Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Xem chi tiết
Tềnh êu của Nguyễn Việt...
20 giờ trước (10:31)

phát triển các nhà máy xí nghiệp ạ

Nguyễn Lê Phước Thịnh
20 giờ trước (10:34)

1: Trong giai đoạn khoảng 20 năm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới(1919-1939), phong trào giải phóng dân tộc ở khu vực Đông Nam Á đã có những điểm mới rõ rệt so với giai đoạn trước, cụ thể là:

-Sự xuất hiện của khuynh hướng cứu nước theo con đường vô sản, với sự ra đời của các Đảng Cộng Sản tại các quốc gia như Indonesia(1920), Việt Nam, Mã Lai, Xiêm, Phillippines năm 1930. Và sau đó thì khuynh hướng vô sản đã vươn lên trở thành khuynh hướng chính dẫn tới việc giải phóng dân tộc ở Việt Nam, sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Bái do tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng thực hiện.

-Mục tiêu và hình thức đấu tranh phong phú hơn các thời kì trước: Trong giai đoạn này đã xuất hiện thêm nhiều hình thức đấu tranh khác, tức thay vì chỉ có bạo lực cách mạng như trước kia thì nay đã có thêm bãi công, bãi khóa, khởi nghĩa vũ trang (như khởi nghĩa Yên Bái ở Việt Nam, khởi nghĩa Indonesia giai đoạn 1926–1927) đến phong trào tẩy chay hàng ngoại hóa, đấu tranh nghị trường như ở Cảng Ba Son(1925)

-Quy mô và tính chất rộng lớn hơn trước: phong trào giải phóng dân tộc trong giai đoạn này không còn mang nhiều tính chất đơn lẻ, đơn độc, tự phát như trước mà đã dần dần chuyển sang đấu tranh tự giác, ví dụ như ở Việt Nam thì điều này đã xuất hiện sau cuộc bãi công của công nhân Ba Son(1925).

-Có sự kết nối với phong trào đấu tranh trên thế giới: Xuất hiện sự kết nối giữa phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á với phong trào công nhân quốc tế và Quốc tế Cộng sản.

2:

-Xuyên suốt từ năm 1858, các nước Đông Nam Á dần rơi vào ách thống trị của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Duy nhất chỉ có mình Thái Lan là không rơi vào ách cai trị của chủ nghĩa thực dân phương Tây.

-Chính sách cai trị của chủ nghĩa thực dân(Pháp, Anh, Mỹ, Tây Ban Nha) đã gây ra những hệ quả nặng nề cho các quốc gia Đông Nam Á, cụ thể là:

+Về mặt chính trị:

*Các quốc gia ĐNÁ đã bị tước đoạt chủ quyền dân tộc, bộ máy cai trị trong nước trở thành tay sai cho bộ máy cai trị của các nước đế quốc, ví dụ như nhà Nguyễn ở Việt Nam trở thành "tay sai đắc lực" cho thực dân Pháp

*Chính sách "chia để trị" làm sâu sắc thêm mâu thuẫn giữa các dân tộc, tôn giáo, gây mất ổn định lâu dài tại nhiều quốc gia, mà trong đó Việt Nam là ví dụ điển hình. Đến giờ phút này, sau hơn 80 năm giành được độc lập rồi mà vẫn còn sự phân biệt vùng miền giữa ba miền Bắc-Trung-Nam với nhau, tất cả xuất phát từ chính sách chia để trị của thực dân Pháp trước kia

+Về mặt kinh tế:

*Kinh tế bị buộc chặt vào chính quốc, phát triển lệch lạc và mất cân đối. Mặc dù có xuất hiện những dấu hiệu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng chưa bao giờ các quốc gia thuộc địa có cơ hội phát triển được đến ngưỡng như vậy, một phần xuất phát từ việc các nước đế quốc cũng đã rút kinh nghiệm từ Cách mạng Mỹ(1776).

*Tài nguyên thiên nhiên bị khai thác kiệt quệ; nông nghiệp sa sút, công nghiệp nhẹ phát triển cầm chừng trong khi công nghiệp nặng bị hạn chế.

+Về mặt xã hội:

*Xã hội bị phân hóa sâu sắc; các giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản) ra đời bên cạnh các giai cấp cũ (địa chủ, nông dân).

*Đời sống đa số nhân dân lao động lâm vào cảnh bần cùng hóa, bị bóc lột nặng nề.

*Về văn hóa-giáo dục:

*Các nước đế quốc đã thực thi chính sách ngu dân để dễ bề cai trị; làm xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống bản địa. Điển hình như ở Việt Nam thì theo thống kê, có đến hơn 90% dân số mù chữ vào năm 1945, tất cả là nhờ chính sách ngu dân của cả thực dân Pháp lẫn phát xít Nhật sau này.

*Tỷ lệ mù chữ cao, các dịch vụ y tế và giáo dục tối thiểu bị coi nhẹ.

Nguyễn Minh Chiến
Xem chi tiết

Bài 3:

a: Trong mp(ABCD), gọi I là giao điểm của AD và BC

I∈AD⊂(SAD); I∈BC⊂(SBC)

=>I∈(SAD) giao (SBC)(1)

S∈(SAD); S∈(SBC)

Do đó: S∈(SAD) giao (SBC)(2)

Từ (1),(2) suy ra (SAD) giao (SBC)=SI

b: Trong mp(ABCD), gọi O là giao điểm của AC và BD

O∈AC⊂(SAC); O∈BD⊂(SBD)

Do đó: O∈(SAC) giao (SBD)(3)

S∈(SAC); S∈(SBD)

Do đó: S∈(SAC) giao (SBD)(4)

Từ (3),(4) suy ra (SAC) giao (SBD)=SO

Câu 5:

a: Trong mp(ABCD), gọi O là giao điểm của AC và BD

O∈AC⊂(SAC); O∈BD⊂(SBD)

Do đó: O∈(SAC) giao (SBD)(1)

S∈(SAC); S∈(SBD)

Do đó: S∈(SAC) giao (SBD)(2)

Từ (1),(2) suy ra (SAC) giao (SBD)=SO

b: M∈SA⊂(SAC); M∈(MBD)

Do đó: M∈(SAC) giao (MBD)(3)

O∈AC⊂(SAC); O∈BD⊂(MBD)

Do đó: O∈(SAC) giao (MBD)(4)

Từ (3),(4) suy ra (SAC) giao (MBD)=MO

c: trong mp(ABCD), gọi I là giao điểm của BC và AD

M∈SA⊂(SAD); M∈(MBC)

Do đó: M∈(SAD) giao (MBC)(5)

I∈BC⊂(MBC); I∈AD⊂(SAD)

Do đó: I∈(MBC) giao (SAD)(6)

Từ (5),(6) suy ra (SAD) giao (MBC)=MI

d: Trong mp(ABCD), gọi X là giao điểm của AB và CD

X∈AB⊂(SAB); X∈CD⊂(SCD)

Do đó: X∈(SAB) giao (SCD)(7)

S∈(SAB); S∈(SCD)

Do đó: S∈(SAB) giao (SCD)(8)

Từ (7),(8) suy ra (SAB) giao (SCD)=SX

Thanh Trọng
Xem chi tiết
Doãn Hải Minh
16 tháng 8 lúc 16:38

a, Ta có: \(S \in (SAD) \cap (SBC)\)

Trong mặt phẳng đáy \((ABCD)\), gọi \(E = AD \cap BC\)

Khi đó:

+) \(E \in AD \subset (SAD)\)

+) \(E \in BC \subset (SBC)\)

+) \(\Rightarrow E\in(SAD)\cap(SBC)\)

Vậy giao tuyến của \((SAD)\)\((SBC)\) là đường thẳng \(SE\) .

b, Trong mặt phẳng\((SAD)\), gọi \(I = SE \cap SD\)

Tìm giao tuyến của \(SAD\)\(BCM\)

Điểm \(M \in SA \subset (SAD)\)\(M \in (BCM) \Rightarrow M \in (SAD) \cap (BCM)\)

Điểm \(E \in AD \subset (SAD)\)\(E \in BC \subset (BCM) \Rightarrow E \in (SAD) \cap (BCM)\).

Do đó, \((SAD) \cap (BCM) = ME\)

Trong mặt phẳng\((SAD)\), gọi \(I = ME \cap SD\)

Khi đó: \(I \in SD\)\(I \in ME \subset (BCM) \Rightarrow I = SD \cap (BCM)\)

Tính tỉ số \(\frac{SI}{SD}\)

Xét hình thang \(ABCD\)\(AB \parallel CD\)\(AB = 2CD\)

Do \(CD \parallel AB\), theo định lý Ta-lét trong \(\triangle EAB\) :

\(\frac{ED}{EA} = \frac{EC}{EB} = \frac{CD}{AB} = \frac{1}{2}\)

\(\Longrightarrow\) \(D\) là trung điểm của \(AE\) \(\left(AD=DE\right)\)

Áp dụng định lý Menelaus cho \(\triangle SAD\) với đường thẳng \(M-I-E\) cắt ba cạnh/đường kéo dài (\(SA,SD,AE\)):

\(\frac{MS}{MA} \cdot \frac{EA}{ED} \cdot \frac{ID}{IS} = 1\)

Theo giả thiết \(MA = 2MS \Rightarrow \frac{MS}{MA} = \frac{1}{2}\)

Do D là trung điểm \(AE \Rightarrow \frac{EA}{ED} = 2\)

Thay vào công thức Menelaus:

\(\frac{1}{2} \cdot 2 \cdot \frac{ID}{IS} = 1 \implies \frac{ID}{IS} = 1 \implies IS = ID\)

Do đó, \(I\) là trung điểm của \(SD\) , suy ra:

\(\frac{SI}{SD} = \frac{1}{2}\)

c, Lần lượt tìm giao tuyến của \(MBC\) với các mặt của hình chóp:

\((MBC) \cap (SAB) = MB\)

\((MBC) \cap (ABCD) = BC\)

\((MBC) \cap (SCD) = CI\) (vì \(I \in SD \subset (SCD)\)\(C, I \in (MBC)\) )

\((MBC) \cap (SAD) = MI\)

Nối các giao tuyến lại, ta thu được thiết diện là tứ giác \(MBCI\) .


Thanh Trọng
Xem chi tiết
Xem chi tiết
người hướng nội
29 tháng 7 lúc 21:32

D . thép

thép là hợp chất của carbon và sắt nên thép có độ cứng và độ bền cao . Thép cũng có khả năng chống mài mòn và chịu đc nhiệt độ cao

Xem chi tiết
Nguyễn  Việt Dũng
26 tháng 7 lúc 22:42

Cơ cấu trục vít – đai ốc hoạt động dựa trên mối ghép ren. Khi trục vít thực hiện chuyển động quay, các ren của nó tác dụng lực lên ren của đai ốc làm cho đai ốc di chuyển dọc theo chiều dài của trục vít, tạo thành chuyển động tịnh tiến (hoặc ngược lại).

Đáp án đúng là C. TRỤC VÍT – ĐAI ỐC.

min123
Xem chi tiết

Gọi số mol ban đầu của $N_2,\ H_2$ trong hỗn hợp $X$ lần lượt là $a,\ b$.

Ta có $d_{X/H_2}=3,6\Rightarrow M_X=7,2.$

Suy ra $\dfrac{28a+2b}{a+b}=7,2$

$\Leftrightarrow 28a+2b=7,2a+7,2b$

$\Leftrightarrow 20,8a=5,2b$

$\Leftrightarrow b=4a.$

Vậy tỉ lệ mol ban đầu là $N_2:H_2=1:4.$

Đặt ban đầu có $1$ mol $N_2$ và $4$ mol $H_2$.

Phản ứng: $N_2+3H_2\rightarrow2NH_3.$

Gọi $x$ mol $N_2$ đã phản ứng.

Sau phản ứng:

$N_2:1-x;$

$H_2:4-3x;$

$NH_3:2x.$

Tổng số mol sau phản ứng: $n_Y=1-x+4-3x+2x=5-2x.$

Khối lượng hỗn hợp không đổi: $m_Y=28+8=36\text{ g}.$

Lại có $d_{Y/H_2}=4\Rightarrow M_Y=8.$

Suy ra $\dfrac{36}{5-2x}=8$

$\Leftrightarrow5-2x=4,5$

$\Leftrightarrow x=0,25.$

Do đó $n_{NH_3}=2x=0,5\text{ mol}.$

Vậy từ $5$ mol hỗn hợp $X$ thu được $0,5$ mol $NH_3$.

Hay $1$ mol hỗn hợp $X$ tạo được $0,1$ mol $NH_3.$

Phản ứng điều chế ure: $2NH_3+CO_2\rightarrow(NH_2)_2CO+H_2O.$

Khối lượng ure cần thu là $m=4\text{ tấn}=4\times10^6\text{ g}.$

Số mol ure thực tế:

$n_{\text{ure}}=\dfrac{4\times10^6}{60}=66666,\overline6\text{ mol}.$

Hiệu suất $80\%$ nên lượng ure theo lí thuyết là

$n=\dfrac{66666,\overline6}{0,8}=83333,\overline3\text{ mol}.$

Số mol $NH_3$ cần: $n_{NH_3}=2\times83333,\overline3=166666,\overline6\text{ mol}.$

Số mol hỗn hợp $X$ cần: $n_X=\dfrac{166666,\overline6}{0,1}=1666666,\overline6\text{ mol}.$

Khối lượng mol trung bình của $X$ là $M_X=7,2\text{ g/mol}.$

Khối lượng hỗn hợp $X$:

$m_X=1666666,\overline6\times7,2=12000000\text{ g}$$=12\text{ tấn}.$

Vậy cần $12$ tấn hỗn hợp $X.$

Ẩn danh

Ta có

tan(π/4 - x) = tan2x

Điều kiện:

x ≠ -π/4 + kπ, x ≠ π/4 + kπ/2, k ∈ Z

Vì tanA = tanB nên

π/4 - x = 2x + kπ, k ∈ Z

⇔ 3x = π/4 - kπ

⇔ x = π/12 - kπ/3

Hay viết tương đương

x = π/12 + kπ/3, k ∈ Z

Đáp số:

x = π/12 + kπ/3, k ∈ Z.

Giải thích: Hai giá trị của hàm tan bằng nhau khi các góc hơn kém nhau một bội của π. Các nghiệm trên đều thỏa điều kiện xác định.

Để giá trị của các hàm số \(y=\tan\left(\frac{\pi}{4}-x\right);y=\tan2x\) bằng nhau thì ta có:

\(2x=\frac{\pi}{4}-x+k\pi\)

=>\(3x=\frac{\pi}{4}+k\pi\)

=>\(x=\frac{\pi}{12}+\frac{k\pi}{3}\) (k∈Z)