Bạn chưa đăng nhập. Vui lòng đăng nhập để hỏi bài
Xem chi tiết

Đây là lưu ý tối quan trọng cho các bạn học sinh 12 nhé! Các bạn chú ý hí!

Ẩn danh
Xem chi tiết
Xem chi tiết
Khôi Nguyễn
28 tháng 2 lúc 11:46

-khi đập sả dập thì mùi hương của sả lại nhiều hơn khi cắt bình thường vì:

+Trong tế bào của sả có chứa tinh dầu thơm (chủ yếu ở không bào và các túi tiết tinh dầu).

+Khi ta cắt bình thường, số tế bào bị phá vỡ ít → tinh dầu thoát ra ngoài ít → mùi thơm nhẹ hơn.

+Khi ta đập dập, nhiều tế bào bị phá vỡ hơn → màng tế bào và không bào bị vỡ → tinh dầu thoát ra nhiều hơn → mùi thơm mạnh hơn.


Gia Hân
28 tháng 2 lúc 13:12

Khi ta đập dập cây sả thay vì chỉ cắt nhỏ, mùi hương tỏa ra mạnh hơn là do đặc điểm sinh học của sả: 🌿 Tinh dầu trong sả (chủ yếu là citral, geraniol, myrcene…) nằm trong các túi, ống tiết và mô thực vật. Khi cắt nhỏ, ta chỉ tạo ra vài bề mặt tiếp xúc, tinh dầu thoát ra ít. Nhưng khi đập dập, lực cơ học phá vỡ nhiều tế bào và ống chứa tinh dầu, làm tinh dầu thoát ra nhiều hơn, dễ bay hơi vào không khí. Chính vì vậy, mùi thơm của sả trở nên nồng nàn và rõ rệt hơn. Trong nấu ăn, việc đập dập sả không chỉ giúp tăng hương thơm mà còn làm cho tinh dầu dễ hòa tan vào món ăn, tạo vị đặc trưng.

Gia Hân
28 tháng 2 lúc 19:43

Có thể giải thích hiện tượng này bằng hai cách chính dựa trên kiến thức sinh học và hóa học của cây sả 🌿: 1. Góc nhìn sinh học tế bào Trong tế bào sả có chứa tinh dầu thơm (citral, geraniol, myrcene…) nằm trong không bào và các túi tiết tinh dầu. Khi cắt nhỏ, chỉ một số ít tế bào bị phá vỡ → lượng tinh dầu thoát ra ít → mùi hương nhẹ. Khi đập dập, lực cơ học phá vỡ nhiều tế bào và ống chứa tinh dầu → tinh dầu thoát ra nhiều hơn → mùi hương mạnh hơn. 2. Góc nhìn hóa học – sự bay hơi Tinh dầu là hợp chất dễ bay hơi. Khi đập dập, diện tích tiếp xúc và mức độ phá vỡ cấu trúc tăng lên → tinh dầu thoát ra ngoài nhiều hơn và nhanh hơn. Nhờ đó, hương thơm khuếch tán mạnh vào không khí và dễ hòa tan vào món ăn, tạo vị đặc trưng. 👉 Vậy có 2 cách lý giải: Sinh học tế bào (nhiều tế bào bị phá vỡ). Hóa học bay hơi (tinh dầu thoát ra và khuếch tán mạnh hơn).

Ẩn danh
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
31 tháng 12 2025 lúc 21:02

Xác suất để con sinh ra là con gái là 1/2 (50%). Bố mang kiểu gen Aa có 50% giao tử mang allele a, mẹ mang aa nên tất cả giao tử mang a. Lai Aa × aa → 1/2 con Aa (khỏ bệnh) và 1/2 con aa (mắc bệnh). Do đó khả năng con đầu lòng vừa là con gái và bị thalassemia (kiểu gen aa) là: 1/2 × 1/2 = 1/4 = 25%.

An Hoang
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
19 tháng 12 2025 lúc 14:19

Trong phép lai 1, kết quả cho tỉ lệ 1 cây cao : 1 cây thấp chứng tỏ cây lúa cao tham gia phép lai là dị hợp tử Aa, lai với cây lúa thân thấp thuần chủng aa. Tính trạng thân cao trội hoàn toàn so với thân thấp. Ở phép lai 2, cả bố và mẹ đều là cây thân thấp và đời con thu được toàn thân thấp, nên cả C và D đều có kiểu gen đồng hợp lặn aa. Ở phép lai 3, lai hai cây thân cao thu được toàn cây thân cao, chứng tỏ cả E và F đều mang alen trội, có thể là AA hoặc Aa nhưng không mang alen lặn. Như vậy, thân cao là tính trạng trội so với thân thấp. Kiểu gen của các cây bố mẹ: A: Aa; B: aa; C: aa; D: aa; E: AA hoặc Aa; F: AA hoặc Aa.

hung cao
Xem chi tiết

Ta phân tích tỉ lệ F2, tách từng cặp tính trạng:

- Màu sắc quả: Quả đỏ / quả vàng = (9+3) / (3+1) = 3:1

- Hình dạng quả: Tròn/Bầu dục = (9+3)/(3+1)=3:1

=> Quả đỏ trội so với quả vàng, quả tròn trội so với quả bầu dục.

Ta thấy: (3:1) . (3:1) = 9:3:3:1 (Khớp với tỉ lệ đề)

=> Tuân theo QL PLĐL của Mendel

Quy ước: Quả đỏ A >> a Quả vàng; Quả tròn B >> b quả bầu dục

Lại có: 9+3+3+1=16 = 4 x 4

=> F1 cho 4 giao tử (dị hợp 2 cặp gen) => F1: AaBb

=> F1 đồng nhất 1 loại kiểu hình nên P thuần chủng.

=> P: Vàng, tròn (aaBB) x Đỏ, bầu dục (AAbb)

=> Chọn B

Ẩn danh
Quoc Tran Anh Le
16 tháng 12 2025 lúc 17:28

Trong điều kiện lai, cây đậu thân cao có thể mang kiểu gen AA hoặc Aa (vì allel A quy định thân cao, a quy định thân thấp). Trong phép lai Aa × Aa, tỉ lệ cây thân cao thu được là 3/4, bao gồm 1/3 AA và 2/3 Aa. Như vậy khi chọn ngẫu nhiên 3 cây đậu thân cao và cho tự thụ phấn: - Cây AA tự thụ phấn cho 100 % đời con thân cao. - Cây Aa tự thụ phấn cho đời con phân li 3 thân cao : 1 thân thấp. Khi tính trung bình cho 3 cây thân cao (mỗi cây có 1/3 khả năng là AA và 2/3 là Aa), tỉ lệ kiểu hình đời con sẽ là 5 thân cao : 1 thấp.

nguyễn thị quỳnh như
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
24 tháng 11 2025 lúc 13:24

Quy ước kiểu gen Quả đỏ trội so với quả vàng: Đỏ: A Vàng:

a Cây thuần chủng: Đỏ thuần: AA Vàng thuần: aa F1 AA × aa → 100% Aa (quả đỏ) F2 Aa × Aa → đời con: 1 AA : 2 Aa : 1 aa → Tỉ lệ kiểu hình: 3 đỏ : 1 vàng. a. Cách chọn cây quả đỏ thuần chủng ở F2 Chỉ cây AA là đỏ thuần chủng. Muốn chọn đúng cây AA, ta làm: Cho từng cây quả đỏ F2 tự thụ phấn: Nếu sinh ra 100% quả đỏ → cây mẹ là AA (thuần chủng). Nếu sinh ra tỉ lệ 3 đỏ : 1 vàng → cây mẹ là Aa (không thuần chủng).

b. Nếu cho các cây quả vàng giao phấn với nhau? Quả vàng có kiểu gen aa. aa × aa → 100% aa (quả vàng). Kết quả: 100% quả vàng.

Jenny Huynh
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
8 tháng 11 2025 lúc 15:59

a) Mạch khuôn 3' – C G C G A T A A C C G T A C G – 5' tạo ra mARN theo chiều 5' → 3' và bổ sung với mạch khuôn theo quy tắc bổ sung (A ghép U, T ghép A, G ghép C). Trên mARN sẽ có trình tự: 5' ‑ G C G C U A U U G G C A U G C – 3'.

b) Quá trình tổng hợp mARN tuân theo nguyên tắc bổ sung (A ‑ U, T ‑ A, G ‑ C) và diễn ra theo chiều 5' → 3' trên mạch khuôn; mỗi mạch ADN chỉ làm khuôn một lần (bán bảo tồn).

c) Phân tử ADN gồm 3000 nuclêôtit, trong đó 20% là A. Theo quy tắc bổ sung, số A = T = 20% × 3000 = 600 nuclêôtit. Phần còn lại 60% là G và X (Xytôzin) và gốm 1800 nuclêôtit; do G = X = 900. Vậy trong phân tử này có A = 600, T = 600, G = 900 và X = 900.

Aries Malfoy
22 tháng 12 2025 lúc 0:21

a. Trình tự phân tử mRNA sẽ có trình tự như sau: 

Mạch gốc DNA: 3’–G–C–G–A–T–A–A–C–C–G–T–A–C–G– 5’

Mạch mRNA: 5’–C–G–C–U–A–U–U–G–G–C–A–U–G–C– 3’

 b. Quá trình tổng hợp (nhân đôi) DNA được thực hiện dựa trên 2 nguyên tắc chính: 

+Nguyên tắc bổ sung: Các nucleotide trên mạch khuôn liên kết với các nucleotide tự do trong môi trường nội bào theo cặp (A-T), (G-C) để hình thành mạch mới.

+Nguyên tắc bán bảo tồn (giữ lại một nửa): Trong mỗi phân tử DNA con được tạo thành, có một mạch là của DNA mẹ ban đầu và một mạch mới được tổng hợp. 

c. Theo bài ra, tổng số nucleotide của phân tử DNA là

N=3.000.

 Số Nu loại A chiếm 20%:

A=T=20%x 3.000=600(Nu)

Theo nguyên tắc bổ sung, ta có

%A+%G=50%

-->phần trăm loại G là:

%G=%C=50%-20%=30%

-->Số Nu loại G và C là:

G=C=30%x 3.000=900(Nu)

 Kết quả: A=T=600 nucleotide; G=C=900 nucleotide.

bài này nên học chắc lại kiến thức nha bạn ơi :)))) thi Sinh là chắc chắn có đóaaa

LƯƠNG VIỆT
Xem chi tiết
Thân Khánh Linh
6 tháng 10 2025 lúc 9:26

Em mới học lớp 8 thôi

Deadlove
6 tháng 10 2025 lúc 17:58

Động vật có xương sống rất đa dạng, được chia thành 5 lớp chính:

🐟 1. Lớp Cá Sống chủ yếu ở dưới nước. Thở bằng mang. Di chuyển bằng vây. Thân có vảy bao phủ, là loài biến nhiệt (nhiệt độ cơ thể thay đổi theo môi trường). Ví dụ: cá chép, cá rô, cá mập, cá ngừ.

🐸 2. Lớp Lưỡng cư (Ếch nhái) Sống được cả ở nước và trên cạn. Da trơn, ẩm, không có vảy. Ấu trùng (nòng nọc) sống dưới nước, thở bằng mang; con trưởng thành thở bằng phổi và da. Ví dụ: ếch, nhái, cóc.

🐍 3. Lớp Bò sát Sống chủ yếu trên cạn. Da khô, có vảy sừng. Thở bằng phổi. Là động vật biến nhiệt. Ví dụ: rắn, thằn lằn, rùa, cá sấu.

🐦 4. Lớp Chim Cơ thể có lông vũ bao phủ. Có cánh và di chuyển chủ yếu bằng cách bay (một số loài không bay được). Tim có 4 ngăn, thân nhiệt ổn định (đồng nhiệt). Ví dụ: chim sẻ, đại bàng, vịt, gà.

🐕 5. Lớp Thú Là động vật bậc cao nhất trong nhóm có xương sống. Thân có lông mao, có tuyến sữa nuôi con. Thở bằng phổi, tim 4 ngăn, nhiệt độ cơ thể ổn định. Ví dụ: chó, mèo, voi, người.

Cho mik xin 1 tick a

Uyên Nguyễn
Xem chi tiết
Quoc Tran Anh Le
28 tháng 10 2025 lúc 12:21

Trong loài cây này, A quy định thân cao trội hoàn toàn so với a quy định thân thấp; B quy định hoa đỏ trội hoàn toàn so với b quy định hoa trắng. Các gen phân li độc lập. Tỷ lệ cây F1 theo kiểu hình là 1200 thân cao, hoa đỏ : 150 thân cao, hoa trắng : 200 thân thấp, hoa đỏ : 50 thân thấp, hoa trắng (tương đương tỷ lệ 24 : 3 : 4 : 1). Ta có thể phân tích từng gen: • Xét gen A: số cây thân cao F1 là 1350, thấp là 250, tỷ lệ 27 : 5. Gời x là tỷ lệ cây AA trong quần P, (1 – x) là tỷ lệ cây Aa. Khi tự thụ phấn, cây AA cho 100 % thân cao, cây Aa cho tỷ lệ 3 – 1 thấp. Thiết lập phương trìn h (3 + x)/(1 ‑ x) = 27/5 suy ra x = 3/8. Như vậy trong quần P có 3/8 cây AA và 5/8 cây Aa. • Xét gen B: số cây hoa đỏ F1 là 1400, hoa trắng là 200, tỷ lệ 7 : 1. Gời y là tỷ lệ cây BB trong quần P, (1 – y) là tỷ lệ cây Bb. Khi tự thụ phấn, cây BB cho 100 % hoa đỏ, cây Bb cho tỷ lệ 3 – 1 hoa trắng. Giải phương trìn (3 + y)/(1 ‑ y) = 7/1 suy ra y = 1/2. Như vậy trong quần P có 1/2 cây BB và 1/2 cây Bb. Vì hai cặp gen phân li độc lập, kiểu gen của quần P (thân cao, hoa đỏ) gồm bốn loại với tỷ lệ: - 3/16 cây AA BB (thuần chủng về cả hai gen); - 3/16 cây AA Bb; - 5/16 cây Aa BB; - 5/16 cây Aa Bb. Khi tự thụ phấn từng kiểu gen theo tỷ lệ như trên và gộp kết quả, ta thu được F1 có tỷ lệ kiểu hình 24 cây thân cao, hoa đỏ : 3 cây thân cao, hoa trắng : 4 cây thấp, hoa đỏ : 1 cây thấp, hoa trắng (như bạng quan sát). Nếu chọn các cây F1 giao phối ngẦu nhiên với nhau, tỷ lệ cây thấp, hoa trắng ở F2 sẽ bằng (1/4 × 1/4) = 1/16 mỗi lần lai giữa hai kiểu gen Aa Bb; tuy nhiên do quần F1 có nhiều kiểu gen khác nhau, tỷ lệ cây thấp, hoa trắng F2 thực tế sẽ là 1/32 (tương đồng với 50/1600), theo kết quả đã tính được ỡ phân tích trên.