai đoạn khoảng 20 năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới(1919-1939), phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực Đông Nam Á đã có những điểm mới rõ rệt so với giai đoạn trước, cụ thể là:

-Sự xuất hiện của khuynh hướng cứu nước theo con đường vô sản, với sự ra đời của các Đảng Cộng Sản tại các quốc gia như Indonesia(1920), Việt Nam, Mã Lai, Xiêm, Phillippines năm 1930. Và sau đó thì khuynh hướng vô sản đã vươn lên trở thành khuynh hướng chính dẫn tới việc giải phóng dân tộc ở Việt Nam, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng thực hiện.

-Mục tiêu và hình thức đấu tranh phong phú hơn các thời kì trước: Trong giai đoạn này đã xuất hiện thêm nhiều hình thức đấu tranh khác, tức thay vì chỉ có bạo lực cách mạng như trước kia thì nay đã có thêm bãi công, bãi khóa, khởi nghĩa vũ trang (như khởi nghĩa Yên Bái ở Việt Nam, khởi nghĩa Indonesia giai đoạn 1926–1927) đến phong trào tẩy chay hàng ngoại hóa, đấu tranh nghị trường như ở Cảng Ba Son(1925)

-Quy mô và tính chất rộng lớn hơn trước: phong trào giải phóng dân tộc trong giai đoạn này không còn mang nhiều tính chất đơn lẻ, đơn độc, tự phát như trước mà đã dần dần chuyển sang đấu tranh tự giác, ví dụ như ở Việt Nam thì điều này đã xuất hiện sau cuộc bãi công của công nhân Ba Son(1925).

-Có sự kết nối với phong trào đấu tranh trên thế giới: Xuất hiện sự kết nối giữa phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á với phong trào công nhân quốc tế và Quốc tế Cộng sản.

2:

-Xuyên suốt từ năm 1858, các nước Đông Nam Á dần rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Duy nhất chỉ có mình Thái Lan là không rơi vào ách cai trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

-Chính sách cai trị của chủ nghĩa thực dân(Pháp, Anh, Mỹ, Tây Ban Nha) đã gây ra những hệ quả nặng nề cho các quốc gia Đông Nam Á, cụ thể là:

+Về mặt chính trị:

*Các quốc gia ĐNÁ đã bị tước đoạt chủ quyền dân tộc, bộ máy cai trị trong nước trở thành tay sai cho bộ máy cai trị của các nước đế quốc, ví dụ như nhà Nguyễn ở Việt Nam trở thành "tay sai đắc lực" cho thực dân Pháp

*Chính sách "chia để trị" làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, gây mất ổn định lâu dài tại nhiều quốc gia, mà trong đó Việt Nam là ví dụ điển hình. Đến giờ phút này, sau hơn 80 năm giành được độc lập rồi mà vẫn còn sự phân biệt vùng miền giữa ba miền Bắc-Trung-Nam với nhau, tất cả xuất phát từ chính sách chia để trị của thực dân Pháp trước kia

+Về mặt kinh tế:

*Kinh tế bị buộc chặt vào chính quốc, phát triển lệch lạc và mất cân đối. Mặc dù có xuất hiện những dấu hiệu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng chưa bao giờ các quốc gia thuộc địa có cơ hội phát triển được đến ngưỡng như vậy, một phần xuất phát từ việc các nước đế quốc cũng đã rút kinh nghiệm từ Cách mạng Mỹ(1776).

*Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ; nông nghiệp sa sút, công nghiệp nhẹ phát triển cầm chừng trong khi công nghiệp nặng bị hạn chế.

+Về mặt xã hội:

*Xã hội bị phân hóa sâu sắc; các giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) ra đời bên cạnh các giai cấp cũ (địa chủ, nông dân).

*Đời sống đa số nhân dân lao động lâm vào cảnh bần cùng hóa, bị bóc lột nặng nề.

*Về văn hóa-giáo dục:

*Các nước đế quốc đã thực thi chính sách ngu dân để dễ bề cai trị; làm xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống bản địa. Điển hình như ở Việt Nam thì theo thống kê, có đến hơn 90% dân số mù chữ vào năm 1945, tất cả là nhờ chính sách ngu dân của cả thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật sau này.

*Tỷ lệ mù chữ cao, các dịch vụ y tế và giáo dục tối thiểu bị coi nhẹ.

Xem chi tiết

Cô chào em, cảm ơn em đã chia sẻ bí quyết hay để học tập hiệu quả môn lịch sử, hoc24 thưởng em 20 000 đồng, tiền thưởng sẽ được trao bằng tk ngân hàng vào tuần sau.

Nguyễn Ngọc Gia Hân
25 tháng 7 lúc 11:54

Cảm ơn anh vì lời chia sẻ và lời khuyên

Xem chi tiết

A đúng nha anh!

Vì khi đó chỉ còn 1 cực duy nhất là Mỹ mà thôi

Đúng!

Lê Phương Thảo
7 tháng 7 lúc 13:37

A. Đúng

Xem chi tiết

Trào lưu này trước hết là cuộc đấu tranh công khai trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng của giai cấp tư sản đang lên nhằm chống lại giáo lý lỗi thời của Giáo hội Thiên Chúa giáo và chế độ phong kiến cát cứ. Thay vì hướng con người về thế giới thần linh mù quáng, văn minh Phục hưng đề cao Chủ nghĩa nhân văn (Humanism) — lấy con người làm trung tâm, tôn trọng phẩm giá, quyền tự do cá nhân và ca ngợi tình yêu cuộc sống trần thế. Đồng thời, đây cũng là thời kỳ mở đường cho sự phát triển rực rỡ của khoa học tự nhiên, nghệ thuật hiện thực và triết học duy vật, giải phóng tư tưởng con người khỏi sự kìm kẹp của đêm trường trung cổ.

​Sở dĩ nói văn minh Phục hưng đã sinh ra "những người khổng lồ" (như cách gọi của Friedrich Engels) là bởi vì thời đại này đã nhào nặn nên những vĩ nhân có sự phát triển toàn diện, xuất chúng đến mức kinh ngạc. Họ không chỉ là chuyên gia trong một lĩnh vực mà là những thiên tài đa năng như lê-ô-na đo đa vin-ci,... ​Họ "khổng lồ" không chỉ ở khối lượng tri thức khổng lồ, tầm vóc tư tưởng đi trước thời đại, mà còn ở ý chí mãnh liệt, năng lực sáng tạo vô biên và tinh thần dũng cảm, sẵn sàng đấu tranh vì chân lý khoa học và tiến bộ xã hội.

Xem chi tiết

Thắng lợi to lớn nhất, quan trọng nhất về ngoại giao của nhân dân Việt Nam trong giai đoạn 1951-1954 chính là việc Hiệp Định Giơ-Ne-Vơ được kí kết. Mặc dù sau đó hiệp định bị phá hoại bởi Mỹ và tay sai nhưng nó vẫn có những ảnh hưởng rất rõ nét đối với cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, cụ thể là:

-Buộc Pháp phải công nhân độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam

=>Đánh dấu lần đầu tiên trong lịch sử, các "ông lớn"(trong đó có Pháp) buộc phải cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của ba nước Đông Dương (bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ).

-Chấm dứt hoàn toàn ách thống trị kéo dài gần 1 thế kỷ của thực dân Pháp tại Đông Dương, trong đó có Việt Nam.

-Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo căn cứ địa vững chắc cho cả nước: Với việc lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tuyến quân sự tạm thời, quân ta đã tiếp quản và giải phóng hoàn toàn miền Bắc, với đỉnh cao là giải phóng Hà Nội(10-10-1954). Miền Bắc đã hoàn toàn sạch bóng quân thù, tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương lớn và vững chắc để tiếp tục chi viện cho tiền tuyến miền Nam sau này.

-Làm sụp đổ kế hoạch can thiệp của đế quốc Mỹ: THực tế Mỹ đã nhảy vào chiến trường Đông Dương từ 1949, ngay sau khi cách mạng Trung Quốc thành công vì lo ngại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản. Tuy nhiên thắng lợi tại chiến dịch Điện Biên Phủ(7-5-1954), đi kèm theo đó là việc hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết đã làm phá sản kế hoạch can thiệp nhằm giúp đỡ cho quân Pháp của Mỹ tại Đông Dương.

-Cổ vũ phong trào cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên thế giới: việc Việt Nam đánh bại được Pháp đã tạo nên nguồn động lực vô cùng to lớn cho các quốc gia thuộc địa khác, nhằm giúp họ có suy nghĩ rằng "Việt Nam đã làm được, thì mình cũng có thể làm được". Từ đó rất nhiều các phong trào cách mạng đã nổ ra trên khắp thế giới nhằm chống lại sự thống trị của chủ nghĩa thực dân, như Cuba(1959), các nước châu Phi(thập niên 1960, điển hình là Aigieria 1962).

Xem chi tiết

Thời gian

Sự kiện

tháng 6/1925

Hội Việt Nam cách mạng thanh niên ra đời

tháng 9/1929

Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn được thành lập, xuất phát từ sự phân hóa của tổ chức Tân Việt Cách Mạng Đảng

24/2/1930

Đông Dương Cộng sản Liên đoàn chính thức gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam, chính thức hoàn thành công cuộc sáp nhập 3 tổ chức cộng sản thành 1 chính thể duy nhất đại diện lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam

tháng 11/1940

Khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ nhằm chống lại gọng kìm Nhật-Pháp, nhưng không thành công

9/11/1946

Quốc hội khóa I chính thức thông qua hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

1/11/1968

Mĩ buộc phải tuyên bố chấm dứt ném bom miền Bắc vô điều kiện sau khi chịu rất nhiều tổn thất

16/4/1972

Tổng thống Mĩ Richard Nixon ra lệnh mở chiến dịch ném bom đánh phá miền Bắc lần 2

Tháng 9/1975

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 24 đề ra nhiệm vụ hoàn thành thống nhất đất nước về mặt nhà nước, sau khi đã thống nhất về mặt lãnh thổ trước đó vào tháng 4/1975

24/6/1976-3/7/1976

Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI nước Việt Nam thống nhất họp tại Hà Nội, quyết định một số những vấn đề quan trọng của quốc gia, như tên quốc gia(Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam), Quốc kì, quốc ca, thủ dô

5/3/1979

Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng ký sắc lệnh Tổng động viên toàn quốc để bảo vệ biên giới phía Bắc; cùng ngày, Trung Quốc tuyên bố rút quân khỏi biên giới phía Bắc nước ta


Xem chi tiết
Xem chi tiết

Thử sức trả lời phía dưới nha các em!

men tran
Xem chi tiết
Nguyễn Ngọc Gia Hân
9 tháng 5 lúc 20:37

Câu 1:

Các cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần Vương là:

- Khởi nghĩa Ba Đình

- Khởi nghĩa Bãi Sậy

- Khởi nghĩa Hương Khê

Khởi nghĩa tiêu biểu nhất là khởi nghĩa Hương Khê vì:

-Thời gian tồn tại lâu nhất: Khởi nghĩa kéo dài 11 năm (1885-1896),dài nhất trong phong trào Cần Vương

-Địa bàn hoạt động rộng lớn:Không chỉ bao hẹp ở một vùng địa phương mà lan rộng ra 4 tỉnh Bắc Trung Kì (Hà Tĩnh,Nghệ An,Quảng Bình cũ,Thanh Hóa)

-Trình độ tổ chức chặt chẽ , quy củ:

+ Khởi nghĩa được tổ chức chặt chẽ,thống nhât,không manh mún

+Khởi nghĩa chia thành 15 quân thứ,hoạt động phối hợp,mỗi quân thứ có từ 100 đến 500 người do Phan Đình Phùng và Cao tháng lãnh đạo

- Trang thiết bị vũ khí:

+ Cao Thắng đã nghiên cứu súng trường kiểu Pháp (Gras 1874) và tổ chức chế tạo thành cao súng trường kiểu mới cho nghĩa quân

+ Mắc dù còn thô sơ hơn Pháp,nhưng đây là bước tiến vượt bậc về trình đọ kĩ thuật quân sự của nghĩa quân so với các cuộc khởi nghĩa khác

(Mình làm được câu 1 thôi....)

Có gì sai sót mong bạn thông cảm